Tháo gỡ điểm nghẽn trong chính sách tài chính, tiền tệ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và huy động nguồn lực xã hội. Tuy nhiên, tiếp cận tài chính, nhất là tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn là điểm nghẽn do hạn chế về tài sản bảo đảm, thông tin và năng lực quản trị. Vì vậy, để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, một trong những nhiệm vụ quan trọng là đổi mới chính sách tài chính, tiền tệ đối với nhóm doanh nghiệp này theo hướng đa dạng hóa nguồn vốn, chia sẻ rủi ro, giảm chi phí và nâng cao khả năng hấp thụ vốn.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa - động lực quan trọng của tăng trưởng và phát triển kinh tế
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là bộ phận quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp, có vị trí ngày càng rõ nét trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính), DNNVV chiếm gần 98% trong tổng số hơn 940 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động ở Việt Nam, hiện diện ở hầu hết các ngành, lĩnh vực và địa bàn.
Đây là lực lượng sản xuất quan trọng, góp phần huy động nguồn lực xã hội, tạo việc làm, cải thiện thu nhập, đóng góp ngân sách và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Những năm gần đây, cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục có bước phát triển cả về số lượng và năng lực hoạt động. Năm 2025, cả nước có gần 297,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 27,4% so với năm 2024, trong đó có 195,1 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và 102,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động.
Đây là mức cao nhất từ trước đến nay, cho thấy sức sống, khả năng thích ứng và xu hướng phục hồi, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh của khu vực doanh nghiệp.
Cùng với sự gia tăng về số lượng, ngày càng có nhiều DNNVV chủ động ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới mô hình kinh doanh, tham gia chuỗi cung ứng và mở rộng thị trường.
Năm 2026, cả nước có hơn 1,22 triệu doanh nghiệp được đưa vào tổng điều tra kinh tế, trong đó mức độ ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và thương mại điện tử được xác định là một trong những nội dung điều tra trọng tâm.
Đáng chú ý, Đề án nâng cao mức độ sẵn sàng và năng lực chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu hỗ trợ ít nhất 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó ít nhất 300.000 doanh nghiệp được hỗ trợ ứng dụng sản phẩm, giải pháp công nghệ số, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo.
Đây là nền tảng quan trọng để khu vực DNNVV phát huy vai trò trong nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế tư nhân, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh được xác định là những động lực quan trọng của tăng trưởng, DNNVV có nhiều dư địa để phát triển.
Với tính năng động, linh hoạt và khả năng thích ứng với biến động thị trường, khu vực này có thể khai thác các thị trường ngách, phát triển sản phẩm, dịch vụ mới, trở thành nhà cung ứng cho doanh nghiệp lớn và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
Tuy nhiên, quy mô nhỏ khiến nhiều DNNVV hạn chế về năng lực tích lũy, quản trị và tiếp cận các nguồn lực phát triển. Trong đó, nguồn lực tài chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là điều kiện để doanh nghiệp duy trì dòng tiền, mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Vì vậy, tạo lập môi trường tài chính thuận lợi, phù hợp với đặc thù DNNVV không chỉ hỗ trợ sự phát triển của từng doanh nghiệp mà còn góp phần khơi thông nguồn lực xã hội và tạo động lực cho tăng trưởng.
Những điểm nghẽn trong tiếp cận nguồn lực tài chính
Mặc dù giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, khả năng tiếp cận nguồn lực tài chính của DNNVV vẫn còn hạn chế. Theo Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), 75,5% số doanh nghiệp được khảo sát cho biết không thể vay vốn nếu không có tài sản bảo đảm; 54,2% cho rằng việc vay vốn khi không có tài sản thế chấp là rất khó khăn. Điều này cho thấy tài sản bảo đảm vẫn là một rào cản đáng kể đối với khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp.
Trước hết, phương thức đánh giá tín dụng dựa nhiều vào tài sản bảo đảm chưa phù hợp đầy đủ với đặc điểm của DNNVV. Nhiều doanh nghiệp có phương án sản xuất, kinh doanh khả thi nhưng không có đủ tài sản đáp ứng yêu cầu thế chấp.
Trong khi đó, các giá trị hình thành từ công nghệ, thương hiệu, quyền sở hữu trí tuệ, dữ liệu hoặc dòng tiền tương lai chưa được khai thác đầy đủ trong đánh giá phương án tín dụng. Khoảng cách giữa nhu cầu vốn và phương thức đánh giá tín dụng, vì thế vẫn tồn tại.
Bất cân xứng thông tin và năng lực quản trị tài chính hạn chế cũng là điểm nghẽn đáng chú ý. Một bộ phận DNNVV chưa xây dựng được hệ thống kế toán, báo cáo tài chính và quản trị dòng tiền đáp ứng đầy đủ yêu cầu của các tổ chức tín dụng; dữ liệu về hoạt động kinh doanh và lịch sử tín dụng chưa đủ để chứng minh năng lực trả nợ. Vì vậy, ngay cả khi nguồn cung tín dụng được cải thiện, khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp vẫn có thể bị hạn chế.
Bên cạnh tín dụng ngân hàng, các kênh huy động vốn khác chưa phát triển tương xứng với nhu cầu của DNNVV. Khả năng tiếp cận cho thuê tài chính, tài trợ chuỗi cung ứng, quỹ đầu tư và các hình thức tài chính mới còn hạn chế.
Sự phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng khiến doanh nghiệp thiếu lựa chọn về kỳ hạn, phương thức và chi phí vốn, nhất là đối với nhu cầu vốn trung và dài hạn cho đầu tư công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Ngoài ra, chi phí và thủ tục tiếp cận nguồn lực tài chính vẫn là vấn đề cần tiếp tục cải thiện. Năng lực thực hiện các thủ tục tài chính, kế toán, thuế của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế, làm gia tăng chi phí giao dịch và thời gian tiếp cận vốn.
Như vậy, điểm nghẽn về tài chính đối với DNNVV không đơn thuần là thiếu vốn, mà là sự kết hợp của hạn chế về tài sản bảo đảm, bất cân xứng thông tin, phương thức đánh giá tín dụng, chi phí tiếp cận vốn, sự thiếu đa dạng của các kênh huy động và năng lực hấp thụ vốn chưa đồng đều.

Định hướng đổi mới chính sách tài chính, tiền tệ
Những điểm nghẽn trên cho thấy, chính sách tài chính đối với DNNVV cần được đổi mới theo hướng đồng bộ, linh hoạt và phù hợp hơn với đặc thù doanh nghiệp.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế tư nhân, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng cung vốn mà quan trọng hơn là nâng cao hiệu quả phân bổ và khả năng hấp thụ nguồn lực tài chính.
Thứ nhất, chuyển từ tín dụng dựa chủ yếu vào tài sản bảo đảm sang đánh giá dựa trên dòng tiền, dữ liệu và mức độ tín nhiệm. Cần hoàn thiện cơ chế để tổ chức tín dụng đánh giá toàn diện hơn năng lực tài chính, dòng tiền, phương án sản xuất, kinh doanh và triển vọng của doanh nghiệp.
Thứ hai, tăng cường phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Chính sách tín dụng cần gắn với các cơ chế bảo lãnh, chia sẻ rủi ro; chính sách thuế cần góp phần cải thiện dòng tiền, khuyến khích tái đầu tư, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Điều này cũng phù hợp với yêu cầu phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, linh hoạt giữa chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác trong điều hành năm 2026.
Thứ ba, đa dạng hóa nguồn vốn và tăng khả năng tiếp cận vốn trung, dài hạn. Bên cạnh tín dụng ngân hàng, cần phát triển cho thuê tài chính, tài trợ chuỗi cung ứng, quỹ đầu tư và các hình thức tài chính phù hợp với từng giai đoạn phát triển của DNNVV.
Thứ tư, gắn mở rộng khả năng tiếp cận vốn với nâng cao năng lực hấp thụ vốn. DNNVV cần được hỗ trợ nâng cao chất lượng quản trị tài chính, chuẩn hóa kế toán, minh bạch thông tin và quản trị dòng tiền. Đây là điều kiện để nguồn vốn được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, năng suất và sức cạnh tranh.
Giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực tài chính
Để khơi thông nguồn lực tài chính cho DNNVV, cần cụ thể hóa chủ trương phát triển kinh tế tư nhân thành những cơ chế tài chính, tiền tệ phù hợp hơn với đặc thù doanh nghiệp.
Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo nền tảng quan trọng cho việc cải thiện môi trường kinh doanh, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tạo điều kiện để khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững. Cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, đổi mới phương thức đánh giá và cung ứng tín dụng đối với DNNVV. Cần từng bước chuyển từ phương thức đánh giá dựa chủ yếu vào tài sản bảo đảm sang đánh giá toàn diện hơn trên cơ sở dòng tiền, lịch sử tín dụng, phương án sản xuất, kinh doanh, dữ liệu hoạt động và triển vọng phát triển của doanh nghiệp.
Đẩy mạnh số hóa quy trình tín dụng, khai thác hiệu quả các nguồn dữ liệu hợp pháp từ thuế, hóa đơn điện tử, tài khoản thanh toán và các giao dịch kinh tế, qua đó sẽ góp phần giảm bất cân xứng thông tin, rút ngắn thời gian thẩm định và giảm chi phí tiếp cận vốn.
Đặc biệt, cần nghiên cứu cơ chế tín dụng phù hợp đối với doanh nghiệp có tài sản vô hình, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị.
Hai là, nâng cao hiệu quả cơ chế bảo lãnh tín dụng và chia sẻ rủi ro. Đối với DNNVV có phương án sản xuất, kinh doanh khả thi nhưng thiếu tài sản bảo đảm, cần phát huy tốt hơn vai trò của Quỹ bảo lãnh tín dụng và Quỹ Phát triển DNNVV.
Cơ chế bảo lãnh cần được thiết kế theo hướng minh bạch, đơn giản về thủ tục, xác định rõ trách nhiệm của các bên và có cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý giữa Nhà nước, quỹ bảo lãnh và tổ chức tín dụng.
Qua đó, chuyển một phần trọng tâm từ yêu cầu “doanh nghiệp phải có đủ tài sản để vay” sang “doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi và được chia sẻ rủi ro phù hợp”.
Ba là, xây dựng chính sách tài khóa theo hướng hỗ trợ dòng tiền và khuyến khích tích lũy, tái đầu tư. Chính sách thuế, phí và các khoản phải nộp cần tiếp tục được rà soát theo hướng giảm chi phí tuân thủ, hỗ trợ dòng tiền, tạo điều kiện để DNNVV tích lũy và tái đầu tư.
Các chính sách ưu đãi cần hướng mạnh hơn vào những hoạt động tạo năng lực phát triển dài hạn như đổi mới công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng suất.
Đồng thời, cần bảo đảm chính sách hỗ trợ có trọng tâm, đúng đối tượng, tránh tạo tâm lý trông chờ, phụ thuộc vào ưu đãi của Nhà nước.
Bốn là, điều hành chính sách tiền tệ theo hướng ổn định chi phí vốn và nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng. Chính sách tiền tệ cần tiếp tục được điều hành chủ động, linh hoạt, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và an toàn hệ thống, đồng thời tạo điều kiện để giảm chi phí vốn hợp lý cho nền kinh tế.
Đối với DNNVV, cần khuyến khích các tổ chức tín dụng phát triển sản phẩm tín dụng theo ngành, chuỗi giá trị và vòng đời doanh nghiệp; đơn giản hóa quy trình đối với những doanh nghiệp có lịch sử tín dụng tốt, dòng tiền ổn định, qua đó giảm thời gian và chi phí giao dịch.
Năm là, đa dạng hóa nguồn vốn và nâng cao năng lực hấp thụ vốn của DNNVV. Cùng với tín dụng ngân hàng, cần phát triển các kênh như cho thuê tài chính, tài trợ chuỗi cung ứng, quỹ đầu tư và các hình thức tài chính phù hợp với doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp chuyển đổi xanh.
Mặt khác, cần hỗ trợ DNNVV nâng cao năng lực quản trị tài chính, chuẩn hóa kế toán, minh bạch hóa thông tin và quản trị dòng tiền. Đây là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp không chỉ tiếp cận được vốn mà còn sử dụng vốn hiệu quả, chuyển hóa nguồn lực tài chính thành năng lực sản xuất, năng suất và sức cạnh tranh.
Tháo gỡ điểm nghẽn về tài chính, tiền tệ cho DNNVV, vì vậy, cần được thực hiện đồng bộ từ đổi mới phương thức tín dụng, chia sẻ rủi ro, hỗ trợ dòng tiền, giảm chi phí vốn đến đa dạng hóa nguồn vốn và nâng cao năng lực hấp thụ vốn.
Cốt lõi của quá trình này là chuyển từ tư duy hỗ trợ trực tiếp sang kiến tạo môi trường để dòng vốn được phân bổ theo tín nhiệm, hiệu quả và khả năng tạo giá trị.
Khi chính sách tài chính, tiền tệ được vận hành đồng bộ với chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, nguồn lực xã hội sẽ được khơi thông tốt hơn, tạo điều kiện để DNNVV mở rộng quy mô, nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng kinh tế./.

