Kinh tế và Hội nhập

Kết nối và liên thông để bứt phá: Phát triển hạ tầng đa phương thức, mở rộng không gian phát triển của thành phố Quảng Ninh

Thu Thanh • 12/10/2026 13:07

Từ cao tốc xuyên tỉnh, cảng biển, cảng hàng không quốc tế đến đường sắt tốc độ cao và cửa khẩu thông minh, Quảng Ninh đang từng bước định hình một hệ thống kết cấu hạ tầng đa phương thức, đồng bộ và liên thông. Không chỉ rút ngắn khoảng cách địa lý, mạng lưới hạ tầng ấy đang góp phần tổ chức lại không gian kinh tế, tăng cường liên kết vùng, kết nối quốc tế và tạo dư địa cho những động lực tăng trưởng mới.

x-azkxuso_iucjxsnmerzwhbjjmbtcfwp43acnl6idlbvh9fea1gr66cp13vzmh9xyi8qe223rjpvubr23w8tqxkigzm6af7z_3esnizvn2o4kvkd8bhcsovr7rntwnzi1hgphte2ril-n3zvjwyejy7toglexywd.jpeg
Tuyến cao tốc Vân Đồn - Móng Cái góp phần hoàn thiện trục giao thông xuyên thành phố, tăng cường liên kết vùng và mở rộng không gian phát triển của Quảng Ninh_Ảnh: quangninh.gov.vn

Từ đột phá hạ tầng đến tái cấu trúc không gian phát triển

Trong lý luận và thực tiễn phát triển, kết cấu hạ tầng không đơn thuần là điều kiện vật chất bảo đảm sự vận hành của nền kinh tế. Với những địa phương có vị trí địa kinh tế đặc biệt, hạ tầng còn có khả năng định hình lại không gian phát triển, phân bố lại nguồn lực và tạo ra những lợi thế cạnh tranh mới. Quá trình phát triển của Quảng Ninh những năm qua là một minh chứng khá rõ nét cho điều đó.

Nằm ở địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc, vừa có biên giới trên bộ, vừa có không gian biển rộng lớn, đồng thời nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và trên các hành lang giao thương với Trung Quốc, Quảng Ninh sở hữu vị trí chiến lược đặc biệt. Tuy nhiên, vị trí địa lý chỉ có thể trở thành lợi thế phát triển khi được chuyển hóa thành năng lực kết nối.

Trong một thời gian dài, địa hình kéo dài, chia cắt bởi đồi núi, biển và các khu vực dân cư phân bố không đồng đều từng làm gia tăng chi phí giao thông, hạn chế khả năng liên kết giữa miền Đông và miền Tây, cũng như giữa Quảng Ninh với các trung tâm kinh tế lớn trong vùng.

Nhận diện đúng điểm nghẽn đó, Quảng Ninh kiên trì xác định phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại là một trong những đột phá chiến lược; đồng thời chủ động huy động các nguồn lực xã hội, đổi mới phương thức đầu tư để từng bước hoàn thiện hệ thống giao thông.

Dấu ấn rõ nét nhất là việc hình thành trục cao tốc xuyên thành phố từ cầu Bạch Đằng đến Móng Cái. Với tổng chiều dài 176km, gồm các tuyến Hạ Long - Hải Phòng, Hạ Long - Vân Đồn và Vân Đồn - Móng Cái, hệ thống cao tốc được kết nối trực tiếp với cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đồng thời liên thông với quốc lộ, các khu kinh tế, khu công nghiệp, đô thị và trung tâm du lịch của Quảng Ninh.

Ý nghĩa của 176km cao tốc không nằm ở số ki-lô-mét đường được xây dựng. Mà quan trọng hơn, nó góp phần làm thay đổi cấu trúc không gian phát triển của địa phương.

Khi thời gian di chuyển từ Hạ Long tới Móng Cái, từ Vân Đồn tới các trung tâm kinh tế phía Tây được rút ngắn, những khu vực vốn bị chia cắt về địa lý từng bước được đặt trong một chỉnh thể kinh tế thống nhất hơn.

Hạ Long, Quảng Yên, Vân Đồn, Móng Cái không còn chỉ phát triển dựa trên lợi thế riêng lẻ, mà có điều kiện bổ trợ cho nhau trong chuỗi công nghiệp - đô thị - dịch vụ - du lịch - logistics - thương mại biên giới.

Đây là sự chuyển đổi có ý nghĩa quan trọng: hạ tầng không chỉ kết nối các điểm phát triển có sẵn mà còn tạo ra những không gian phát triển mới.

Tư duy đó đang tiếp tục được thể hiện trong những dự án giao thông triển khai giai đoạn hiện nay. Tuyến đường ven sông kết nối từ cao tốc Hạ Long - Hải Phòng đến khu vực Đông Triều dài hơn 40km, đi qua Quảng Yên, Uông Bí, Đông Triều, khi hoàn thành sẽ tạo thêm một trục động lực cho khu vực phía Tây, góp phần phân bổ lại lưu lượng giao thông và hình thành mạng lưới kết nối đa hướng thay vì phụ thuộc vào một số trục chính.

Điều đáng chú ý là giá trị của tuyến đường không chỉ được nhìn nhận ở năng lực vận tải. Không gian hai bên tuyến có điều kiện trở thành hành lang phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ, du lịch văn hóa - lịch sử; đồng thời tăng cường kết nối Quảng Ninh với Hải Phòng và các trung tâm sản xuất lớn của vùng đồng bằng sông Hồng.

Nếu khu vực phía Tây mở rộng liên kết về phía Hải Phòng và vùng Thủ đô, thì ở phía Đông, cấu trúc giao thông tiếp tục hướng tới tăng cường liên kết giữa Vân Đồn, Hải Hà, Móng Cái với hệ thống cảng biển, cửa khẩu và thị trường Trung Quốc.

Như vậy, thay vì phát triển trên một hành lang đơn tuyến, Quảng Ninh đang từng bước chuyển sang mô hình mạng lưới giao thông nhiều trục, nhiều hướng và nhiều phương thức, trong đó các tuyến ngang, tuyến dọc và các đầu mối giao thông hỗ trợ lẫn nhau.

Một bước phát triển mới có ý nghĩa chiến lược là dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh được khởi công ngày 12-4-2026. Tuyến dài khoảng 120,2km, đi qua Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng và Quảng Ninh; tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ, riêng đoạn qua Hà Nội có tốc độ tối đa 120km/h.

Theo kế hoạch, dự án dự kiến được đưa vào khai thác thương mại năm 2028, khi đó thời gian di chuyển từ Hà Nội tới Quảng Ninh có thể giảm từ hơn hai giờ xuống còn khoảng 30 phút.

Nếu hệ thống cao tốc đã góp phần thay đổi tương quan khoảng cách giữa các khu vực trong tỉnh và giữa Quảng Ninh với vùng Đồng bằng sông Hồng, thì đường sắt tốc độ cao có khả năng tạo ra một cấp độ liên kết mới.

Khi khoảng cách giữa Hà Nội và Quảng Ninh được đo bằng khoảng 30 phút di chuyển, phạm vi của thị trường lao động, du lịch, dịch vụ, thương mại và đầu tư cũng sẽ được mở rộng tương ứng.

Do đó, vấn đề đặt ra, không chỉ là khai thác một tuyến đường sắt mới, mà Quảng Ninh phải chủ động tổ chức không gian phát triển xung quanh các nhà ga, nghiên cứu các mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng, kết nối ga đường sắt với các khu đô thị, khu du lịch, trung tâm thương mại và các đầu mối giao thông khác. Chỉ khi đó, giá trị gia tăng do hạ tầng tạo ra mới được chuyển hóa đầy đủ thành nguồn lực phát triển.

bat921826Kiến tạo cực tăng trưởng mới từ logistics và cảng biển3
Phối cảnh bến cảng tổng hợp Vạn Ninh đang được nhà đầu tư triển khai xây dựng_Ảnh: quangninh.gov.vn

Liên thông đa phương thức, nâng tầm năng lực logistics và kết nối quốc tế

Nếu giai đoạn trước, thước đo quan trọng của phát triển hạ tầng là số lượng và quy mô công trình, thì yêu cầu của giai đoạn mới phải là mức độ liên thông và hiệu quả khai thác toàn mạng lưới. Đây chính là điểm cốt lõi của phát triển giao thông đa phương thức.

Quảng Ninh có lợi thế đặc biệt khi hội tụ tương đối đầy đủ các loại hình giao thông, từ đường bộ, đường sắt, đường biển, đường thủy nội địa đến hàng không.

Nhưng có nhiều phương thức vận tải chưa đồng nghĩa với việc đã hình thành được một hệ thống vận tải đa phương thức hiện đại. Giá trị chỉ thực sự được tạo ra khi các phương thức ấy kết nối thuận lợi, cho phép hàng hóa và hành khách chuyển đổi phương thức nhanh chóng, giảm thời gian và chi phí.

Trong cấu trúc đó, cảng biển giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Sáu tháng đầu năm 2026, tổng lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Quảng Ninh đạt hơn 93,7 triệu tấn, tăng 14,21% so với cùng kỳ năm 2025.

Quy mô này cho thấy tiềm năng rất lớn của kinh tế cảng biển, đồng thời khẳng định vai trò ngày càng rõ của Quảng Ninh trong chuỗi logistics khu vực phía Bắc và giao thương quốc tế. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào tổng sản lượng hàng hóa qua cảng sẽ chưa phản ánh đầy đủ chất lượng phát triển logistics.

Quảng Ninh hiện có 738 doanh nghiệp tham gia hoạt động trong lĩnh vực logistics, 23 đại lý tàu biển và 10 doanh nghiệp cung ứng dịch vụ lai dắt, hỗ trợ tàu biển; doanh thu ngành vận tải, kho bãi đạt trên 37.500 tỷ đồng mỗi năm.

Song, sản lượng container thông qua hệ thống cảng mới đạt khoảng 150.000 TEU, trong khi Hải Phòng đạt khoảng 6 triệu TEU/năm. Nguồn hàng chưa ổn định, dịch vụ kho bãi còn thiếu và nhân lực logistics chất lượng cao vẫn là những điểm nghẽn đáng chú ý.

Đây là vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắn. Bởi mục tiêu của phát triển cảng biển không thể chỉ dừng lại ở tăng sản lượng hàng hóa bốc xếp, mà phải nâng tỷ trọng giá trị gia tăng được giữ lại tại địa phương thông qua logistics, kho bãi, phân phối, giao nhận, vận tải đa phương thức, dịch vụ tài chính, bảo hiểm và thương mại.

Nói cách khác, Quảng Ninh cần chuyển từ lợi thế “có cảng” sang năng lực cạnh tranh của một “hệ sinh thái cảng - công nghiệp - logistics”.

Muốn vậy, hệ thống cảng phải được kết nối hiệu quả với các khu kinh tế, khu công nghiệp, cao tốc, đường sắt và cửa khẩu. Các trung tâm logistics cần được quy hoạch theo dòng hàng thực tế; đồng thời tăng cường khả năng kết nối với Hải Phòng, vùng sản xuất của đồng bằng sông Hồng và các tuyến thương mại xuyên biên giới.

Trong cấu trúc liên thông ấy, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn là một mắt xích quan trọng. Theo Quyết định số 753/QĐ-BXD, ngày 19-5-2026, của Bộ Xây dựng, thời kỳ 2021 - 2030, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn được quy hoạch với công suất khoảng 2,5 triệu hành khách và 5.000 tấn hàng hóa/năm; tầm nhìn đến năm 2050 đạt khoảng 20 triệu hành khách và 200.000 tấn hàng hóa/năm.

Quy mô quy hoạch này cho thấy Vân Đồn không chỉ được định vị như cửa ngõ phục vụ du lịch, mà còn có khả năng tham gia sâu hơn vào hệ thống logistics hàng không.

Đây là điều kiện để phát triển vận tải các nhóm hàng có giá trị cao, yêu cầu thời gian giao nhận ngắn; đồng thời hỗ trợ thu hút các ngành sản xuất, dịch vụ và thương mại có hàm lượng công nghệ cao.

Ở phía Đông, Móng Cái giữ vai trò cửa ngõ quan trọng kết nối Việt Nam với thị trường Trung Quốc. Ngày 11-2-2026, Quảng Ninh và Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc) khởi động xây dựng cửa khẩu thông minh Móng Cái - Đông Hưng tại khu vực cầu Bắc Luân II.

Ý nghĩa của cửa khẩu thông minh không chỉ nằm ở ứng dụng công nghệ. Về bản chất, đây là quá trình số hóa và hiện đại hóa một mắt xích quan trọng của chuỗi logistics xuyên biên giới.

Khi thủ tục, phương tiện, hàng hóa và dữ liệu được kết nối hiệu quả hơn, thời gian thông quan có thể được rút ngắn, năng lực lưu chuyển hàng hóa được nâng lên và chi phí giao dịch có điều kiện giảm xuống.

Đặt các cấu phần đó trong một chỉnh thể có thể thấy rõ một cấu trúc kết nối mới đang hình thành: từ vùng Thủ đô và các trung tâm sản xuất phía Bắc qua Hải Phòng tới Quảng Yên - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái; từ khu công nghiệp qua cao tốc, đường sắt tới cảng biển, sân bay và cửa khẩu; từ thị trường trong nước kết nối với Trung Quốc và rộng hơn là các chuỗi cung ứng khu vực.

Đây chính là nền tảng để Quảng Ninh chuyển từ vị thế một địa phương nằm trên hành lang giao thương thành một địa bàn tham gia tổ chức và cung cấp dịch vụ cho các dòng giao thương.

Sự khác biệt giữa 2 vị thế này rất lớn. Ở vị thế thứ nhất, hàng hóa có thể chỉ đi qua. Ở vị thế thứ hai, địa phương có thể giữ lại giá trị từ sản xuất, trung chuyển, kho vận, phân phối, thương mại và các dịch vụ hỗ trợ.

Vì vậy, nâng cao khả năng liên thông đa phương thức phải được xem là một trong những điều kiện quyết định để chuyển lợi thế vị trí địa kinh tế thành năng lực cạnh tranh thực chất.

rfy-sbtoobed2kymqb6kc-6zfnwyxybciaasowjrbus0zqrqmiphh5tfr2s8jybngfyirt1wln8nbqvld7bdk3vj-pufotpikfaablokviqzpfs_wuhwvcrle6cipw44n8fykv1m3ugxwmeorubm0h5-9ery9eghv.jpeg
Hạ tầng giao thông đồng bộ tạo động lực thu hút đầu tư, phát triển các khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ, góp phần mở rộng không gian kinh tế phía Tây tỉnh Quảng Ninh_Ảnh: quangninh.gov.vn

Biến lợi thế kết nối thành các cực tăng trưởng và dư địa phát triển mới

Quy hoạch Quảng Ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 80/QĐ-TTg, ngày 11-2-2023, đã xác lập định hướng tổ chức không gian phát triển trong mối quan hệ chặt chẽ với vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và các hành lang kinh tế quốc tế.

Điều này đặt ra một yêu cầu quan trọng: không thể tiếp tục xem kết cấu hạ tầng giao thông như một lĩnh vực phát triển độc lập. Hạ tầng phải trở thành công cụ để tổ chức lại không gian kinh tế, phân bổ nguồn lực và hình thành các cực tăng trưởng.

Theo hướng đó, khu vực phía Tây với Quảng Yên - Uông Bí - Đông Triều có điều kiện tăng cường liên kết với Hải Phòng, Bắc Ninh, Hà Nội và các trung tâm công nghiệp của vùng đồng bằng sông Hồng, qua đó phát triển mạnh công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics, đô thị và dịch vụ.

Khu vực Hạ Long tiếp tục phát huy vai trò trung tâm về đô thị, dịch vụ, du lịch, kinh tế biển, đồng thời tăng cường chức năng kết nối giữa hai không gian phát triển phía Đông và phía Tây.

Trong khi đó, Vân Đồn - Hải Hà - Móng Cái có khả năng hình thành một hành lang kinh tế phía Đông gắn với cảng hàng không quốc tế, hệ thống cảng biển, khu kinh tế cửa khẩu, thương mại biên giới và thị trường Trung Quốc.

Nhìn từ cấu trúc đó, hạ tầng đang góp phần làm thay đổi căn bản khái niệm về “trung tâm” và “ngoại vi”. Một khu vực từng xa các trung tâm kinh tế có thể trở thành điểm đến đầu tư mới khi được kết nối bằng cao tốc hoặc đường sắt; một vùng đất có giá trị thấp có thể hình thành không gian công nghiệp - đô thị - dịch vụ mới khi nằm trên một hành lang giao thông chiến lược. Đây chính là hiệu ứng phát triển quan trọng nhất của đầu tư hạ tầng.

Kết quả tăng trưởng gần đây phần nào phản ánh sức bật của nền kinh tế Quảng Ninh trong không gian phát triển mới, GRDP quý III - 2026 của Quảng Ninh tăng 15,04%; tính chung 9 tháng năm 2026 tăng 12,54%, đứng thứ nhất cả nước về tốc độ tăng trưởng trong cả quý III và 9 tháng.

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng cao càng đặt ra yêu cầu phải củng cố các nền tảng dài hạn. Hạ tầng đã tạo ra “đường băng”, nhưng để nền kinh tế cất cánh bền vững cần có những động lực tăng trưởng đủ mạnh vận hành trên đường băng đó.

Bởi vậy, thách thức của Quảng Ninh trong giai đoạn tới không còn chủ yếu là “có thêm bao nhiêu ki-lô-mét đường”, mà là “mỗi ki-lô-mét hạ tầng tạo thêm bao nhiêu giá trị phát triển”.

Điều này đòi hỏi trước hết phải tiếp tục hoàn thiện những mắt xích còn thiếu của mạng lưới giao thông, nhất là kết nối đường sắt với cảng biển, khu công nghiệp; kết nối hậu phương cảng; hệ thống logistics; kết nối sân bay với các trung tâm đô thị, du lịch; kết nối cửa khẩu với mạng lưới vận tải trong nước.

Cùng với đó, cần đặt hiệu quả liên kết vùng vào trung tâm của tư duy quy hoạch và đầu tư. Một dự án hạ tầng lớn không nên chỉ được đánh giá bằng lưu lượng giao thông nội tỉnh, mà cần được xem xét từ khả năng kết nối Quảng Ninh với vùng Thủ đô, Hải Phòng, Bắc Ninh, các hành lang kinh tế phía Bắc và thị trường Trung Quốc.

Đặc biệt, cần chuyển mạnh từ tư duy “đầu tư công trình” sang “phát triển hệ sinh thái quanh công trình”. Ga đường sắt phải gắn với phát triển đô thị và dịch vụ; cảng biển phải gắn với khu công nghiệp và logistics; sân bay phải gắn với du lịch, thương mại, dịch vụ và các ngành hàng giá trị cao; cửa khẩu phải gắn với trung tâm kho vận, thương mại và chuỗi cung ứng xuyên biên giới.

Đây chính là phương thức để khai thác “địa tô phát triển” do hạ tầng tạo ra, đồng thời mở rộng nguồn lực cho tái đầu tư.

Mặt khác, phát triển hạ tầng trong giai đoạn mới cũng phải gắn chặt với yêu cầu chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Một hệ thống giao thông hiện đại không chỉ cần nhanh hơn mà phải hiệu quả hơn về năng lượng, thân thiện hơn với môi trường và thông minh hơn trong quản trị.

Điều này đặc biệt quan trọng đối với Quảng Ninh - địa phương vừa có nền tảng công nghiệp, khai khoáng, vừa sở hữu Di sản thiên nhiên thế giới và đặt mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bền vững.

Sau hơn 1 thập niên tạo đột phá về hạ tầng, Quảng Ninh đã tích lũy được một lợi thế quan trọng mà không phải địa phương nào cũng có: một mạng lưới kết nối ngày càng hoàn chỉnh giữa đường bộ, đường biển, hàng không, đường sắt và cửa khẩu quốc tế.

Nhưng chính thành quả đó cũng đặt ra yêu cầu phát triển ở một trình độ cao hơn. Nếu giai đoạn trước là kết nối để phá thế chia cắt, thì giai đoạn tới phải là liên thông để tối ưu hóa nguồn lực và tổ chức lại không gian phát triển.

Giai đoạn trước lấy từng công trình giao thông làm động lực, thì giai đoạn tới phải lấy mạng lưới hạ tầng và hệ sinh thái kinh tế hình thành trên mạng lưới ấy làm động lực.

Trước đây, lợi thế của Quảng Ninh chủ yếu được xác định bởi vị trí “cửa ngõ”, thì trong giai đoạn phát triển mới, năng lực cạnh tranh phải được đo bằng khả năng biến vị trí cửa ngõ ấy thành trung tâm kết nối, trung chuyển, sản xuất, dịch vụ và sáng tạo giá trị.

Đó cũng là chiều sâu của yêu cầu “kết nối và liên thông để bứt phá”. Hạ tầng đa phương thức không chỉ giúp Quảng Ninh đi nhanh hơn, mà quan trọng hơn, đang tạo điều kiện để địa phương mở rộng không gian phát triển, tái cấu trúc các động lực tăng trưởng và nâng cao vị thế trong mạng lưới kinh tế vùng, quốc gia và quốc tế./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Kết nối và liên thông để bứt phá: Phát triển hạ tầng đa phương thức, mở rộng không gian phát triển của thành phố Quảng Ninh
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO