Văn hóa - Xã hội

Yêu cầu xây dựng thế trận an ninh văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số

Xuân Vinh 26/05/2026 08:55

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số, văn hóa ngày càng trở thành không gian cạnh tranh về giá trị, nơi đan xen giữa xây dựng và bảo vệ. Từ các quan điểm và nhiệm vụ được xác lập trong Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, yêu cầu đặt ra cùng với phát triển văn hóa là xây dựng thế trận an ninh, bảo đảm văn hóa phát triển trong môi trường lành mạnh, để văn hóa thực sự là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

van-hoa-1.jpg
Khối Văn hóa, Thể thao diễu hành trong Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9 tại Hà Nội, ngày 2-9-2025_Ảnh: TTXVN

Nhận diện những thách thức

Thách thức trong bối cảnh toàn cầu hóa

An ninh văn hóa được hiểu là bảo đảm sự an toàn cho phát triển văn hóa đúng hướng vì lợi ích của dân tộc, của cộng đồng xã hội. Đồng thời, an ninh văn hóa còn là sự bảo đảm các quyền sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa của con người, bảo đảm cho các giá trị văn hóa của nhân loại được bảo tồn và phát huy.

Ngày nay, toàn cầu hóa mở ra cơ hội giao lưu và tiếp thu tinh hoa nhân loại, nhưng cũng đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển văn hóa.

Việt Nam là một trong những quốc gia có nền kinh tế mở cửa sâu rộng và mắt xích chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Hàng hóa, dịch vụ, dòng vốn, dòng người và đặc biệt là dòng chảy thông tin, sản phẩm văn hóa ra vào biên giới với tốc độ chưa từng có.

Đây là cơ hội để văn hóa Việt Nam bước ra thế giới, nhưng đồng thời cũng là thách thức đối với việc giữ gìn bản sắc. Nếu không giữ được ngôn ngữ, ký ức, bản sắc, hệ giá trị, chúng ta rất dễ bị hòa tan trong “biển lớn” toàn cầu hóa.

Toàn cầu hóa dẫn đến các quốc gia phải đối mặt với nguy cơ “xâm lăng và đồng hóa văn hóa”. Đó là tình trạng các giá trị, lối sống và sản phẩm văn hóa của một quốc gia, dân tộc này bị áp đặt hoặc tự nguyện tiếp thu một cách thụ động bởi một quốc gia, dân tộc khác, dẫn đến sự suy yếu và mất đi bản sắc gốc.

Bản chất của “xâm lăng văn hóa” là tạo ra sức mạnh mềm thống trị, biến các quốc gia khác thành "thuộc địa văn hóa" để phục vụ các tham vọng chính trị và kinh tế. Các quốc gia phát triển sử dụng phim ảnh, âm nhạc, thời trang, thức ăn nhanh và công nghệ để truyền bá lối sống, tư tưởng của họ ra toàn cầu.

Tạo dòng chảy một chiều, sự bất bình đẳng về công nghệ và tài chính khiến các sản phẩm văn hóa phương Tây hoặc các cường quốc văn hóa tràn ngập thị trường các nước đang phát triển, đẩy văn hóa bản địa vào thế yếu.

Sự “xâm lăng và đồng hóa văn hóa” làm thay đổi tiêu chuẩn thẩm mỹ, đặc biệt một bộ phận giới trẻ có xu hướng coi các chuẩn mực cái đẹp, lối sống, cách hành xử của nước ngoài là “thời thượng” và quay lưng với các giá trị truyền thống bị cho là “lạc hậu”.

Sự “xâm lăng và đồng hóa văn hóa” dẫn đến phai nhạt bản sắc dân tộc, bào mòn các giá trị cốt lõi và hệ tư tưởng của quốc gia bị xâm lăng, từ đó dẫn đến sự đồng hóa và phụ thuộc. Các sản phẩm văn hóa giải trí từ các quốc gia phát triển với lợi thế về công nghệ và chiến lược truyền thông mạnh mẽ dễ dàng lan tỏa, có nguy cơ lấn át văn hóa bản địa.

Thực tế đó tạo ra nguy cơ thất truyền di sản văn hóa, các loại hình nghệ thuật truyền thống, phong tục, tập quán và ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số hoặc các giá trị văn hóa cổ truyền rất khó cạnh tranh, dễ dẫn đến tình trạng bị lãng quên hoặc mai một.

Hệ quả đối với các quốc gia là mất an ninh văn hóa. Một quốc gia đánh mất an ninh văn hóa sẽ mất đi “bộ lọc” bảo vệ trước các tư tưởng độc hại bên ngoài, dễ bị tổn thương và bị thao túng về mặt chính trị, xã hội.

Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, những hệ lụy khó lường từ các sản phẩm văn hóa độc hại xuất hiện dày đặc trên mạng tác động tiêu cực tới nhận thức của người dân. Làm xói mòn đạo đức, lệch lạc nhận thức giới trẻ, kích động hành vi bạo lực, và tiềm ẩn nguy cơ gây “tự diễn biến” về tư tưởng chính trị, phá vỡ hệ giá trị truyền thống.

Những thay đổi trong tư tưởng, văn hóa thường ngấm ngầm, không dễ nhìn thấy nhưng khi nó đã biểu hiện ra thì có thể gây ra những hậu qủa rất nghiêm trọng.

Tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên tha hóa về đạo đức, lối sống, một bộ phận thanh, thiếu niên “nhiễm” tư tưởng sống buông thả, sống gấp, hưởng thụ, thiếu lý tưởng cống hiến,... đã cho thấy một phần là do các yếu tố tiêu cực về văn hóa, sự tác động từ bên ngoài.

Thách thức trong bối cảnh chuyển đổi số

Trong bối cảnh thế giới đang trong tiến trình xác lập trật tự mới với những chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có, cạnh tranh giữa các quốc gia không còn giới hạn ở các lĩnh vực truyền thống như kinh tế, quân sự hay công nghệ cứng, mà đã mở rộng mạnh mẽ sang lĩnh vực văn hóa - nơi diễn ra cuộc tranh đoạt gay gắt về ảnh hưởng giá trị, bản sắc và “sức mạnh mềm” trên không gian toàn cầu, đặc biệt là không gian số.

Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, cùng với tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang làm thay đổi căn bản các chuẩn mực ứng xử và hệ giá trị văn hoá, đặt ra nhu cầu cấp thiết về định vị quốc gia trong trật tự thế giới mới.

van-hoa-7.jpg
Trình diễn âm nhạc truyền thống Việt Nam tại Trung Quốc_Ảnh: TTXVN

Sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với chuyển đổi số làm trung tâm, đã biến văn hóa thành một “mặt trận” chiến lược then chốt, nơi các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới không chỉ mang lại cơ hội lan tỏa tinh hoa văn minh nhân loại, xóa bỏ rào cản địa lý và tối ưu hóa giá trị của các di sản, mà còn kéo theo những mối đe dọa nghiêm trọng từ sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai phản cảm, phi văn hóa, gây xung đột giá trị sâu sắc, gây rạn nứt cấu trúc gia đình và xã hội bản địa, kích động chia rẽ dân tộc, tôn giáo, và trực tiếp đe dọa đến bản sắc dân tộc, sự ổn định xã hội cũng như an ninh quốc gia của các dân tộc độc lập.

Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã nhận diện một cách sắc bén và toàn diện thực trạng này khi chỉ rõ: “Sự bùng nổ các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới kéo theo sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai phản cảm, phi văn hoá gây xung đột giá trị và tác động tiêu cực đến việc gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử, truyền thống văn hoá của dân tộc và xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trong giai đoạn mới”.

Đây không chỉ là nhận định khách quan dựa trên phân tích thực tiễn, mà còn là lời cảnh báo chiến lược sâu sắc, đặt vấn đề an ninh văn hóa, an ninh con người và đặc biệt là chủ quyền văn hóa số vào mối quan hệ hữu cơ, biện chứng với quốc phòng, an ninh quốc gia và đối ngoại nhân dân. Đây là bước phát triển đột phá trong tư duy đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa trong kỷ nguyên số.

Khái niệm chủ quyền văn hóa số ở đây được hiểu là khả năng của một quốc gia trong việc bảo vệ, định hướng và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc trên không gian mạng trước sức ép của các dòng chảy thông tin toàn cầu hóa, nơi ranh giới địa lý truyền thống bị xóa nhòa và các thuật toán, dữ liệu lớn có thể trở thành công cụ thao túng nhận thức xã hội.

Với gần 80% dân số sử dụng Internet, thời gian trung bình lên mạng xã hội nhiều giờ mỗi ngày, không gian số đã trở thành không gian văn hóa thứ hai của người Việt Nam. Hơn 76 triệu tài khoản mạng xã hội hoạt động thường xuyên cho thấy mức độ tham gia sâu rộng của người dân vào các không gian văn hóa trực tuyến.

Người trẻ tiếp nhận phần lớn thông tin, tri thức, giải trí, giao tiếp trên môi trường số. Ở đó, sản phẩm văn hóa của thế giới tràn ngập cả về tích cực lẫn tiêu cực, trong khi sản phẩm văn hóa Việt Nam trên môi trường số vẫn còn khiêm tốn về số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt là chất lượng số, tính cạnh tranh chưa cao.

Các nền tảng xuyên biên giới sử dụng thuật toán định hình lối sống, thị hiếu giới trẻ, gây nguy cơ lu mờ các giá trị truyền thống. Sự bùng nổ thông tin độc hại: các trào lưu “rác mạng”, bạo lực, lối sống thực dụng, các nội dung sai lệch, tiêu cực và có hại, “câu view” bất chấp đạo đức làm lệch chuẩn hệ giá trị xã hội lan truyền với tốc độ chóng mặt, vượt quá khả năng kiểm soát của các cơ quan quản lý và người dùng.

Hiện tượng này làm suy yếu nền tảng đạo đức cộng đồng, gây bất ổn định, lo lắng, bức xúc trong xã hội, đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội, và đòi hỏi các biện pháp can thiệp.

Bên cạnh đó, trong chiến lược “diễn biến hòa bình” với Việt Nam, lĩnh vực tư tưởng - văn hóa được các thế lực thù địch coi là "khâu đột phá" và trọng điểm tấn công nhằm làm chệch hướng tư tưởng và gây ra tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong nội bộ.

Bằng nhiều cách thức khác nhau, các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế để phát tán các sản phẩm văn hóa độc hại, đồi trụy, truyền bá lối sống thực dụng, cá nhân chủ nghĩa, văn hóa ngoại lai, tư tưởng coi trọng vật chất và hưởng thụ, để làm phai nhạt các giá trị đạo đức truyền thống, nhằm tác động đến tâm lý, thị hiếu và lối sống của quần chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, mưu đồ khiến người dân Việt Nam bị tha hóa, mất kết nối với các giá trị vốn là nền tảng văn hóa tinh thần dân tộc.

Giai đoạn trước đây, quá trình này diễn ra âm thầm và thường diễn ra trong một thời gian dài, nhưng hiện nay với sự hỗ trợ đắc lực của Internet và các phương tiện kỹ thuật khác, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), âm mưu “diễn biến hòa bình” trên phương diện văn hóa ngày càng công khai, tốc độ lan truyền nhanh chóng hơn, dẫn đến những hệ lụy vô cùng phức tạp và khó lường.

Trên các nền tảng số, chúng tăng cường đưa các phim, ảnh, bài viết có nội dung bôi nhọ, bóp méo lịch sử dân tộc Việt Nam, các sản phẩm văn hóa lai căng làm tha hóa giới trẻ, băng hoại đạo đức xã hội.

Việc đưa tin giả, xuyên tạc nói xấu cán bộ lãnh đạo, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước được thực hiện với tần suất dày đặc, trắng trợn. Đồng thời các đối tượng, tổ chức chống phá, thù địch liên tục phát tán các clip, chương trình hòng xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận những thành quả cách mạng của nhân dân ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chúng cũng không ngừng cổ xúy cho các “giá trị” được gọi là “văn minh”, đề cao vấn đề “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “góc nhìn đa chiều”, “tính nhân văn” với mục tiêu kích động phần tử chống đối trong nước và các tổ chức người Việt lưu vong ở nước ngoài hợp lực, chống phá chế độ.

Yêu cầu xây dựng thế trận an ninh văn hóa

Xây dựng “thế trận an ninh văn hóa” là nhiệm vụ chiến lược được Bộ Chính trị nhấn mạnh trong Nghị quyết số 80-NQ/TW nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trọng tâm là kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, phát huy sức tối đa giá trị và sức mạnh của văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên số.

Chuyển đổi số - không gian mới, xung lực mới cho văn hóa Việt Nam

Trong hệ thống các quan điểm chỉ đạo cốt lõi của Nghị quyết số 80-NQ/TW, quan điểm thứ 4 được khẳng định một cách mạnh mẽ: “Đầu tư cho văn hoá là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc. Đổi mới căn bản, toàn diện tư duy về huy động mọi nguồn lực để phát triển văn hoá, trong đó nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực xã hội, khu vực tư nhân là động lực quan trọng; thể chế đóng vai trò then chốt, nhất là cơ chế, chính sách đột phá để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho văn hoá, thu hút, trọng dụng nhân tài. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hoá.”

Quan điểm này không chỉ đặt chuyển đổi số ngang hàng với các trụ cột truyền thống như thể chế, nguồn lực con người và hội nhập quốc tế, mà còn xác định nó là yếu tố kiến tạo “không gian mới” và “xung lực mới”, biến văn hóa từ một lĩnh vực thuần túy bảo tồn truyền thống thành một động lực sáng tạo chủ động, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và nền kinh tế số toàn cầu.

Đồng thời, quan điểm thứ 5 của Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh nguyên tắc xử lý hài hòa, hiệu quả các mối quan hệ nội tại của văn hóa. Phát huy tối đa giá trị và sức mạnh văn hoá, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới; nhận thức và xử lý hài hoà, hiệu quả các mối quan hệ nội tại của văn hoá: giữa “xây” và “chống”; truyền thống và hiện đại; dân tộc và quốc tế; bảo tồn và phát triển; đại chúng và bác học; đời sống thực và không gian số; dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hoá số.

Việc đặt chủ quyền văn hóa số vào trung tâm các mối quan hệ này phản ánh nhận thức sâu sắc của Đảng về tính hai mặt của chuyển đổi số: vừa là cơ hội để lan tỏa giá trị văn hóa dân tộc ra toàn cầu, vừa là thách thức lớn đối với việc bảo vệ bản sắc, ngăn chặn sự xâm lấn của các dòng chảy văn hóa ngoại lai tiêu cực.

Chủ quyền văn hóa số ở đây được hiểu là năng lực của quốc gia trong việc làm chủ hạ tầng dữ liệu văn hóa, hạ tầng nền tảng, định hướng nội dung số, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quản trị không gian mạng và bảo đảm an ninh thông tin văn hóa, từ đó xây dựng một thế trận an ninh văn hóa vững chắc gắn liền với quốc phòng, an ninh quốc gia và đối ngoại.

Như vậy, chuyển đổi số được Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định là công cụ chiến lược hàng đầu để bảo vệ và phát huy chủ quyền văn hóa, đồng thời nâng tầm sức mạnh mềm quốc gia. Chuyển đổi số góp phần xây dựng thế trận an ninh văn hóa và gắn bó chặt chẽ với thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.

Bảo vệ vững chắc an ninh tư tưởng – văn hóa

Một trong những nhiệm vụ mà Nghị quyết số 80-NQ/TW đề ra là quán triệt quan điểm phát triển văn hoá ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, gắn với xây dựng thế trận an ninh văn hoá, an ninh con người, chủ quyền văn hoá số.

Tạo dựng và định hướng môi trường văn hoá, thông tin, thị hiếu lành mạnh; đẩy mạnh giáo dục các hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; phát hiện và nhân rộng các gương người tốt, việc tốt. Chủ động quảng bá văn hoá dân tộc ra thế giới, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại.

Nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc gắn với phát triển kinh tế số, xã hội số đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải bảo vệ vững chắc an ninh tư tưởng – văn hóa trong tình hình mới.

Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, bảo vệ không gian mạng và an ninh con người trước các âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng sự phát triển của công nghệ số để tăng cường chống phá nền tảng tư tưởng, truyền bá văn hóa độc hại, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm suy giảm niềm tin xã hội.

Tăng cường nhận diện và đấu tranh với thủ đoạn thâm độc chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội. Cần đấu tranh theo phương châm “kiên quyết, kiên trì, kịp thời, liên tục, triệt để và có sức thuyết phục cao”. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy việc xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp làm tiền đề để bảo vệ vững chắc an ninh tư tưởng – văn hóa.

Phát triển văn hoá vì sự hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới và xây dựng con người để phát triển văn hoá. Tạo lập môi trường văn hoá nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại.

Phát triển toàn diện văn hoá, con người Việt Nam trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; phát huy truyền thống yêu nước, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần tự chủ, tự cường dân tộc, đề cao đạo đức, tài năng, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến vì sự phồn vinh, văn minh, hạnh phúc của nhân dân và sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Tăng cường “hệ miễn dịch” văn hóa của cộng đồng

Xây dựng “thế trận an ninh văn hoá” gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Chủ động nhận diện và đấu tranh trực diện với các thông tin xuyên tạc, luận điệu thù địch, cơ hội chính trị.

Đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực, suy thoái về đạo đức, lối sống, các biểu hiện thực dụng, “lợi ích nhóm” trong hoạt động văn hoá. Kiên quyết xử lý thông tin xấu độc, phản văn hoá, tin giả trên mạng xã hội và phương tiện thông tin khác.

Phát huy vai trò nền tảng của văn hoá trong việc hình thành bản lĩnh, “sức đề kháng” trước các tác động lệch chuẩn của văn hoá ngoại lai; giữ gìn thuần phong mỹ tục, vun đắp niềm tự hào và khát vọng cống hiến vì sự phát triển của đất nước.

Tăng cường lan tỏa năng lượng tích cực trên Internet, "phủ xanh" không gian mạng bằng những nội dung hữu ích, tấm gương người tốt, việc tốt, tinh thần lạc quan thông qua việc sáng tạo nội dung truyền cảm hứng, chia sẻ các câu chuyện nhân văn, và tương tác lành mạnh để xây dựng một cộng đồng trực tuyến văn minh, đẩy lùi thông tin tiêu cực.

nghe-nhan-vuong-thi-nhung-voi-nghe-truyen-thong-theu-co-to-quoc.jpg
Để xây dựng "thế trận an ninh văn hóa" trong tình hình mới phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, mà trước hết là nâng cao nhận thức về vị trí và vai trò của văn hóa trong phát triển ổn định và bền vững đất nước_Ảnh: happy.vietnam.vn

Để xây dựng “thế trận an ninh văn hóa” trong tình hình mới, đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, mà trước hết là nâng cao nhận thức về vị trí và vai trò của văn hóa trong phát triển ổn định và bền vững đất nước.

Muốn như vậy, cần nâng cao tầm hiểu biết của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên về văn hóa sẽ giúp tạo ra “vắc-xin đề kháng” mạnh mẽ chống lại các tác nhân độc hại xâm nhập từ bên ngoài.

Trong bối cảnh các đối tượng xấu không ngừng tấn công với mong muốn làm suy yếu “hệ miễn dịch” văn hóa của người dân, càng phải tận dụng triệt để các lợi thế của công nghệ để tuyên truyền, giáo dục, phổ cập cho người dân những giá trị tốt đẹp của văn hóa Việt Nam.

Cần tuyên truyền, lan tỏa mạnh mẽ hơn nữa những quan điểm, định hướng, giải pháp phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước để người dân thấm nhuần. Bên cạnh đó là nâng cao dân trí, trang bị kiến thức, kỹ năng nhận diện những quan điểm, thông tin lệch chuẩn, đây là nền tảng cốt lõi giúp người dân sàng lọc, loại bỏ những sản phẩm văn hóa độc hại, lai căng trên không gian mạng, xây dựng năng lực tự đề kháng nội sinh cho người dân.

Xây dựng “thế trận an ninh văn hóa”, bảo đảm văn hóa phát triển trong môi trường lành mạnh cần thực hiện đồng bộ các giải pháp hơn nữa trong việc nâng cao nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy; hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện; đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng kiến tạo, phục vụ; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ; thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Yêu cầu xây dựng thế trận an ninh văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO