Kinh tế và Hội nhập

Nâng cao chất lượng thu hút FDI trong giai đoạn mới

Khánh Nguyên 04/09/2026 13:39

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục là nguồn lực quan trọng đối với sản xuất, xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam. Trong giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra không chỉ dừng ở việc thu hút thêm vốn. Vấn đề là dòng vốn ấy có chuyển thành dự án thực chất, công nghệ tốt hơn và giá trị lớn hơn cho nền kinh tế hay không.

05-1.jpg
Công nhân điều hành dây chuyền sản xuất tại Nhà máy nhiên liệu sinh khối EREX SAKURA, tỉnh Tuyên Quang_Ảnh: TTXVN

Dòng vốn FDI và yêu cầu mới về hiệu quả tăng trưởng

Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính cho biết, trong 7 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt trên 38,05 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ; vốn thực hiện đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8%.

Tính lũy kế đến ngày 31-7-2026, cả nước có 47.512 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký trên 559,2 tỷ USD; vốn thực hiện lũy kế đạt 365,4 tỷ USD, bằng khoảng 65,3% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.

Những số liệu này cho thấy dòng vốn FDI vào Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các quốc gia ngày càng gay gắt. Vốn đăng ký tăng nhanh, vốn thực hiện tiếp tục tăng là tín hiệu tích cực.

Tuy nhiên, hiệu quả của dòng vốn còn phụ thuộc vào lĩnh vực đầu tư, trình độ công nghệ, tiến độ triển khai, cũng như đóng góp của dự án đối với năng suất, nhân lực, quản trị và năng lực sản xuất trong nước.

Cũng theo cơ quan này, trong 7 tháng năm 2026, khu vực FDI xuất khẩu trên 255,8 tỷ USD, tăng 26,4% so với cùng kỳ và chiếm 80,1% kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Tính lũy kế đến hết tháng 7-2026, công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là lĩnh vực có tỷ trọng cao nhất trong thu hút FDI, với trên 342 tỷ USD, chiếm 60,7% tổng vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực tại Việt Nam.

Vốn đầu tư trực tiếp nước đã có nhiều đóng góp cho nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, trong giai đoạn mới, quy mô vốn đăng ký không nên là thước đo duy nhất.

Khi vốn đăng ký chuyển thành vốn thực hiện, nhà máy đi vào hoạt động, công nghệ được vận hành, lao động được đào tạo và phần giá trị tạo ra trong nước được nâng lên, dự án lớn mới thật sự có ý nghĩa.

Với những dự án chủ yếu dựa vào gia công, lắp ráp, sử dụng nhiều lao động giản đơn, ít liên kết với doanh nghiệp trong nước, đóng góp vào chất lượng tăng trưởng thường khó tương xứng với quy mô vốn đăng ký.

Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8-6-2026, của Bộ Chính trị, “Về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” nêu yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng làm tiêu chí chủ yếu; chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết. Cách tiếp cận này cho thấy thu hút FDI cần được đánh giá bằng chất lượng dự án và hiệu quả thực hiện.

Điểm nghẽn trong thu hút FDI chất lượng cao

Nghị quyết số 10-NQ/TW chỉ rõ, chất lượng và hiệu quả thu hút, quản lý, sử dụng đầu tư nước ngoài chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; tỷ lệ dự án thâm dụng lao động, tài nguyên, đất đai, năng lượng, gia công, lắp ráp còn cao; tỷ lệ nội địa hóa, giá trị tăng thêm hình thành ở Việt Nam còn thấp; liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước chưa cao, chuyển giao công nghệ còn hạn chế.

Do đó, không nên chỉ nhìn vào tên tuổi hay quy mô vốn của nhà đầu tư. Điều quan trọng là dự án đó đóng góp gì cho nền kinh tế trong quá trình triển khai.

Một dự án chủ yếu dựa vào chi phí thấp, gia công, lắp ráp sẽ khác với dự án có công nghệ, tiêu chuẩn quản trị cao với nhiều hoạt động nghiên cứu - phát triển, đào tạo nhân lực và mạng lưới cung ứng. Vì vậy, hiệu quả thu hút FDI cần được đánh giá từ giá trị thực tế mà dự án tạo ra, không chỉ từ số vốn đăng ký ban đầu.

Theo Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, đến hết tháng 7-2026, vốn thực hiện lũy kế của các dự án FDI đạt 365,4 tỷ USD, bằng khoảng 65,3% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.

Khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện không phải là hiện tượng bất thường trong đầu tư, nhưng điều này cho thấy thu hút đầu tư không kết thúc ở giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Sau cấp phép, dự án còn cần mặt bằng, điện, hạ tầng kết nối, lao động kỹ thuật, thủ tục xây dựng, môi trường, phòng cháy, logistics và sự phối hợp của địa phương. Nếu các khâu này chậm, vốn đăng ký khó chuyển thành năng lực sản xuất thực tế. Nhiều khi, hiệu quả thu hút đầu tư được quyết định ở chính giai đoạn sau cấp phép.

Trong 7 tháng đầu năm 2026, Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính lưu ý, dòng vốn FDI tập trung cao theo ngành, đối tác và địa phương, khiến kết quả dễ biến động theo các dự án quy mô lớn. Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Thái Nguyên chiếm gần 50% tổng vốn đăng ký cả nước; nhóm 5 đối tác dẫn đầu chiếm khoảng 79,5% tổng vốn đầu tư.

Việc dòng vốn tập trung vào một số địa bàn có thể lý giải từ lợi thế về hạ tầng, lao động, chuỗi cung ứng và dịch vụ hỗ trợ. Tuy nhiên, nếu thiếu điều phối theo vùng, cụm ngành và chuỗi giá trị, thu hút FDI có thể tiếp tục nghiêng về một số nơi có sẵn lợi thế, trong khi khả năng lan tỏa còn hạn chế.

Với các dự án công nghệ cao, yêu cầu chuẩn bị cũng khác. Bán dẫn, trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng mới, nghiên cứu - phát triển hoặc thiết kế cần nhiều điều kiện đi kèm: nhân lực chất lượng cao, điện ổn định, hạ tầng số, tiêu chuẩn bảo mật, dịch vụ kỹ thuật, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong nước có khả năng tham gia. Nếu các điều kiện này chưa theo kịp, Việt Nam có thể thu hút được dự án, nhưng việc giữ lại các khâu có giá trị cao sẽ khó hơn.

05-2.jpg
Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45% - 50%_Ảnh minh họa/TTXVN

Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết thực hiện

Trước hết là tiêu chí lựa chọn dự án. Tuy thu hút FDI vẫn cần tốc độ nhưng không nên chạy theo số lượng. Các dự án có công nghệ cao, công nghệ lõi, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu - phát triển, thiết kế, dữ liệu, trung tâm điều hành, kinh tế số, kinh tế xanh, sản xuất sạch và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị cần được ưu tiên hơn. Tiêu chí càng rõ, địa phương càng có căn cứ để sàng lọc dự án, tránh cạnh tranh chủ yếu bằng ưu đãi, đất đai hoặc chi phí thấp.

Bên cạnh đó, ưu đãi đầu tư nên gắn chặt hơn với hiệu quả dự án. Ưu đãi về thuế, đất đai, hạ tầng hoặc hỗ trợ thủ tục không nên trao theo quy mô vốn đăng ký đơn thuần. Dự án càng lớn càng cần cam kết rõ về tiến độ giải ngân, công nghệ sử dụng, đào tạo lao động Việt Nam, tiêu chuẩn môi trường, sử dụng năng lượng, hoạt động nghiên cứu - phát triển, liên kết với doanh nghiệp trong nước và đóng góp ngân sách sau ưu đãi.

Nghị quyết số 10-NQ/TW nêu hướng chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, quản trị cả vòng đời dự án và kết nối với doanh nghiệp trong nước. Vì thế, ưu đãi không nên chỉ là điều kiện ban đầu để thu hút dự án, mà cần đi cùng trách nhiệm thực hiện trong quá trình dự án hoạt động.

Hỗ trợ sau cấp phép cũng là một phần của thu hút đầu tư. Nhà đầu tư chất lượng cao thường quan tâm nhiều đến khả năng triển khai dự án đúng tiến độ.

Điện, nước, giao thông, hải quan, logistics, dữ liệu, nhân lực, nhà ở công nhân, dịch vụ pháp lý, thủ tục xây dựng, môi trường và phòng cháy chữa cháy đều có thể trở thành chi phí nếu xử lý chậm. Địa phương có kết cấu hạ tầng đồng bộ, dịch vụ công nhanh, nhân lực phù hợp và cơ chế phối hợp rõ ràng sẽ có lợi thế hơn trong thu hút dự án tốt.

Liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước cần được thiết kế thực chất hơn. Đây không phải là kỳ vọng doanh nghiệp FDI tự động chuyển giao công nghệ, mà là tạo điều kiện để liên kết trở thành lợi ích của cả hai bên.

Doanh nghiệp FDI cần nhà cung ứng tại chỗ để giảm chi phí, rút ngắn thời gian giao hàng, ổn định chuỗi sản xuất; cần đơn hàng, tiêu chuẩn và cơ hội thử nghiệm để nâng năng lực.

Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45% - 50%; phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có khoảng 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp I. Mục tiêu này cho thấy liên kết với doanh nghiệp trong nước cần được đặt thành tiêu chí cụ thể trong thu hút FDI.

Việc đặt yêu cầu cao hơn với FDI không làm giảm vai trò của dòng vốn nước ngoài, mà giúp dòng vốn này gắn chặt hơn với mục tiêu nâng cao năng lực của nền kinh tế.

Khi vốn đăng ký được chuyển thành vốn thực hiện, ưu đãi đầu tư đi cùng cam kết, liên kết với doanh nghiệp trong nước được coi là một tiêu chí của hiệu quả dự án, FDI sẽ có điều kiện đóng góp sâu hơn vào năng lực sản xuất, công nghệ, quản trị và chất lượng tăng trưởng./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Nâng cao chất lượng thu hút FDI trong giai đoạn mới
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO