“Cú đúp chiến tranh” tiếp tục bào mòn sự thống nhất trong NATO
Kể từ khi thành lập đến nay, có lẽ chưa khi nào NATO lại đối mặt với thách dồn dập đến vậy. Xét về mức độ tiêu hao, một cuộc chiến tranh đã bước sang năm thứ 5 với Nga dường như chưa là gì so với những màn tiêu tốn vũ khí, đạn dược mà Mỹ đổ vào cuộc chiến Iran chỉ trong hơn 1 tháng qua. Đó là còn chưa kể đến những mâu thuẫn nội bộ mà chính thành viên quan trọng nhất của khối gây ra, đặc biệt là cuộc khủng hoảng mang tên Greenland.

Tất cả đang khiến khối quân sự này ngày càng bộc lộ nhiều điểm yếu, không chỉ là năng lực quốc phòng, mà quan trọng hơn là sự đoàn kết nội bộ.
Những lỗ hổng chiến lược và mâu thuẫn nội bộ bị phơi bày
Khi cuộc chiến ở Ukraina đã bước sang năm thứ 5, quốc gia láng giềng của Nga vẫn chưa tìm thấy tia hy vọng được trở thành thành viên của NATO sau gần 15 năm nuôi giấc mộng này. Nhưng không chỉ riêng Ukraina cảm thấy mệt mỏi.
Các lãnh đạo Mỹ và châu Âu không chấp thuận yêu cầu của ông Vladimir Putin về một cam kết mang tính ràng buộc rằng Ukraina không được gia nhập NATO, nhưng họ cũng thừa nhận rằng chưa có kế hoạch sớm cho Kiev trở thành thành viên của liên minh, khi chỉ ra những vấn đề còn tồn đọng của Ukraina như nạn tham nhũng và hệ thống pháp quyền yếu kém.
Không chỉ vậy, cuộc chiến Ukraina đã phơi bày nhiều bất đồng và lỗ hổng chiến lược trong nội bộ NATO, bao gồm sự chia rẽ về tốc độ viện trợ vũ khí, rủi ro đối đầu trực tiếp với Nga, và sự khác biệt quan điểm giữa các thành viên Đông Âu và Tây Âu. Các rạn nứt chính bao gồm lo ngại về leo thang hạt nhân, áp lực quốc phòng trong chiến tranh tiêu hao, và sự “nổi loạn” của một số quốc gia thành viên.
Kế hoạch hòa bình 28 điểm được đề xuất hồi cuối năm 2025 tạo nên bức tranh ảm đạm về một nước Mỹ dưới thời D. Trump 2.0 dường như quan tâm nhiều tới việc cải thiện quan hệ và hợp tác kinh tế với Nga hơn là bảo vệ khối liên minh xuyên Đại Tây Dương và một châu Âu ngày càng nghi ngờ các cam kết của Mỹ đối với NATO.
Đặc biệt, 2 chi tiết trong bản kế hoạch hòa bình 28 điểm đã gây chấn động giới hoạch định chính sách quốc phòng và đối ngoại châu Âu:
Thứ nhất, văn bản này mặc nhiên xem Nga là bên chiến thắng và Ukraina là bên thua cuộc, buộc Kiev phải từ bỏ những vùng lãnh thổ chiến lược chưa thực sự mất, thu hẹp lực lượng quân sự và chấp nhận tình trạng không có bất kỳ bảo đảm an ninh chắc chắn nào từ Mỹ hay các đồng minh châu Âu nếu Moscow tái vũ trang.
Thứ hai, bản kế hoạch mô tả Mỹ như một bên trung gian giữa Nga và NATO, ám chỉ Washington không còn tự xem mình là một thành viên trong liên minh mà trong nhiều thập niên qua Mỹ giữ vai trò dẫn dắt và bảo đảm phần lớn an ninh của châu Âu kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Khi những mâu thuẫn về chi tiêu, đóng góp, viện trợ, cho Ukraina để đối phó Nga vẫn đang làm NATO đau đầu, thì những tuyên bố về việc sáp nhập hòn đảo Greenland, thuộc chủ quyền của một thành viên NATO, từ một thành viên NATO khác, tiếp tục khoét sâu chia rẽ Mỹ và các thành viên còn lại.
Hôm 6-4, Tổng thống D. Trump khẳng định Greenland chính là lý do hàng đầu khiến ông muốn rút khỏi liên minh quân sự: “nếu mọi người muốn biết sự thật, toàn bộ mọi thứ bắt đầu từ Greenland. Chúng tôi muốn có Greenland, nhưng họ không muốn giao hòn đảo đó cho chúng tôi. Thế là tôi nói 'tạm biệt'”.
Tuy nhiên, chắc hẳn ai cũng hiểu rằng nguyên nhân dẫn đến thái độ dứt khoát mới này của ông D. Trump còn đến từ việc ông bị đồng minh NATO từ chối các yêu cầu cho Mỹ sử dụng căn cứ không quân của nước họ để tấn công Iran.

NATO có thể đoàn kết, nhưng không thể liên kết trong cuộc chiến Iran
Cuộc chiến của Mỹ - Israel nhằm vào Cộng hòa Hồi giáo lại giáng thêm một đòn nữa vào sự thống nhất của liên minh có tuổi đời gần 80 năm. Cuộc chiến Iran đang phơi bày một vết nứt cấu trúc bên trong NATO - một vết nứt có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn bất kỳ mối đe dọa bên ngoài nào mà liên minh này đang phải đối mặt.
NATO không chỉ bị đe dọa về khả năng ứng phó với một cuộc khủng hoảng mới ở Trung Đông, mà còn là khả năng duy trì sự nhất quán chiến lược trong một thế giới được định hình bởi các ưu tiên mang tính cạnh tranh và các cuộc xung đột đồng thời. Khi những bất đồng ngày càng gia tăng giữa các quốc gia thành viên, NATO đang phải đối mặt với một rủi ro thầm lặng đầy nguy hiểm: sự chia rẽ nội bộ.
Việc Tổng thống Mỹ Donald Trump cảnh báo NATO rằng họ sẽ phải đối mặt với “tương lai rất tồi tệ”, trừ phi các quốc gia thành viên giúp Mỹ mở cửa eo biển Hormuz, đã trở thành “cơn ác mộng” kinh hoàng nhất của châu Âu.
Rõ ràng, sau khi phát động cuộc tấn công vào Iran mà không tham vấn đồng minh, ông D. Trump hiện quay sang yêu cầu các nước châu Âu giúp Washington giải quyết hậu quả cuộc chiến.
Tuy nhiên, nhiều bài học từ các cuộc xung đột kéo dài tại Iraq và Afghanistan, cũng như những quan ngại liên quan đến cơ sở pháp lý của các hoạt động quân sự nhằm vào Iran, khiến phần lớn các nước thành viên NATO vẫn tỏ ra thận trọng trước khả năng can dự sâu vào xung đột tại Trung Đông.
Quả thực, việc sử dụng sai mục đích liên minh trong các yêu cầu liên quan eo biển Hormuz cho thấy một sự nhầm lẫn cả về pháp lý lẫn khái niệm, bởi thực tế Iran không hề tấn công bất kỳ thành viên NATO nào và Điều 5 cũng chưa được kích hoạt.
Cuộc xung đột này không phải là tình huống phòng thủ tập thể theo tinh thần của Hiệp ước Washington, mà thực chất là hệ quả phát sinh từ các hoạt động quân sự chủ động của Mỹ nhằm vào Iran.
Chính vì lý do đó, nhiều đồng minh quan trọng như Anh, Đức (trong NATO), Nhật Bản và Australia (ngoài NATO) đều từ chối tham gia, đồng thời nhấn mạnh chức năng của NATO chỉ giới hạn trong việc bảo vệ lãnh thổ các quốc gia thành viên.
Từ thực trạng này, có thể thấy những gì đang diễn ra không phải là việc thực hiện một nghĩa vụ sẵn có, mà là nỗ lực đơn phương nhằm tạo ra các nghĩa vụ mới theo cách hồi tố dựa trên uy tín thể chế của NATO.
Lập luận rằng những quốc gia hưởng lợi từ eo biển phải có trách nhiệm bảo vệ thực chất chỉ là một yêu cầu chia sẻ chi phí, thay vì là một cam kết an ninh. Tính nhất quán ở đây nằm ở logic giao dịch - cùng một cách tiếp cận từng áp dụng cho vấn đề Greenland, yêu cầu chia sẻ gánh nặng ngân sách hay gây sức ép tiếp cận căn cứ quân sự - nay tiếp tục được sử dụng để buộc các đồng minh gánh vác hậu quả của một chiến dịch mà họ không tham gia.
Cốt lõi của cuộc tranh luận hiện nay nằm ở một vấn đề sâu sắc hơn: sự khác biệt giữa đoàn kết và liên kết. Các đồng minh châu Âu không từ chối hợp tác với Mỹ. Họ đang định nghĩa lại giới hạn của quốc gia này. Thách thức thực sự nằm ở đó.
NATO không còn phải đối mặt với một mối đe dọa thống trị và duy nhất. Liên minh này đang loay hoay trước các ưu tiên mang tính cạnh tranh: Nga ở châu Âu, sự bất ổn ở Trung Đông và cạnh tranh chiến lược ở châu Á.
Câu hỏi không phải là liệu liên minh này có thể hành động ở mọi nơi hay không mà là liệu liên minh có thể làm như vậy mà không mất tập trung hay không? Nếu không đặt ra mục tiêu ưu tiên, NATO có nguy cơ bị dàn trải quá mức, và điều này sẽ chỉ tạo ra sự chia rẽ.
Bài học không phải là NATO nên rút khỏi các thách thức toàn cầu, mà là phải xác định vai trò của mình một cách chính xác hơn. Kỷ luật chiến lược, chứ không phải sự bành trướng, giờ đây là chìa khóa để tạo dựng uy tín.
Cuối cùng, cuộc chiến với Iran không chỉ thử thách vị thế quân sự của NATO mà còn thử thách bản sắc của liên minh. Và nếu NATO không thể dung hòa những gì họ được yêu cầu bảo vệ với những gì các thành viên sẵn sàng chiến đấu vì, thì sự rạn nứt thực sự sẽ không đến từ bên ngoài mà sẽ đến từ bên trong./.
