Tháo gỡ điểm nghẽn để khơi thông dòng chảy thương mại
Những năm qua, mạng lưới phân phối, bán lẻ, thương mại điện tử và xuất khẩu của Việt Nam có bước phát triển đáng ghi nhận. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, dòng chảy thương mại vẫn còn những điểm nghẽn về hạ tầng, liên kết sản xuất - lưu thông, năng lực tận dụng các hiệp định thương mại tự do, chi phí logistics và phòng vệ thương mại. Nhận diện đúng các điểm nghẽn này là cơ sở để khơi thông thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp và mở rộng dư địa tăng trưởng trong thời gian tới.

Kết quả thương mại và những vấn đề đặt ra
Thương mại và thị trường đã góp phần tạo nên bức tranh kinh tế tích cực trên nhiều khía cạnh thời gian qua. Hoạt động thương mại về cơ bản đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng. Thị trường Việt Nam với số dân hơn 100 triệu người là thị trường có dung lượng lớn.
Năm 2015, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành đạt 3.223,2 nghìn tỷ đồng, năm 2025, cán mốc 7.102,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,9% so với 2024. Mạng lưới kinh doanh thương mại, dịch vụ tiếp tục phát triển trên cả ba địa bàn: thành thị, nông thôn và miền núi, góp phần gắn chặt sản xuất với tiêu thụ, hàng hóa với thị trường.
Tính đến cuối năm 2024, cả nước có 8.274 chợ, 1.293 siêu thị và 276 trung tâm thương mại. Thông qua Đề án phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, Bộ Công Thương đã thiết lập trên 100 điểm bán hàng cố định với tên gọi “Tự hào hàng Việt Nam” tại 61 địa phương. Bên cạnh đó, kênh bán lẻ truyền thống vẫn giữ vai trò quan trọng với khoảng 1,4 triệu cửa hàng tạp hóa.
Đến nay, Việt Nam đang tham gia 20 hiệp định thương mại tự do (FTA), bao gồm 18 FTA đã ký kết (trong đó 17 FTA đã có hiệu lực thực thi) với hơn 60 đối tác FTA, phủ rộng khắp các châu lục. Việt Nam được xếp vào nước xuất khẩu lớn thứ 20 trên thế giới trong số 240 nền kinh tế và thuộc nhóm dẫn đầu thế giới về nhiều mặt hàng xuất khẩu như gạo, cà phê, hạt điều, dệt may, da giày.
Năm 1995, thị trường châu Á chiếm tỷ trọng tới 75,3%, châu Mỹ chiếm 4,3% tổng kim ngạch xuất khẩu. Năm 2025, các con số tương ứng là 44,7% và 36,8%. Hiện, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên thị trường của hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Những kết quả trên tạo nền tảng quan trọng cho thương mại và thị trường Việt Nam trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, khi quy mô thị trường mở rộng và mức độ hội nhập ngày càng sâu, nhiều điểm nghẽn trong hạ tầng thương mại, liên kết sản xuất - lưu thông, năng lực tận dụng FTA và chất lượng tăng trưởng xuất khẩu cũng bộc lộ rõ hơn.
Hạ tầng thương mại phát triển không đồng đều, đặc biệt tại các vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn. Chưa thiết lập được mối liên kết ổn định giữa sản xuất với lưu thông, giữa bán buôn và bán lẻ theo những kênh lưu thông hợp lý, ổn định, đặc biệt là trong việc mua bán vật tư nông nghiệp, nông sản, thực phẩm để tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa.
Thương mại và thị trường miền núi mới phát triển sôi động ở các đô thị trung tâm, nhưng phát triển chậm ở các khu vực hải đảo, vùng sâu, vùng xa, nhiều nơi còn khá kém sôi động. Thị trường miền núi, vùng cao - nơi tập trung những hạn chế của nền thương nghiệp nhỏ đang trong giai đoạn quá độ đi lên sản xuất hàng hóa và vẫn được xem là bộ phận kém phát triển nhất của thị trường cả nước.
Hiệp hội Siêu thị Hà Nội ước tính các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang chiếm thị phần tới 50%. Trên thực tế, nhiều chuỗi, hệ thống bán lẻ phải bán lại hoặc lựa chọn liên kết với đối tác nước ngoài để duy trì hoạt động, như Fivimart, Citimart hợp tác với Aeon (Nhật Bản); chuỗi cửa hàng tiện lợi Family Mart cũng được tập đoàn Berli Jucker của Thái Lan mua lại, đổi tên thành B’sMart...
Cấu trúc tăng trưởng xuất khẩu vẫn bộc lộ sự phụ thuộc lớn vào khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Xuất khẩu vẫn thiên về tăng số lượng. Tỷ trọng sản phẩm chế biến, chế tạo có giá trị gia tăng cao còn thấp do vẫn chủ yếu ở khâu gia công, lắp ráp (dệt may, da giày, hàng điện tử, điện thoại).
Chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu chậm, còn phụ thuộc khá lớn vào một số thị trường xuất khẩu chủ lực. Từ giữa năm 2026, biến động của thị trường vận tải biển quốc tế đã làm gia tăng đáng kể chi phí xuất khẩu đối với nhiều ngành hàng chủ lực.
Quá trình hội nhập kinh tế thông qua các FTA vẫn chưa phát huy đầy đủ các tác động tích cực. Lợi ích từ ưu đãi thuế quan mới được tận dụng chưa đầy 40% và chủ yếu thuộc về các doanh nghiệp FDI. Hơn 60% còn lại, vì nhiều lý do khác nhau, chưa đến được với doanh nghiệp Việt Nam.
Những thành tựu thời gian qua để lại rất nhiều bài học, cùng nền tảng mà cải cách đã tạo ra song chưa đủ, chưa bảo đảm cho việc thực hiện thành công các mục tiêu lớn là trở thành quốc gia đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030, trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Khơi thông thị trường, nâng hiệu quả xuất khẩu
Hiện nay, tự do hóa thương mại không còn chỉ là mua bán giữa các nước, mà còn gắn với cạnh tranh địa - chính trị. Cạnh tranh thương mại ngày càng khốc liệt và khó dự báo. Những diễn biến hiện nay cho thấy thị trường thế giới ngày càng trở nên bất định, khó lường.
Những dự báo cho thấy thương mại toàn cầu sẽ đối mặt với chủ nghĩa bảo hộ, cạnh tranh ngày một gia tăng. Thế giới cũng đang bước vào một trật tự trong đó cạnh tranh xuất khẩu diễn ra bằng vị thế trong chuỗi cung ứng và mức độ rủi ro chính trị.
Quy mô thị trường bán lẻ Việt Nam được dự báo tiếp tục tăng trưởng trong những năm tới. Dân số hơn 100 triệu người và 20 triệu người trung lưu tạo ra sức cầu rất lớn. Chi tiêu tiêu dùng trong nước chiếm khoảng 60% - 65% GDP, trong đó chi tiêu hộ gia đình khoảng 50% - 55% GDP cùng với quá trình đô thị hóa là những yếu tố thuận lợi hỗ trợ tăng trưởng thị trường bán lẻ Việt Nam.
Từ đó, định hướng và giải pháp cần tập trung là: tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình, đề án về phát triển thị trường trong nước, như Đề án phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi...
Thực hiện đồng bộ việc đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; rà soát, bổ sung, ban hành luật pháp, cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu dùng trong nước, bảo vệ người tiêu dùng; hỗ trợ doanh nghiệp trong các hoạt động xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường trong nước; đổi mới công tác quản lý, chấn chỉnh công tác quản lý thị trường.
Tập trung hỗ trợ hình thành và phát triển một số tập đoàn bán buôn, bán lẻ trong nước có thương hiệu lớn và có khả năng cạnh tranh trong khu vực với hệ thống phân phối hiện đại.
Phát triển thương mại điện tử thành một kênh phân phối quan trọng, hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa nông sản, hàng công nghiệp tiêu dùng. Ưu tiên phát triển hệ thống các sàn giao dịch thương mại điện tử có kết nối quốc tế.
Thu hẹp khoảng cách giữa các thành phố lớn và các địa phương về mức độ phát triển thương mại điện tử. Thương lái cần được xem là đối tác đồng hành với người sản xuất, doanh nghiệp.
Trong ngắn hạn, cần thúc đẩy sự vận hành linh hoạt, hài hòa của hệ sinh thái doanh nghiệp - thương lái - hợp tác xã - nông dân theo hướng chia sẻ thị trường, nguồn vốn, hạ tầng logistics, lợi ích và rủi ro.
Song song với sự phát triển các cụm công nghiệp, cần tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh công nghiệp và dịch vụ được tự do di chuyển đến những nơi gần đường giao thông để xây dựng cơ sở kinh doanh.
Việc làm này vừa đáp ứng nhu cầu trước mắt, vừa tạo ra những điều kiện để sớm hình thành các tụ điểm công - thương nghiệp - dịch vụ ở nông thôn. Đây là quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa - hiện đại hóa theo hướng phi tập trung.
Bộ Công Thương và hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục tăng cường kết nối doanh nghiệp, đồng thời xây dựng một cổng thông tin chính thức để các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và cơ quan quản lý có thể chia sẻ dữ liệu thị trường thường xuyên, chuyên nghiệp hơn; qua đó giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh sản xuất, tối ưu chuỗi cung ứng, mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thương mại toàn cầu tiếp tục nhiều biến động.

Tăng cường xuất khẩu thông qua các hệ thống phân phối lớn là giải pháp giúp doanh nghiệp từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng hàng hóa toàn cầu.
Việc duy trì sự hiện diện của doanh nghiệp Việt Nam tại các hội chợ, triển lãm chuyên ngành lớn trên thế giới tiếp tục được xem là kênh xúc tiến thương mại quan trọng. Qua đó, doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, mở rộng mạng lưới đối tác và từng bước nâng cao hình ảnh, vị thế của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Tính đến đầu năm 2026, hàng xuất khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt với khoảng 300 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại từ 25 thị trường. Riêng năm 2025, Việt Nam ghi nhận 23 vụ việc từ 12 thị trường nhắm vào hàng hóa Việt Nam.
Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công Thương thông qua các hoạt động và dữ liệu, có những cảnh báo trước đối với các doanh nghiệp về những mặt hàng, những nhóm hàng, những thị trường có khả năng bị điều tra phòng vệ thương mại với hàng hóa của Việt Nam trong tương lai.
Doanh nghiệp cần đầu tư mạnh hơn cho truy xuất nguồn gốc, minh bạch hóa nguyên liệu đầu vào, nâng tỷ lệ nội địa hóa thực chất và sàng lọc đối tác cung ứng. Trong bối cảnh các vụ việc chống lẩn tránh ngày càng gia tăng, “sản xuất tại Việt Nam” cần được chứng minh bằng dữ liệu, quy trình và giá trị gia tăng thực chất.
Khi các điểm nghẽn được tháo gỡ, thương mại và thị trường sẽ có thêm điều kiện phát triển, góp phần tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế - xã hội. Trách nhiệm này đặt ra đối với Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân trong quá trình đổi mới, phát huy tốt hơn vai trò của thị trường trong giai đoạn tới.
Khơi thông dòng vốn, giảm chi phí logistics và nâng cao hiệu quả kết nối chuỗi cung ứng sẽ tạo thêm dư địa để doanh nghiệp đầu tư cho sản xuất, chế biến và mở rộng thị trường.
Đây là giải pháp trước mắt để giảm áp lực cho hoạt động xuất khẩu, đồng thời là nền tảng để nông sản Việt Nam nâng cao giá trị và sức cạnh tranh trong dài hạn.
Nhìn nhận xuất, nhập khẩu theo hướng “cân bằng động”, Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cần tích hợp, đồng bộ với các chủ trương, nghị quyết, đặc biệt là những định hướng liên quan đến đổi mới mô hình tăng trưởng, phát huy các lợi thế và nguồn lực khác nhau...
Theo đó, Chiến lược cần tính đến tốc độ xuất khẩu, cán cân thương mại, quan hệ với từng đối tác, từng khu vực của nền kinh tế và vai trò của nhập khẩu đối với sản xuất trong nước, xuất khẩu.
Nhập khẩu không đơn thuần được xem xét ở quy mô kim ngạch hay cán cân thương mại, mà phải đặt trong mối quan hệ với năng lực sản xuất, chuỗi cung ứng và khả năng xuất khẩu của nền kinh tế./.

