Chính trị - Thời sự

NATO và những vấn đề không hề mới

Bích Ngọc 12/04/2026 08:09

Ý nghĩa về sự tồn tại và tính hữu ích của NATO chưa bao giờ bị đặt dấu hỏi lớn như lúc này, đặc biệt là từ Mỹ, quốc gia đang bị cho là đòi hỏi nhiều nhất, nhưng cũng là nhân tố gây ra nhiều bất ổn nhất, buộc các đồng minh phải “dọn dẹp hậu quả”.

05-nato.jpg
Cờ NATO và quốc kỳ các nước thành viên tại trụ sở NATO ở Brussels, Bỉ_Ảnh: AP

Tuy nhiên, cốt lõi vấn đề của NATO không chỉ nằm ở những gì mới xảy ra gần đây, mà vốn dĩ đã xuất hiện từ trước khi liên minh này ra đời. Trong lịch sử gần 8 thập niên của mình, NATO đã trải qua không ít cuộc khủng hoảng “sinh tồn” có nguy cơ dẫn đến tan rã...

Theo phân tích của chuyên gia Federico Rampini trên tờ Corriere della Sera (Italia), việc Tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa rút khỏi NATO là nghiêm trọng, nhưng nó không hề mới và không phải chỉ bởi chính ông D. Trump từng đưa ra lời đe dọa tương tự trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên.

Trên thực tế, không ít tổng thống Mỹ trước ông D. Trump từng nghi ngờ giá trị và sự hữu ích của NATO và cũng không hiếm khi Trung Đông là nguyên nhân gây nghi ngại.

Có một sự thật rằng trước khi ai đó muốn phá tan NATO, khối này từng có nguy cơ không bao giờ được ra đời. Dư luận Mỹ luôn có truyền thống biệt lập sâu sắc. Ngay cả vào mùa xuân năm 1940, kết quả thăm dò dư luận cho thấy 96% số người Mỹ được hỏi không muốn tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai. Và ông Franklin Roosevelt đã thắng trong chiến dịch tranh cử gần nhất nhờ cam kết sẽ đưa nước Mỹ đứng ngoài cuộc.

Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, việc NATO ra đời cũng không phải là chuyện hiển nhiên. Hơn 80 năm trước, vào ngày 5-3-1946, Thủ tướng Anh lúc đó là Winston Churchill - người đã bị cử tri đẩy sang phe đối lập ngay sau khi dẫn dắt đất nước đến chiến thắng phát xít - đã được mời tới diễn thuyết tại Missouri, bang quê nhà của Tổng thống Mỹ khi đó là Harry Truman.

Bài phát biểu ấy đã đi vào lịch sử, khi ông Churchill sử dụng cụm từ “bức màn sắt” - ám chỉ sự chia cắt tàn bạo châu Âu thành hai nửa.

Ông tố cáo mối đe dọa khi Liên Xô bành trướng và khẳng định mạnh mẽ tính cấp thiết của một liên minh giữa các nền dân chủ phương Tây. Đó chính là nguyên tắc sơ khởi của NATO.

Dư luận Mỹ đón nhận bài phát biểu của ông Churchill theo cách cực kỳ tồi tệ. Chính ông Truman, người đứng cạnh Churchill khi ông đang phát biểu, cũng bày tỏ sự khó chịu. Ông không muốn gây hấn với nhà lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin.

Ở cánh hữu, tờ Wall Street Journal đã chỉ trích ông Churchill khi khẳng định Mỹ không cần các liên minh. Trong phe cánh tả, tạp chí theo khuynh hướng Marxist The Nation đã chế nhạo ông Truman là kẻ ngốc vì đã không lập tức công khai tách mình khỏi bài phát biểu của ông Churchill.

Nhà bình luận nổi tiếng nhất thời bấy giờ, Walter Lippmann, đã định nghĩa bài phát biểu của ông Churchill là “một sai lầm thảm khốc”.

Sự phản đối khái niệm về một liên minh Đại Tây Dương không chỉ nằm ở những trào lưu chính trị lớn tại Mỹ. Ở châu Âu, không lâu sau khi Pháp được lực lượng Anh - Mỹ giải phóng, Tướng Charles De Gaulle vào tháng 11-1944 đã vội đi gặp Stalin.

Giấc mơ của ông là hồi sinh liên minh Pháp - Nga để cân bằng với liên minh Anh - Mỹ. Vai trò của Pháp còn thú vị vì một lý do khác. Khi NATO ra đời, đế quốc Pháp vẫn tồn tại và có nhiều thuộc địa trong thế giới Arab - Hồi giáo, bắt đầu từ Algeria, cũng như nhiều lợi ích khác ở Trung Đông.

06-nato.jpg
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron từng gây tranh cãi khi nói “NATO đang chết lâm sàng”_Ảnh: AP

Chính người Pháp đã lý thuyết hóa rằng NATO phải mở rộng trách nhiệm an ninh sang Trung Đông, dẫn đến xung đột với sự phản đối của Mỹ.

Kể từ sau khi ra đời, NATO đã trải qua nhiều khủng hoảng “sinh tồn”, tưởng như sắp tan rã đến nơi. Ba trong số đó được tạo nên bởi 3 cuộc xung đột ở Trung Đông. Năm 1956, 2 quốc gia thành viên NATO ở châu Âu là Anh và Pháp đã tham chiến cùng Israel, giành lại quyền kiểm soát quốc tế với Kênh đào Suez bị Tổng thống Ai Cập khi đó là Nasser quốc hữu hóa. Ngay từ khi ấy, chủ đề bao biện đã là tự do hàng hải.

Tổng thống Mỹ khi đó là Dwight Eisenhower, thành viên Đảng Cộng hòa và cựu tướng Mỹ từng chỉ huy lực lượng đồng minh tại châu Âu, đã can thiệp quyết liệt bằng một tối hậu thư phản đối can thiệp quân sự và buộc lực lượng Anh - Pháp phải rút lui.

Nhiều người tuyên bố cuộc khủng hoảng ấy đã đánh dấu sự kết thúc của NATO. Rạn nứt Đại Tây Dương trùng khớp với sự phân kỳ về năng lượng. Nước Mỹ dưới thời Eisenhower là nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới, có khả năng tự cung tự cấp. Trong khi đó, người châu Âu phụ thuộc vào dầu mỏ Arab và Kênh đào Suez.

Năm 1973, ở vị thế đảo ngược, Mỹ lại ủng hộ Israel khi quốc gia này bị liên quân Arab tấn công trong cuộc chiến Yom Kippur. Các nhà sản xuất dầu Trung Đông trong Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) sau đó đã ban hành lệnh cấm vận đối với các nước phương Tây.

Nhiều người châu Âu đã tách mình khỏi sự ủng hộ của Washington dành cho Israel. Tổng thống Mỹ khi đó là Richard Nixon - thành viên Đảng Cộng hòa và Ngoại trưởng Henry Kissinger đã lên án gay gắt người châu Âu đến mức gọi NATO là “vô dụng”. Nixon đe dọa rút quân Mỹ khỏi Tây Đức. Đó không phải là động thái nhỏ, khi Chiến tranh lạnh đang ở đỉnh cao và mối đe dọa từ Liên Xô là cận kề.

Đến năm 2003, một thành viên Đảng Cộng hòa khác là George W. Bush đã tiến hành xâm lược Iraq để lật đổ chế độ Saddam Hussein sau khi cáo buộc ông này chế tạo vũ khí hủy diệt hàng loạt (với bằng chứng giả).

Nước Đức của Thủ tướng Gerhard Schroeder và nước Pháp của Tổng thống Jacques Chirac khi đó đã tách biệt với Washington, lên án cuộc xâm lược của Mỹ. Nhiều người khi đó đều tiên đoán rằng NATO sắp “chết”.

Về phía châu Âu, thập niên 60 và 70 của thế kỷ XX được đánh dấu bởi các phong trào chống NATO mạnh mẽ nhất, ủng hộ các nước châu Âu rút khỏi liên minh quân sự xuyên Đại Tây Dương này.

Khủng hoảng “tên lửa tầm trung” là 1 trong 2 thời điểm then chốt. Cuộc khủng hoảng này, gây ra khi Liên Xô triển khai các đầu đạn hạt nhân đe dọa trực tiếp Tây Âu, đã chứng kiến nhiều cuộc biểu tình lớn chống NATO, khi liên minh quyết định phá vỡ thế mất cân đối bằng cách triển khai các hệ thống tên lửa tương đương.

Trong những giai đoạn chính trị này, Liên minh quân sự Đại Tây Dương được xem như không hẳn là vô dụng, mà là kẻ thù của hòa bình, thúc đẩy căng thẳng với Liên Xô.

Gần đây hơn, vào năm 2019, Tổng thống Pháp Macron gọi NATO là liên minh “chết não” trong lời cảnh báo khối quân sự về sự phụ thuộc vào Mỹ. Chính người Mỹ cũng hết lần này đến lần khác dao động, đó là những giai đoạn mà họ muốn rũ bỏ cam kết của một liên minh quân sự bị coi là tốn kém và vô dụng, và những giai đoạn lịch sử mà NATO bị người châu Âu mô tả như một “con rối” phục vụ lợi ích Mỹ./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        NATO và những vấn đề không hề mới
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO