Kinh tế và Hội nhập

Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng 2 con số

Trần Thị Thu Trang 04/09/2026 13:43

Tăng trưởng 2 con số không chỉ đòi hỏi tạo thêm nguồn lực, mà quan trọng hơn là làm cho nguồn lực hiện có được đưa vào vận hành nhanh hơn và hiệu quả hơn. Vốn chờ dự án, đất đai chậm được khai thác, tài sản chưa được đưa vào sử dụng, cơ hội đầu tư bị trì hoãn đều là những dư địa tăng trưởng chưa được chuyển hóa. Điểm nghẽn thể chế, vì thế, không chỉ làm tăng thủ tục, mà còn làm tăng chi phí, kéo dài thời gian và gia tăng bất định. Do đó, đột phá thể chế cần được nhìn nhận từ góc độ giải phóng nguồn lực và rút ngắn hành trình từ nguồn lực đến giá trị tăng thêm của nền kinh tế.

04-2.jpg
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp, có chủ đề: “Tháo gỡ điểm nghẽn - khơi thông nguồn lực - thúc đẩy tăng trưởng” tại Hà Nội, ngày 18-7-2026_Ảnh: TTXVN

Thể chế và bài toán chuyển hóa nguồn lực thành tăng trưởng

Tăng trưởng, xét đến cùng, không chỉ phụ thuộc vào nền kinh tế có bao nhiêu vốn, đất đai, lao động hay công nghệ, mà còn phụ thuộc vào khả năng đưa các nguồn lực đó vào nơi có thể tạo ra giá trị cao hơn. Trong quá trình ấy, thể chế giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Kinh tế học thể chế chỉ ra rằng, bằng việc xác lập “luật chơi”, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, bảo đảm quyền tài sản, thực thi hợp đồng và định hình các cơ chế khuyến khích, thể chế tác động trực tiếp đến hành vi và quyết định kinh tế.

Một doanh nghiệp có đầu tư hay không, đầu tư vào đâu, thời điểm nào và với quy mô bao nhiêu không chỉ được quyết định bởi triển vọng thị trường, mà còn bởi chi phí phải bỏ ra, mức độ an toàn của giao dịch và khả năng dự báo môi trường chính sách.

Vì thế, thể chế tham gia trực tiếp vào chuỗi chuyển hóa nguồn lực - đầu tư - năng lực sản xuất - năng suất - tăng trưởng. Cùng một lượng nguồn lực, nhưng tốc độ và hiệu quả chuyển hóa thành giá trị có thể rất khác nhau tùy thuộc vào chất lượng thể chế.

Nhìn từ quá trình đó, điểm nghẽn thể chế tạo ra ít nhất 3 loại chi phí đối với nền kinh tế.

Thứ nhất chi phí tuân thủ - tiền bạc, thời gian và nhân lực mà doanh nghiệp phải dành để đáp ứng các quy định. Tuân thủ pháp luật là yêu cầu tất yếu, nhưng những thủ tục không cần thiết, trùng lặp hoặc kéo dài sẽ làm tăng phần nguồn lực dành cho tuân thủ thay vì sản xuất, đổi mới và mở rộng kinh doanh.

Bởi vậy, giảm chi phí tuân thủ hợp lý, về bản chất, là trả lại nguồn lực cho hoạt động tạo ra giá trị.

Thứ hai là chi phí chờ đợi - một dạng chi phí dễ bị bỏ qua. Một dự án chậm được triển khai không chỉ mất thêm thời gian làm thủ tục. Đằng sau thời gian đó là vốn chưa được đưa vào sản xuất, đất đai chưa được khai thác, nhà máy chưa vận hành, việc làm và doanh thu chưa được tạo ra, ngân sách chưa có thêm nguồn thu.

Trong một nền kinh tế hướng tới tăng trưởng 2 con số, thời gian cũng là một nguồn lực. Vấn đề không chỉ là một thủ tục tốn bao nhiêu tiền, mà còn là nguồn lực bị giữ lại trong bao lâu và cơ hội phát triển nào bị bỏ lỡ trong khoảng thời gian ấy.

Thứ ba là chi phí của sự bất định - khi thời hạn xử lý khó dự báo, cùng một quy định có thể được hiểu khác nhau hoặc chưa rõ chủ thể chịu trách nhiệm quyết định cuối cùng, rủi ro của hoạt động đầu tư tăng lên. Doanh nghiệp có thể trì hoãn quyết định, thu hẹp quy mô đầu tư hoặc phải dành thêm nguồn lực dự phòng cho những yếu tố khó tiên liệu.

Vì vậy, giá trị của một thể chế tốt không chỉ nằm ở số thủ tục được cắt giảm, mà còn ở khả năng tạo ra một môi trường đủ ổn định, minh bạch và có thể dự báo để các chủ thể dám quyết định, dám đầu tư và đưa nguồn lực vào vận động.

Nhận diện những điểm nghẽn đang làm chậm dòng chảy nguồn lực

Điểm nghẽn thể chế hiện nay không chỉ nằm ở một quy định cụ thể, mà ngày càng bộc lộ rõ tại “giao diện” giữa các quy định. Trong thực tế, một dự án đầu tư thường đồng thời chịu sự điều chỉnh của pháp luật về đầu tư, quy hoạch, đất đai, môi trường, xây dựng, phòng cháy, chữa cháy và nhiều quy định chuyên ngành khác.

Bởi vậy, ngay cả khi từng đạo luật đã được sửa đổi, vướng mắc vẫn có thể phát sinh ở nơi chúng gặp nhau: trình tự thủ tục chưa ăn khớp, cách hiểu khác nhau, thẩm quyền chưa thật rõ hoặc cùng một thông tin phải được xem xét ở nhiều khâu.

Việc Chính phủ tiếp tục yêu cầu tháo gỡ các vướng mắc về đầu tư, pháp lý, xử lý những dự án chậm tiến độ, đã hoàn thành nhưng chưa thể vận hành cho thấy nguồn lực có thể bị ách lại chính tại những điểm giao này.

Vì vậy, điều cần nhận diện không chỉ là quy định nào còn bất cập, mà là toàn bộ hành trình của một dự án đang bị dừng ở đâu và vì sao chưa thể đi tiếp.

Điểm nghẽn thứ hai nằm trong khoảng cách giữa phân cấp thẩm quyền và khả năng thực sự đưa ra quyết định. Phân cấp, phân quyền mạnh là hướng đi đúng để đưa quyết định đến gần thực tiễn, rút ngắn tầng nấc trung gian.

Tuy nhiên, chuyển giao thẩm quyền chưa đương nhiên đồng nghĩa với rút ngắn thời gian nếu trách nhiệm cuối cùng chưa rõ, năng lực thực thi chưa tương xứng hoặc cấp được giao quyền vẫn phải xin ý kiến cấp trên.

Thực tế, tháng 6-2026, Chính phủ yêu cầu 5 bộ rà soát lại 22 thủ tục hành chính đã được phân cấp nhưng vẫn yêu cầu xin ý kiến cơ quan cấp trên([1]), đồng thời yêu cầu bố trí nhân lực phù hợp với khối lượng nhiệm vụ được phân cấp, nhất là ở cấp xã.

Con số này gợi ra một vấn đề đáng chú ý: hiệu quả phân cấp không nên chỉ được đo bằng số nhiệm vụ đã chuyển giao, mà quan trọng hơn là sau phân cấp, quyết định có được đưa ra nhanh hơn và nguồn lực có thực sự được đưa vào sử dụng sớm hơn hay không.

Điểm nghẽn thứ ba là khoảng cách giữa tốc độ đổi mới chính sách và năng lực hấp thụ của hệ thống thực thi. Việt Nam đang tiến hành quá trình sửa đổi, hoàn thiện pháp luật với quy mô và tốc độ lớn.

Nhưng một quy định mới chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển thành quy trình thực hiện rõ ràng, cách hiểu thống nhất, dữ liệu tương thích và năng lực thực thi tương ứng.

Chính yêu cầu của Chính phủ năm 2026 về khắc phục tình trạng chậm, nợ văn bản quy định chi tiết, tăng hiệu lực thi hành pháp luật và rà soát hệ thống pháp luật cho thấy trọng tâm cải cách đang phải dịch chuyển mạnh hơn từ khâu ban hành sang khâu thực thi.

Nếu khoảng cách này không được rút ngắn, có thể xuất hiện nghịch lý quy định đã được tháo gỡ trên văn bản nhưng nguồn lực ngoài thực tế vẫn chưa chuyển động tương ứng.

04-1.jpg
Nhân viên Tổng đài 1022 và Cổng góp ý thành phố Đà Nẵng hỗ trợ doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thông tin, hướng dẫn, giải đáp về thủ tục hành chính, cơ chế, chính sách, hỗ trợ tiếp cận dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng số_Ảnh:TTXVN

Từ “sửa quy định” sang “giải phóng nguồn lực”

Một là, chuyển từ rà soát văn bản sang rà soát “dòng chảy nguồn lực”. Cùng với rà soát tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, cần lựa chọn những dòng nguồn lực có ý nghĩa lớn đối với tăng trưởng như đầu tư tư nhân, đất đai, đầu tư công, FDI, tài sản công, khoa học - công nghệ để rà soát toàn bộ hành trình từ khi nguồn lực sẵn sàng đến khi được đưa vào khai thác và tạo ra giá trị.

Với một dự án đầu tư, chẳng hạn, cần xác định cụ thể thời gian dừng ở từng khâu, số cơ quan tham gia xử lý, những thông tin phải cung cấp lặp lại, các quy định giao cắt và chủ thể có thẩm quyền quyết định cuối cùng.

Cách tiếp cận này cho phép nhận diện không chỉ quy định nào đang vướng, mà quan trọng hơn là quy định đó đang giữ lại nguồn lực nào và quy mô bao nhiêu. Trên cơ sở đó, nguồn lực cải cách cũng được ưu tiên cho những điểm nghẽn có khả năng giải phóng dư địa tăng trưởng lớn nhất.

Hai là, coi “thời gian thể chế” là một thước đo quan trọng của cải cách. Số thủ tục được cắt giảm hay số điều kiện kinh doanh được bãi bỏ vẫn cần thiết, nhưng chưa phản ánh đầy đủ tác động kinh tế của cải cách.

Cần đo thêm thời gian thực tế để một nguồn lực đi qua các thủ tục và quyết định cần thiết trước khi có thể vận hành: tổng thời gian xử lý, thời gian chờ giữa các cơ quan, số lần bổ sung hồ sơ, số đầu mối phải tiếp xúc.

Đặc biệt, có thể lựa chọn một số quy trình có tác động lớn tới đầu tư để công khai và so sánh thời gian thực hiện giữa các địa phương. Khi đó, cải cách không chỉ được nhìn qua số lượng thủ tục đã giảm mà còn qua số ngày thực tế được rút ngắn. Rút ngắn thời gian thể chế cũng chính là tăng tốc độ đưa nguồn lực vào nền kinh tế.

Ba là, thực chất hóa nguyên tắc “một việc - một đầu mối - một thời hạn - một trách nhiệm”. Đối với thủ tục liên ngành, doanh nghiệp không nên phải tự đi tìm sự thống nhất giữa các cơ quan nhà nước.

Cần xác định một đầu mối chịu trách nhiệm toàn trình; việc lấy ý kiến chuyên ngành được thực hiện bên trong hệ thống hành chính, có thời hạn rõ ràng. Hết thời hạn phải có quyết định hoặc trả lời rõ căn cứ pháp lý chưa thể quyết định.

Quan trọng hơn, phân cấp phải đi cùng năng lực thực thi và trách nhiệm giải trình. Quyền được giao chỉ thực sự có ý nghĩa khi chuyển thành khả năng ra quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định.

Bốn là, phân bổ nguồn lực quản lý theo mức độ rủi ro. Nguồn lực quản lý nhà nước cũng hữu hạn, vì vậy không nên dành cùng một mức độ kiểm soát cho mọi giao dịch và mọi chủ thể.

Những hoạt động có mức độ rủi ro thấp, thông tin minh bạch và dữ liệu đầy đủ cần được đơn giản hóa tiền kiểm, tăng hậu kiểm; nguồn lực kiểm tra, giám sát tập trung nhiều hơn vào lĩnh vực, giao dịch có nguy cơ gây thiệt hại lớn.

Cùng với liên thông dữ liệu và nguyên tắc không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại thông tin Nhà nước đã có, quản lý theo rủi ro vừa giảm chi phí tuân thủ, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng chính nguồn lực của bộ máy quản lý.

Năm là, đo kết quả cải cách bằng nguồn lực thực sự được giải phóng. Bên cạnh số văn bản được sửa đổi, thủ tục được cắt giảm hay nhiệm vụ được phân cấp, cần lượng hóa kết quả kinh tế sau cải cách: bao nhiêu dự án được khởi động lại, bao nhiêu vốn được đưa vào đầu tư, bao nhiêu đất đai và tài sản được đưa vào khai thác, thời gian thực hiện dự án giảm bao nhiêu, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp được tiết giảm thế nào.

Khi thước đo chuyển từ “đã sửa được bao nhiêu” sang “đã giải phóng được bao nhiêu nguồn lực”, cải cách thể chế mới gắn trực tiếp với mục tiêu tăng trưởng và tạo sức ép để những thay đổi trên văn bản thực sự chuyển hóa thành thay đổi trong nền kinh tế./.

[1] Công văn số 731/TTg-CĐS, ngày 26-6-2026, của Thủ tướng Chính phủ, “Về việc tiếp tục thực hiện có hiệu quả 11 nghị quyết của Chính phủ”

    Nổi bật
        Mới nhất
        Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng 2 con số
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO