Tội ác chiến tranh
Tuy tuyên bố trên vấp phải những phản ứng trái chiều từ phía Nga, nhưng có một sự thật, như Liên hợp quốc khẳng định, đó là trong hơn 150 năm qua, bất chấp những cam kết pháp lý và bài học lịch sử, các bên tham chiến đã vi phạm các quy tắc chiến tranh, luật nhân đạo quốc tế, coi thường mạng sống của thường dân... Mặc dù trong những năm qua, đối tượng gây ra tội ác chiến tranh phải đền tội, nhưng chủ thể liên quan tới các cuộc xung đột vẫn cố tình chỉ đạo hoặc trực tiếp thực hiện các cuộc tấn công thường dân, sử dụng các loại vũ khí bị cấm như vũ khí hóa học, bom chùm và mìn sát thương, thậm chí sử dụng “lá chắn sống” hoặc tra tấn, bắt giữ con tin và bạo lực tinh thần... Để chấm dứt những đau thương, mất mát do tội ác chiến tranh gây ra, bên cạnh việc tăng cường điều tra, truy tố và xét xử, điều quan trọng nhất là cộng đồng quốc tế cần tiếp tục nỗ lực củng cố các cơ chế để bảo đảm luật nhân đạo và luật nhân quyền quốc tế, để những tội ác chiến tranh không tái diễn.
I. CHIẾN TRANH - NHỮNG CHƯƠNG ĐEN TỐI CỦA LỊCH SỬ
Chiến tranh, xung đột
Từ “war” (chiến tranh) được cho là bắt nguồn từ tiếng Đức cổ (werran, có nghĩa là lẫn lộn) và tiếng Anh cổ (were, có nghĩa là gây bối rối) - những từ được xem là mô tả chính xác những gì diễn ra trong chiến tranh.
Nhà lý luận quân sự nổi tiếng của nước Phổ, Carl Von Clausewitz (1780 - 1831) cho rằng, chiến tranh là trạng thái xung đột vũ trang giữa các thực thể chính trị, quốc gia hoặc trước đó là các thành bang nhằm giải quyết những tranh chấp chính trị hoặc lãnh thổ.
Chiến tranh xảy ra trên chiến trường, được tiến hành bởi các đội quân bao gồm binh lính của các quốc gia đối địch hoặc lính đánh thuê được trả tiền. Đó không phải là sự tác động của một lực lượng sống vào lực lượng chết mà là sự xung đột quyết liệt giữa 2 lực lượng sống, để buộc đối phương phục tùng ý chí của mình.
Hiện nay, chiến tranh thường được hiểu là trạng thái xung đột bạo lực giữa các quốc gia hoặc dân tộc. Theo đó, có 2 hình thức xung đột chính là:
Xung đột vũ trang quốc tế (IAC)
IAC bao gồm tất cả các trường hợp chiến tranh được tuyên bố và các cuộc xung đột vũ trang trên thực tế giữa 2 hoặc nhiều quốc gia, ngay cả khi tình trạng chiến tranh không được một trong số các quốc gia đó công nhận và/hoặc việc sử dụng vũ lực là đơn phương.
Xung đột vũ trang quốc tế cũng bao gồm các tình huống như một thế lực nước ngoài gửi quân vào một lãnh thổ để hỗ trợ một phong trào địa phương, việc các dân tộc chiến đấu chống lại sự thống trị, chiếm đóng của nước ngoài hay chống lại các chế độ phân biệt chủng tộc.
Xung đột vũ trang phi quốc tế (NIAC)
Đây là những xung đột xảy ra trong phạm vi một quốc gia, giữa một bên là quân đội chính quy với bên kia là những phe nhóm vũ trang phi quốc gia hoặc xung đột giữa các nhóm vũ trang phi quốc gia. Xung đột vũ trang phi quốc tế không bao gồm các trường hợp căng thẳng nội bộ như bạo loạn, hành vi bạo lực đơn lẻ.
Chiến tranh: Một hiện tượng lịch sử - xã hội
Nếu không tính tới những cuộc tranh chấp giữa các bộ lạc và chủng tộc vì nguồn nước, nơi săn bắn,... mang tính chất tạm thời, ngẫu nhiên trong chế độ công xã nguyên thủy, trong hầu hết chiều dài lịch sử kể từ khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và giai cấp xuất hiện, các cá nhân, quốc gia hoặc phe phái chính trị đã giành được chủ quyền đối với các khu vực chủ yếu thông qua việc sử dụng chiến tranh.
Chiến tranh chính là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới việc phá hủy, sụp đổ của nhiều quốc gia, đế chế.
Lịch sử của một trong những nền văn minh sớm nhất trên thế giới - nền văn minh Lưỡng Hà - được xem là biên niên sử về các xung đột diễn ra gần như liên tục. Cuộc chiến đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử là giữa Sumer và Elam ở Lưỡng Hà vào năm 2700 Trước công nguyên.
Ngay cả sau khi Sargon Đại đế của Akkad (trị vì 2334 - 2279 Trước công nguyên) thống nhất khu vực này, chiến tranh vẫn được tiến hành để dập tắt các cuộc nổi loạn hoặc chống lại những kẻ xâm lược.
Các nhà nghiên cứu tin rằng, những cuộc chiến tranh đầu tiên đã diễn ra từ rất lâu trước khi lịch sử được ghi chép. Ví dụ, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy bằng chứng về những gì họ tin rằng có thể là cuộc chiến tranh tiền sử đầu tiên dọc theo Sông Nile gần biên giới Ai Cập - Sudan cách đây hơn 13.000 năm. |
Tại Trung Quốc,vương triều thứ ba trong lịch sử quốc gia này là nhà Chu đã được lập nên sau khi đánh bại nhà Thương vào năm 1046 Trước công nguyên; xung đột của thời kỳ Chiến quốc (476 - 221 Trước công nguyên) đã được giải quyết khi nhà Tần đánh bại các quốc gia đối địch khác và thống nhất Trung Quốc dưới sự cai trị của Hoàng đế Tần Thủy Hoàng...
Có thể nói, lịch sử thế giới được “xây dựng” nên từ các cuộc chiến tranh triền miên và chiến tranh đã trở thành một phần của lịch sử xã hội loài người, dù là những chương đen tối nhất.
Đáng lưu ý, bất chấp những bước phát triển, tiến bộ của xã hội, chiến tranh hiện vẫn được sử dụng như một biện pháp để giải quyết mâu thuẫn giữa nhiều quốc gia, các thế lực chính trị - quân sự và nhóm sắc tộc,... trên khắp thế giới.
Báo cáo của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhấn mạnh: vào năm 2024, dân thường, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em, tiếp tục gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của xung đột vũ trang, chịu tử vong, thương tích, di dời cưỡng bức, mất tích cưỡng bức, tra tấn, bạo lực tình dục và các tổn thất khác. Việc phá hủy cơ sở hạ tầng dân sự đã gây gián đoạn việc cung cấp điện, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nước và vệ sinh, giáo dục và sinh kế, tước đi nhiều dịch vụ thiết yếu cần thiết để sinh tồn của nhiều người... |
Cho dù bắt nguồn từ bất cứ lý do gì, mọi cuộc chiến tranh đều gây ra những thảm kịch đối với con người. Riêng trong thế kỷ XX - thế kỷ được xem là gây nhiều mất mát nhất trong lịch sử, tổng số người chết do chiến tranh hoặc liên quan đến các cuộc chiến tranh ước tính lên tới 187 triệu người, tương đương hơn 10% dân số thế giới vào năm 1913.
Mặc dù trong hơn 2 thập niên gần đây, số người chết, bị thương vong do chiến tranh đã giảm nhiều so với thế kỷ XX, nhưng một nghiên cứu được Viện Watson về các vấn đề quốc tế và công chúng (Đại học Brown, Mỹ) công bố giữa năm 2023 cho biết, kể từ sau vụ tấn công khủng bố ngày 11-9-2001 tại Mỹ, ít nhất 4,5 triệu người đã thiệt mạng tại các vùng chiến sự trên toàn thế giới.
Báo cáo năm 2025 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ghi nhận, riêng năm 2024, tại 14 điểm nóng xung đột vũ trang trên toàn cầu, hơn 36.000 dân thường đã bị giết chết.
Điều đáng nói là trong những cuộc xung đột quân sự chính thức và không chính thức ở châu Âu, châu Phi, Trung Đông, Tây Á và Trung Á..., các bên tham chiến không chỉ hướng vũ khí vào lực lượng vũ trang đối địch, mà còn tấn công vào các trường học, bệnh viện và cơ sở hạ tầng thiết yếu; sử dụng trẻ em làm lá chắn sống; tuyển dụng trẻ em vào các nhóm vũ trang và lực lượng nhà nước; giết thường dân bằng vũ khí hóa học; hãm hiếp, bóc lột tình dục phụ nữ và trẻ em...
II. TỘI ÁC CHIẾN TRANH
Lịch sử cho thấy, để giành chiến thắng, hầu hết các bên tham chiến đều không kiểm soát cách thức tiến hành cuộc chiến. Vì vậy, để ngăn chặn một số hành vi trong các cuộc xung đột vũ trang, một số lệnh cấm đã được đưa ra. Đặc biệt, từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, khái niệm tội ác chiến tranh đã được phát triển, khi luật nhân đạo quốc tế, còn được gọi là luật xung đột vũ trang, được hệ thống hóa.
Tội ác chiến tranh là gì?
Mặc dù lệnh cấm một số hành vi nhất định trong quá trình tiến hành xung đột vũ trang có thể bắt nguồn từ nhiều thế kỷ trước, nhưng phải đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khái niệm về tội ác chiến tranh mới được đưa ra và từng bước hoàn thiện.
Một số ý kiến cho rằng, Francis Lieber - luật gia nổi tiếng người Mỹ đã biên soạn Bộ luật Lieber (năm 1863) được sử dụng trong Nội chiến để định nghĩa các hành vi vi phạm luật chiến tranh - được cho là đã sử dụng thuật ngữ “tội ác chiến tranh”. Bộ luật này được Lieber soạn thảo sau khi xảy ra tình trạng cướp bóc do những nhóm chiến binh thực hiện ở Missouri.
Tuy nhiên, thuật ngữ này chỉ được Lieber đề cập trong các cuộc trò chuyện, mà không thể hiện bằng văn bản. Vì vậy, thuật ngữ “tội ác chiến tranh” được sử dụng chính thức lần đầu tiên ở Đức vào năm 1872, bởi Johann Casper Bluntschli (người Thụy Sĩ).
Ông cho rằng, chỉ những hành động của lực lượng quân sự trong thời chiến mà không có lệnh, mới là tội ác chiến tranh. Thuật ngữ này cũng được sử dụng vào năm 1906, trong cuốn sách “Luật quốc tế” của luật gia Đức Lassa Oppenheim.
Theo Liên hợp quốc, tội ác chiến tranh là những hành vi vi phạm luật nhân đạo quốc tế, dẫn đến trách nhiệm hình sự của cá nhân theo luật pháp quốc tế. Tội ác chiến tranh luôn diễn ra trong bối cảnh xung đột vũ trang, dù là xung đột vũ trang quốc tế hay xung đột vũ trang phi quốc tế.
Tội ác chiến tranh có thể được chia thành:
- Tội ác chiến tranh chống lại những người cần được bảo vệ đặc biệt;
- Tội ác chiến tranh chống lại những người cung cấp hỗ trợ nhân đạo và hoạt động gìn giữ hòa bình;
- Tội ác chiến tranh chống lại quyền tài sản và các quyền khác;
- Sử dụng các phương pháp chiến tranh bị cấm;
- Sử dụng phương tiện chiến tranh bị cấm.
Một số ví dụ về hành vi bị cấm bao gồm: giết người; đối xử tàn ác và tra tấn; bắt giữ con tin; cố ý chỉ đạo tấn công vào dân thường; cố ý chỉ đạo tấn công vào các tòa nhà dành riêng cho tôn giáo, giáo dục, nghệ thuật, khoa học hoặc mục đích từ thiện, di tích lịch sử hoặc bệnh viện; cướp bóc; hiếp dâm, nô lệ tình dục, cưỡng ép mang thai hoặc bất kỳ hình thức bạo lực tình dục nào khác; bắt trẻ em dưới 15 tuổi nhập ngũ vào lực lượng hoặc nhóm vũ trang hoặc sử dụng trẻ em để tham gia vào các cuộc chiến tranh.
Việc sử dụng vũ khí bị cấm bởi các điều ước quốc tế, như vũ khí hóa học, vũ khí sinh học hay các loại vũ khí gây ra thiệt hại không phân biệt đối tượng; hành vi tra tấn, ngược đãi và đối xử vô nhân đạo với tù nhân, bao gồm cả việc thực hiện các thí nghiệm y tế cưỡng ép hoặc sử dụng tù nhân như lá chắn sống, cũng nằm trong danh sách các tội ác chiến tranh.
Như vậy, tội ác chiến tranh được thực hiện đối với nhiều nạn nhân khác nhau, hoặc là người tham chiến hoặc không tham chiến, tùy thuộc vào loại tội phạm. Trong các cuộc xung đột vũ trang quốc tế, nạn nhân bao gồm các thành viên bị thương và bị bệnh của lực lượng vũ trang trên chiến trường và trên biển, tù nhân chiến tranh và thường dân.
Trong trường hợp xung đột vũ trang không mang tính quốc tế, các hành vi phạm tội được xem là hướng vào những người không tham gia tích cực vào các cuộc giao tranh, bao gồm những thành viên của lực lượng vũ trang đã hạ vũ khí và những người bị đặt vào tình trạng “hors de combat” (ngoài vòng chiến đấu) do bệnh tật, vết thương, bị giam giữ hoặc bất kỳ nguyên nhân nào khác. Trong cả 2 loại xung đột, việc xâm phạm tính mạng nhân viên y tế và tôn giáo, nhân viên nhân đạo và nhân viên phòng thủ dân sự cũng bị cấm.
Một số tội ác liên quan
Tội ác chống lại loài người
Theo Liên hợp quốc, tội ác chống lại loài người là những tội ác được thực hiện như một phần của cuộc tấn công rộng rãi nhằm vào bất kỳ dân thường nào, chẳng hạn như giết người, tiêu diệt, bắt làm nô lệ, trục xuất hoặc cưỡng bức di dời dân cư, giam cầm, tra tấn, các hình thức bạo lực tình dục nghiêm trọng, đàn áp, cưỡng bức mất tích, tội ác phân biệt chủng tộc hoặc các hành vi vô nhân đạo khác.
Tội ác chống lại loài người không nhất thiết phải liên quan đến xung đột vũ trang, mà cũng có thể xảy ra trong thời bình.
Diệt chủng
Không giống như tội ác chiến tranh, tội diệt chủng có thể được thực hiện trong bối cảnh hòa bình, mặc dù đây không phải là một sự việc thường xảy ra.
Tội diệt chủng đòi hỏi yếu tố tinh thần là “ý định phá hủy toàn bộ hoặc một phần một nhóm quốc gia, dân tộc, sắc tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo” và 5 yếu tố vật lý bao gồm: giết chết các thành viên trong nhóm; gây tổn hại nghiêm trọng về thể chất hoặc tinh thần cho các thành viên trong nhóm; cố ý gây ra cho nhóm những điều kiện sống được tính toán để gây ra sự hủy diệt về mặt vật lý toàn bộ hoặc một phần; áp dụng các biện pháp nhằm ngăn ngừa việc sinh con trong nhóm; bắt buộc chuyển trẻ em của nhóm này sang nhóm khác.
Thanh trừng sắc tộc
Thuật ngữ “thanh trừng sắc tộc” xuất hiện trong cuộc xung đột ở Nam Tư (cũ) và được một ủy ban chuyên gia của Liên hợp quốc có nhiệm vụ xem xét các hành vi vi phạm luật nhân đạo quốc tế xảy ra trên lãnh thổ Nam Tư (cũ) sử dụng.
Trong báo cáo, ủy ban này mô tả hành động thanh trừng sắc tộc là “làm cho một khu vực trở nên đồng nhất về mặt sắc tộc bằng cách sử dụng vũ lực hoặc đe dọa để loại bỏ những người thuộc các nhóm nhất định khỏi khu vực đó”.
Mặc dù thuật ngữ này đã được sử dụng trong các nghị quyết của Hội đồng Bảo an và Đại hội đồng Liên hợp quốc, nhưng vẫn chưa được định nghĩa trong luật pháp quốc tế và chưa được công nhận là một tội ác độc lập theo luật pháp quốc tế.
III. HOÀN THIỆN CÁC CƠ CHẾ NGĂN NGỪA, TRỪNG PHẠT TỘI ÁC CHIẾN TRANH
Sự khởi đầu của “Luật chiến tranh”
Ngay từ năm 1474, phiên tòa xét xử tội ác chiến tranh đầu tiên trên thế giới đã được Đế chế La Mã tiến hành. Sau phiên tòa này, Peter von Hagenbach - chỉ huy quân đội Burgundy - đã bị hành quyết vì những hành động tàn bạo gây ra trong thời gian chiếm đóng Breisach, nhằm giúp Công tước Charles the Bold tạo ra một vương quốc mới giữa Pháp và Đế chế La Mã.
Mặc dù vậy, nhiều nghiên cứu quốc tế khẳng định, từ đó đến thế kỷ XVIII, khi các quốc gia châu Âu đẩy mạnh các cuộc xâm chiếm thuộc địa tại khu vực Mỹ Latin, châu Phi và châu Á, không có “luật chiến tranh” nào ra đời để hạn chế các cuộc chiến cũng như ngăn chặn tội ác chiến tranh.
Phải đến thế kỷ XIX, các quốc gia trên thế giới mới bắt đầu chú ý tới vấn đề này, trong đó có việc Tổng thống Mỹ Abraham Lincon ban hành Bộ luật Lieber vào năm 1863. Đây được xem là bộ luật chính thức toàn diện đầu tiên đặt ra các luật lệ trong chiến tranh, không chỉ tại Mỹ, mà còn được nhiều quốc gia châu Âu áp dụng.
Năm 1864, tại Hội nghị quốc tế Geneva được tổ chức theo đề xuất của Thụy Sĩ, lần đầu tiên trong lịch sử, một hiệp ước đa phương đặt ra các quy tắc thống nhất để bảo vệ những người bị thương và bị bệnh của kẻ thù cũng như các cơ sở và nhân viên y tế, đã được thông qua.
Bốn năm sau, một hội nghị quân sự quốc tế được tổ chức tại St Petersburg theo sáng kiến của Nga, đã thông qua Tuyên bố về việc cấm sử dụng một số loại đạn trong thời chiến.
Đến năm 1874, Nga tiếp tục triệu tập Hội nghị quốc tế Brussels về việc biên soạn luật pháp và phong tục chiến tranh. Dù không được tất cả các quốc gia lớn thông qua, nhưng Tuyên bố Brussels năm 1874 đã liệt kê 56 điều, dựa trên cơ sở từ Bộ luật Lieber của Mỹ.
|
Năm 1899, “Luật và Phong tục chiến tranh trên bộ” (Công ước Hague năm 1899) được thông qua tại Hội nghị Hague (Hà Lan), chính thức đặt ra các quy tắc đối với tất cả các cuộc chiến tranh trên bộ giữa những quốc gia ký kết, như cách đối xử với tù nhân chiến tranh hoặc những người lính bị thương trên chiến trường; cấm sử dụng chất độc làm vũ khí; cấm giết chết những người đã đầu hàng và tấn công các địa điểm không có lực lượng chiến đấu...
Tuy nhiên, Công ước Hague năm 1899 cũng như Công ước Hague 1907 và các cơ chế pháp lý trước đó chỉ xác định một số hành vi là tội ác chiến tranh, chủ yếu nhằm bảo vệ những người trực tiếp tham chiến.
Phải đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, sau khi Liên hợp quốc được thành lập, việc thúc đẩy luật nhân đạo quốc tế nhằm bảo vệ thường dân, nhất là trẻ em, phụ nữ và những người không tham chiến trong xung đột vũ trang,... mới thực sự được chú trọng.
Những bước tiến pháp lý quan trọng
Nền tảng của Luật Nhân đạo quốc tế
Ngay trong Hiến chương đầu tiên, Liên hợp quốc đã nêu rõ quyết tâm “Phòng ngừa cho những thế hệ tương lai khỏi thảm họa chiến tranh”, như 2 cuộc chiến tranh thế giới đã gây cho nhân loại những “đau thương không kể xiết”; đồng thời tuyên bố “một lần nữa sự tin tưởng vào những quyền cơ bản, nhân phẩm và giá trị của con người, ở quyền bình đẳng giữa nam và nữ, ở quyền bình đẳng giữa các quốc gia lớn và nhỏ”.
Với mục tiêu đó, năm 1949, Công ước quốc tế bảo vệ nạn nhân chiến tranh đã được thông qua tại Hội nghị ngoại giao được Tổng thư ký Liên hợp quốc triệu tập tại Geneva (Thụy Sĩ). Năm 1977 và 2005, 3 nghị định thư bổ sung (I, II, III) đã được ký kết.
Những văn bản pháp lý được gọi chung là các Công ước Geneva 1949 này đã tạo thành nền tảng của Luật Nhân đạo quốc tế - bộ quy tắc thiết lập các tiêu chuẩn nhân đạo tối thiểu của con người cần phải được tôn trọng trong mọi tình huống xung đột vũ trang.
Các Công ước Geneva 1949 đã ghi nhận nguyên tắc chiến tranh phải có giới hạn; mở rộng và làm rõ những nhóm đối tượng được bảo vệ trong các cuộc xung đột, bao gồm những người không tham chiến (thường dân, y tế, nhân viên cứu trợ) và những người không còn khả năng tham chiến (thương binh, bệnh binh, tù binh chiến tranh).
Nghiêm cấm những bên tham chiến và các bên liên quan gây ra hoặc thúc đẩy tội ác chiến tranh theo những quy định rất chi tiết được nêu tại các Công ước này.
Đặc biệt, do nhiều quy tắc có trong các Công ước Geneva 1949 đã được coi là một phần của luật tục, nên các quy tắc này có tính ràng buộc tất cả các quốc gia (và các bên khác trong cuộc xung đột), bất kể các quốc gia có phê chuẩn hay không.
Theo nguyên tắc quyền tài phán phổ quát, thủ phạm tội ác chiến tranh cũng có thể bị xét xử ở các quốc gia khác ngoài quốc gia nơi tội ác được thực hiện...
Cơ chế xét xử tội phạm chiến tranh
Cùng với việc đạt được sự đồng thuận về định nghĩa của tội diệt chủng, tội ác chống lại loài người và tội ác chiến tranh, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, việc tổ chức các tòa án đặc biệt và tòa án do Liên hợp quốc hỗ trợ đã góp phần chống lại tình trạng miễn trừ và thúc đẩy trách nhiệm giải trình đối với những tội ác nghiêm trọng nhất, trong đó có tội phạm chiến tranh.
Ngoài ra, ngay từ năm 1948, ý tưởng về một tòa án quốc tế thường trực để truy tố các tội ác này cũng đã được xem xét tại Liên hợp quốc. Tuy nhiên, trong nhiều năm, sự khác biệt về quan điểm đã ngăn cản những diễn biến tiếp theo.
Cho đến năm 1992, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã chỉ đạo Ủy ban Luật pháp quốc tế chuẩn bị một dự thảo luật cho việc ra đời một tòa án như vậy, khi các vụ thảm sát ở Campuchia, Nam Tư (cũ) và Rwanda khiến nhu cầu về tòa án này trở nên cấp thiết. Năm 1998, Quy chế Rome - một văn kiện quốc tế quan trọng - được thông qua, tạo nền tảng pháp lý cho việc thiết lập Tòa án Hình sự quốc tế (ICC).
ICC được giao nhiệm vụ truy tố và xét xử những cá nhân bị cáo buộc thực hiện các tội ác quốc tế nghiêm trọng nhất, bao gồm tội ác chiến tranh, tội ác diệt chủng và tội ác chống lại loài người. Đặc biệt, tòa án có thẩm quyền can thiệp trong trường hợp các quốc gia thành viên không thể hoặc không muốn tiến hành truy tố và xét xử các tội phạm này ở cấp quốc gia, do xung đột lợi ích, tình trạng bất ổn hoặc vì bất kỳ lý do nào khác.
Điều này bảo đảm rằng không một quốc gia nào có thể lẩn tránh trách nhiệm trước công lý quốc tế khi đã vi phạm luật pháp nhân đạo quốc tế. Bằng cách này, Hội đồng Bảo an cũng có thể vượt qua các rào cản về quyền tài phán quốc gia, đưa những kẻ vi phạm nghiêm trọng ra trước tòa án quốc tế, bất kể quốc gia của họ có tham gia Quy chế Rome hay không. Chính sự linh hoạt này giúp ICC duy trì vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công lý cho các nạn nhân của tội ác chiến tranh và các tội ác quốc tế khác trên toàn thế giới. |
Bên cạnh đó, năm 2002, Mạng lưới điều tra và truy tố tội diệt chủng, tội ác chống lại loài người và tội ác chiến tranh của châu Âu được thành lập, tạo điều kiện cho sự hợp tác chặt chẽ trong công tác này, bảo đảm thủ phạm không được miễn trừ trong phạm vi các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU).
IV. CÔNG LÝ CHO NHỮNG NẠN NHÂN CỦA TỘI ÁC CHIẾN TRANH
Thông qua các cơ chế pháp lý quốc tế, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, đã có nhiều cá nhân, tổ chức trực tiếp gây ra hoặc đồng lõa với những tội ác chiến tranh đã bị đưa ra xét xử và phải chịu những hình phạt nghiêm khắc nhất.
Phiên tòa Nuremberg
Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các cường quốc Đồng minh gồm Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô, đã cùng nhau thông qua Thỏa thuận London, thành lập Tòa án quân sự quốc tế (IMT) để xét xử các nhà lãnh đạo Đức Quốc xã vì các tội ác chống lại hòa bình, tội ác chiến tranh, tội ác chống lại loài người và âm mưu phạm những tội ác trên.
Ngày 18-10-1945, bản cáo trạng đối với 24 kẻ đầu sỏ tội phạm chiến tranh của Đệ tam Đế chế và 7 tổ chức liên quan đã được đệ trình bởi 4 công tố viên trưởng của IMT.
Từ ngày 20-11-1945, phiên tòa được tổ chức tại Nuremberg (Đức) - nơi được xem là biểu tượng cho cái chết của Đức Quốc xã - đã làm rõ những bằng chứng chống lại 21 bị cáo (người đứng đầu Mặt trận Lao động Đức, ông Robert Ley, đã tự tử ngay trước khi phiên tòa diễn ra), nhất là những chi tiết liên quan tới các hành vi giết hại tù nhân chiến tranh và hành động tàn bạo trong các trại tập trung nhằm hủy diệt người Do Thái.
Ngày 1-10-1946, Tòa án đã kết án 19 bị cáo, trong đó 12 kẻ phạm tội bị kết án tử hình, 3 bị cáo bị kết án tù chung thân, 4 bị cáo bị kết án tù từ 10 đến 20 năm. Hai tuần sau, các bản án tử hình đã được thi hành với hình thức treo cổ. Hermann Goring - chỉ huy quân sự và thành viên hàng đầu của Đảng Quốc xã - đã tự tử vào đêm trước khi bị hành quyết.
Sau phiên tòa đầu tiên của Tòa án quân sự quốc tế, từ tháng 12-1946 đến tháng 4-1949, 12 phiên tòa bổ sung cũng đã được tổ chức tại Nuremberg để xét xử tội ác chiến tranh của các nhà lãnh đạo Đức Quốc xã.
Các bị cáo là 177 bác sĩ cấp cao, thẩm phán, nhà công nghiệp, chỉ huy lực lượng an ninh đặc biệt SS, chỉ huy cảnh sát, quân nhân, công chức và nhà ngoại giao. Trong số 177 bị cáo, 24 người bị kết án tử hình, 20 người bị tù chung thân và 98 người phải chịu các án tù khác nhau; 25 bị cáo được tuyên vô tội.
Tổng cộng, có 199 bị cáo đã bị xét xử, 161 bị kết án, trong đó 37 kẻ đầu sỏ bị tuyên án tử hình.
Các vụ tự tử của những nhà lãnh đạo Đức Quốc xã hàng đầu như Adolf Hitler, Joseph Goebbels và Heinrich Himmler đã ngăn cản những đối tượng này phải ra hầu tòa. |
Việc bắt giữ và xét xử các tội phạm chiến tranh tại Nuremberg đã trở thành mô hình cho các phiên tòa tiếp theo ở Tokyo. Sau khi phát xít Nhật thất bại, 28 nhà lãnh đạo của Đế quốc Nhật Bản bị bắt giữ với các cáo buộc về tội ác chiến tranh, tội ác đối với tù nhân chiến tranh, tội ác chống lại loài người.
Ngày 3-4-1946, Tòa án quân sự quốc tế về Viễn Đông (IMTFE) đã đưa các đối tượng này ra xét xử. Bất chấp sự bất đồng giữa các thẩm phán chủ tọa, 25 trong số 28 quan chức hàng đầu Nhật Bản bị đưa ra xét xử trước IMTFE đã bị kết tội; 2 người đã chết trong phiên tòa và 1 người khác bị suy nhược thần kinh phải nhập viện.
Trong số 18 bị cáo bị kết án tù, 7 người bị kết tội kích động các hành động tàn bạo trên quy mô lớn và bị xử tử bằng hình thức treo cổ, trong đó có Tướng Hideki Tojo.
Trong và sau Phiên tòa Tokyo (kết thúc vào tháng 12-1948), các cuộc truy tố quan chức Nhật Bản khác vẫn tiếp tục, với hơn 2.200 phiên tòa được tổ chức tại 51 địa điểm khác nhau; khoảng 5.600 kẻ bị tình nghi tội phạm chiến tranh đã bị xét xử.
Tòa án đặc biệt tại Campuchia (ECCC)
Từ năm 1975 đến năm 1979, trong thời kỳ cai trị ngắn ngủi của Pol Pot và chế độ Khmer Đỏ, Campuchia đã trải qua giai đoạn lịch sử đẫm máu nhất, dẫn tới cái chết của gần 2 triệu thường dân, trong đó trên 800.000 người chết do hành vi bạo lực của lực lượng Khmer Đỏ; hàng triệu người phải chịu những chấn thương tâm lý nghiêm trọng...
Chánh án Nil Nonn của ECCC cho rằng, các bị cáo Khieu Samphan và Nuon Chea là một phần của “một tổ chức tội phạm chung” đã phát động “một cuộc tấn công rộng rãi và có hệ thống nhằm vào dân thường” sau khi quân du kích Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh vào ngày 17-4-1975. Cuộc tấn công diễn ra dưới nhiều hình thức, bao gồm “giết người, tiêu diệt, cưỡng bức mất tích, tấn công vào nhân phẩm và đàn áp chính trị”. Trong khi đó, cựu Bộ trưởng Ngoại giao Ieng Sary bị tòa án chính thức buộc tội vào ngày 16-12-2009, nhưng đã chết vào ngày 14-3-2013, trước khi phiên tòa kết thúc. |
Trong vụ án số 001, Kaing Guek Eav (biệt danh “Duch”) - cựu Giám đốc trung tâm an ninh khét tiếng Tuol Sleng, nơi có hơn 15.000 tù nhân bị hành quyết hoặc chết vì bị tra tấn và/hoặc do điều kiện giam giữ tồi tệ - bị tuyên án tù chung thân vào năm 2011.
Trong vụ án số 002, các quan chức cấp cao của Khmer Đỏ là Nuon Chea - “Anh Hai” dưới thời Pol Pot và cựu Chủ tịch Nhà nước Khieu Samphan, đều bị cáo buộc thiết kế và thực hiện các chính sách của Khmer Đỏ dẫn đến cái chết của gần 2 triệu người. Sau quá trình xét xử, tòa đã tuyên cả 2 bị cáo này án tù chung thân; đồng thời phải chịu trách nhiệm bồi thường cho hàng nghìn nạn nhân.
Hiện nay, ECCC đã khép lại cuộc điều tra của mình đối với các vụ án 003, 004 và 004/2 - những vụ án cuối cùng có khả năng được đưa ra xét xử trước ECCC. Các vụ án này tập trung vào các tội ác do Yim Tith, Meas Muth và Ao An là các chỉ huy quân sự cấp cao của chế độ Khmer Đỏ.
Tội ác của những đối tượng này bao gồm diệt chủng, tội ác chống lại loài người và tội ác chiến tranh, đã dẫn đến cái chết của hàng chục nghìn người Campuchia.
Tòa án Hình sự quốc tế về Nam Tư cũ (ICTY)
Tháng 5-1993, Tòa án Hình sự quốc tế về Nam Tư cũ (ICTY) được Liên hợp quốc thành lập trong bối cảnh các vụ thảm sát hàng loạt đang diễn ra tại Croatia và Bosnia và Herzegovina.
Các báo cáo mô tả những tội ác khủng khiếp, trong đó hàng nghìn thường dân bị giết và bị thương, bị tra tấn và lạm dụng tình dục trong các trại giam; hàng trăm nghìn người bị trục xuất khỏi nhà của họ,... đã gây ra sự phẫn nộ trên toàn thế giới.
Từ năm 1993 đến 2017, ICTY đã truy tố hơn 160 người bao gồm các nguyên thủ quốc gia, tổng tham mưu trưởng quân đội, bộ trưởng nội vụ và nhiều nhà lãnh đạo chính trị, quân sự, cảnh sát thuộc nhiều đảng phái khác nhau trong các cuộc xung đột Nam Tư.
Các bản cáo trạng của ICTY đề cập đến những tội ác mà các đối tượng này phạm phải từ năm 1991 đến năm 2001 đối với các nhóm dân tộc khác nhau ở Croatia, Bosnia và Herzegovina, Serbia, Kosovo, Cộng hòa Nam Tư (cũ)...
Trong các phán quyết về tội diệt chủng, tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người đối với một số tội phạm cấp cao và khét tiếng nhất, tòa án đã chứng minh rằng vị trí cấp cao của một cá nhân không còn có thể bảo vệ họ khỏi bị truy tố, cũng như tội lỗi phải được cá nhân hóa, chứ không thể trốn tránh dưới cái gọi là “chịu trách nhiệm tập thể”.
Tòa án Hình sự quốc tế Rwanda (ICTR)
Năm 1995, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã thành lập Tòa án Hình sự quốc tế Rwanda (ICTR) để truy tố những người chịu trách nhiệm về tội diệt chủng và các hành vi vi phạm nghiêm trọng khác đối với luật nhân đạo quốc tế xảy ra trên lãnh thổ Rwanda và các quốc gia lân cận trong năm 1994.
Theo đó, tòa đã truy tố 93 cá nhân bao gồm các quan chức quân sự và chính phủ cấp cao, chính trị gia, doanh nhân cũng như các nhà lãnh đạo tôn giáo, dân quân. ICTR cũng trở thành tòa án quốc tế đầu tiên buộc các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực truyền thông phải chịu trách nhiệm về những chương trình phát sóng nhằm kích động thực hiện hành vi diệt chủng.
V. LÀM GÌ ĐỂ CHẤM DỨT TỘI ÁC CHIẾN TRANH?
Nỗ lực và những thách thức
Báo cáo công bố cuối tháng 5-2025 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cho biết, các cơ quan thực thi pháp luật trên toàn cầu vẫn đang tiếp tục đẩy nhanh tiến độ điều tra và truy tố những kẻ gây ra tội ác chiến tranh.
Chẳng hạn như tại Cộng hòa Trung Phi, một ủy ban điều tra tư pháp đã được thành lập để điều tra các hành vi vi phạm luật nhân đạo quốc tế và đưa thủ phạm ra trước công lý.
Tại Uganda, một cựu chỉ huy của Quân đội kháng chiến của Chúa đã bị xét xử và bị kết án 40 năm tù vì 44 tội danh, bao gồm giết người, hiếp dâm, bắt cóc và cướp bóc.
Liberia đã quyết định thành lập văn phòng tòa án tội ác chiến tranh để điều tra và xét xử những tội ác trong cuộc nội chiến ở Liberia từ năm 1989 đến năm 2003.
Tòa án tại Đức, Thụy Điển và Thụy Sĩ đã tiến hành tố tụng đối với các cựu quan chức Syria. Một tòa án Pháp đã xét xử vắng mặt 3 cựu quan chức Syria vì tội đồng lõa trong các tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người. Tại Bồ Đào Nha, một cựu thành viên của ISIL (Daesh) đã bị kết tội về các tội ác chiến tranh đã thực hiện ở Iraq...
Trong khi đó, ICC đã kết án Al Hassan Ag Abdoul Aziz Ag Mohamed Ag Mahmoud - cựu Giám đốc cảnh sát Hồi giáo tại Timbuktu, Mali - về các tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người đã thực hiện ở Mali. ICC cũng ban hành lệnh bắt giữ đối với một số cá nhân bị cáo buộc liên quan đến những tội ác chiến tranh tại Ukraina và Palestine...
Khả năng của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong việc chuyển giao các vụ án lên ICC cũng bị ảnh hưởng đáng kể bởi các yếu tố địa - chính trị và lợi ích chiến lược của các thành viên thường trực. Việc Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh và Pháp có quyền phủ quyết đồng nghĩa với việc bất kỳ quyết định nào của Hội đồng liên quan đến ICC đều phải nhận được sự đồng thuận từ tất cả các thành viên thường trực. Điều này tạo ra một rào cản lớn cho quá trình đưa các vụ việc ra trước ICC, đặc biệt là khi các quốc gia thành viên thường trực có lợi ích chiến lược hoặc đồng minh trong khu vực xung đột. |
Mặc dù vậy, việc thực thi công lý, truy tố và xét xử các cá nhân phải chịu trách nhiệm về những tội ác chiến tranh cũng luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn.
Ở phạm vi quốc gia, mặc dù pháp luật nhiều quốc gia nêu rõ những điều không thể làm trong chiến tranh, nhưng những cáo buộc về tội ác chiến tranh đối với quân nhân thường bị các chính phủ bỏ qua, bị trừng phạt nhẹ hoặc bị bác bỏ.
Với cơ chế quốc tế, mặc dù 124 quốc gia đã chấp nhận thẩm quyền của ICC, nhưng một số cường quốc như Mỹ, Trung Quốc và Nga lại không chấp nhận. Nhiều quốc gia đã xảy ra chiến tranh tàn khốc cũng từ chối quyền hạn của tòa án này, như Iraq, Israel, Syria, Sudan và Yemen.
Giải pháp nào để chấm dứt tội ác?
Trong bối cảnh tình hình tại các điểm nóng xung đột vũ trang trên thế giới ngày càng phức tạp, những cáo buộc về tình trạng vi phạm luật nhân đạo quốc tế, luật nhân quyền đã liên tục được đưa ra, khiến dư luận đặc biệt lo ngại.
Để sớm chấm dứt những hành vi vượt quá giới hạn trong các cuộc xung đột, trước hết, việc điều tra, xét xử các cá nhân, tổ chức có liên quan cần được tăng cường; tình trạng miễn trừ đối với các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế cần phải được chấm dứt để buộc những kẻ có ý định phạm tội phải “chùn tay”.
Bên cạnh đó, các quốc gia, tổ chức quốc tế, đứng đầu là Liên hợp quốc, cần có cách tiếp cận toàn diện hơn trong việc bảo vệ đối với tất cả dân thường bị ảnh hưởng bởi xung đột, thông qua các cơ chế nhằm bảo đảm các bên tham gia xung đột thực hiện đúng những quy tắc giao chiến, bảo đảm an toàn cho các trường học, bệnh viện, trẻ em, phụ nữ... Có cơ chế hợp tác hữu hiệu để ngăn chặn các tội ác chiến tranh có thể xảy ra.
Thực hiện các biện pháp thích hợp để các quốc gia và nhóm vũ trang phi quốc gia nhanh chóng phê chuẩn hoặc chấp thuận các hiệp ước có liên quan và đưa các nghĩa vụ về luật nhân đạo quốc tế và luật nhân quyền quốc tế vào luật quốc gia, các hướng dẫn quân sự, quy tắc ứng xử, quy tắc giao chiến; xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của các tổ chức liên quan đối với việc bảo vệ dân thường và các đối tượng dân sự trong xung đột; cấm tất cả các loại vũ khí nguy hiểm để bảo đảm tuân thủ luật pháp quốc tế và khả năng chấp nhận về mặt đạo đức; bảo vệ, hỗ trợ sự tham gia nhân đạo với tất cả các bên trong xung đột; điều tra, xử lý kịp thời các cáo buộc vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, trong đó có tội ác chiến tranh, bảo đảm không tái diễn.
Tăng cường năng lực và nguồn lực của các quốc gia trong điều tra, truy tố và trở thành một bên tham gia Quy chế Rome của Tòa án Hình sự quốc tế; hợp tác đầy đủ với quy chế này cũng như các cơ chế điều tra và tư pháp khác.
Đặc biệt, các chính phủ và cộng đồng cần tăng cường hợp tác để tìm ra giải pháp lâu dài trong việc giải quyết các cuộc xung đột và tình trạng bất ổn; xây dựng các thể chế hiệu quả, có trách nhiệm để thúc đẩy các xã hội hòa bình, phát triển bền vững./.
Duy Anh - Thành Nam - Tiến Thắng - Công Minh - Khôi Nguyên (thực hiện)
Các bài cũ hơn




