Du ký về xứ sở cao su Trấn Biên - Đồng Nai nửa đầu thế kỷ XX
Vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, đã có nhiều ký giả, học giả, nhà văn, nhà báo, nhà giáo, công chức, chức sắc tôn giáo từng qua thăm và viết du ký về miền đất Đồng Nai, vốn được định danh là “Xứ Trấn Biên”, “Xứ sở cao su”, “Thủ phủ chôm chôm”...

Từ rất sớm, Thảo Lâm Hưng tường tả vùng đất xưa non cao rừng thẳm trong ghi chép Tích cái Hố Cha: “Cuối xóm Bến Sắn dựa cái hố kia, có một cái hờm rộng lớn ăn khuyết sâu vào trong gò cao, trên thì rừng chổi đẩy những săng, coi im lợp, cùng những bụi mây, táo, xen lộn, đã nên một chỗ rất hiểm nguy, khó thấu vào đặng...
Đất Bến Sắn tuy nay không còn tiếng như xưa, vì đâu đâu có người ta cất nhà ở và khai phá rừng, đốn cây mà hầm than, hay là bán củi, song chỗ nầy còn sầm uất rậm rạp, như ai phải đi ngang qua đó thì phải chậm chơn ngừng bước, mắt những giớn giác ngó chừng xa trước; tại mảng lo nghe tiếng nhành khô gãy hay là lá ủ khua, như xảy nghe cheo chồn hay là chuột rảo kiếm ăn tuôn động ngoe chà thì liền cần thủ giữ thân; người dầu dạn ở trong bổn xứ cũng chẳng dám vào chỗ rừng nầy một mình”.
Tiếp theo, tác giả đặc tả cây cầy bồng tiêu cổ thụ: “Người ta còn chỉ một cây cầy mọc trên gò gần Hố Cha mà thuật rằng: Nhờ cây cầy nầy mà kẻ ở xa đi khỏi lạc. Phía bên Biên Hòa, Tân Triều qua, hay là Bà Trà, Búng đi vào, Bến Đồn, Trau Trảu, ai đi tới thì nhắm vọi cây nầy, thấy tăm tăm thì trong lòng vui mừng không xiết.
Như kẻ đi biển giã đêm tăm tối mà thấy đặng cái đèn vọng đăng chỉ cửa cho mình vào, thì lòng hớn hở nói sao đặng! Thấy vọi cây cầy nầy bắt vui trong lòng mà hối hả đi mau, vì sẽ đặng nghỉ an và khỏi tay quan quyền tầm bắt; có kẻ khác lại mừng sẽ đặng an trí an lòng, vì linh hồn sẽ đặng gội nhuần ơn thánh; sẽ thêm sức lực mà chịu cơn bão bùng khốn khó.
Cây cầy nầy nay cũng còn đứng sầm sầm trên gò cao vọi vọi một mình, lại càng lâu năm thì càng thêm vững chắc, chẳng sợ chi dông bão tư bề” (Nam Kỳ địa phận, 1910)...
Trải qua dư 1 thế kỷ, vùng đất Bến Sắn - Hố Cha thưa vắng bóng người nay đã là phố thị sầm uất, đông vui.
Thành phố Đồng Nai mới sáp nhập và nâng cấp từ 2 tỉnh Đồng Nai và Bình Phước, có 95 đơn vị xã, phường, là thành phố trực thuộc Trung ương thứ 7, dân số và kinh tế đứng thứ tư, diện tích đứng thứ 9 cả nước... Về địa lý, thành phố giáp các tỉnh Lâm Đồng, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh và nước bạn Campuchia, được xem là cửa ngõ đi vào vùng trọng điểm kinh tế - văn hóa Nam Bộ...
Tiếp đến, học giả Phạm Quỳnh trong du ký Một tháng ở Nam Kỳ đặc biệt cảm khái với câu ca gắn với địa danh đã là thước đo biểu tượng của chí nam nhi: “Làm trai đã đáng nên trai/ Phú xuân đã trải, Đồng Nai cũng từng”.
Từ đây, tác giả bày tỏ tâm trạng của một nhà du lịch noi theo người xưa khám phá bốn phương danh lam thắng cảnh: “Ôi! Đương buổi Quốc triều gây dựng cơ đồ, đánh nam dẹp bắc, thiếu gì những kẻ tang bồng hồ thỉ, chí khí nam nhi nay tòng quân ở Thuận Hóa, mai viễn thú đất Đồng Nai, vào sinh ra tử chốn sa tràng, mong lập công danh cùng xã tắc: lời ca dao kia là tả cái chí của những bậc vô danh anh hùng đó”.
Rồi tác giả nêu khái quát về tương quan thực trạng đời sống, xã hội xứ Đồng Nai với vùng đất giao thoa: “Miền Đông giáp Trung Kỳ Cao Man, còn rớt những rừng núi của hai xứ ấy lan sang, phần nhiều là đất cao nguyên, không cày cấy gì được, trừ tỉnh Chợ Lớn ở dưới còn thường chỉ trồng cao su, trồng cà phê mà thôi. Miền này có sáu tỉnh: Bà Rịa, số dân 56.756 người; Biên Hòa, 105.605 người; Thủ Dầu Một, 110.616 người; Tây Ninh, 67.085 người; Gia Định, 252.521 người; Chợ Lớn, 194.998 người”.
Tiếp đến, là những nhận xét thẳng thắn nhân một chuyến du ngoạn: “Một hôm ông Diệp Văn Kỳ lại chỗ trọ, rủ đi xe hơi lên chơi đồn điền cao su của quan Diệp Văn Cương ở trên Biên Hòa... Đất này chỉ ưa trồng cao su mà thôi. Có nhiều cái đồn điền rộng lắm, phần nhiều là của người Tây cả; vả gần khắp tỉnh Biên Hòa toàn thị là đồn điền cao su hết, ruộng lúa thì không có mấy và khô khan, cày cấy khó lắm.
Miền Tây Nam coi ra phong đăng trù mật bao nhiều thì miền Đông Bắc này coi lơ thơ xơ xác bấy nhiêu. Dân nghèo, người ít, đất rắn, cây cằn, vắng nơi đô hội lớn, thưa những chốn làng xóm to” (Nam phong Tạp chí, 1918)...

Trong chuyến du ngoạn Lược ký đường bộ từ Hà Nội vào Sài Gòn, ký giả Mẫu Sơn Mục mô tả chi tiết đoạn đường từ Phan Thiết, miền đất cuối cùng vùng Nam Trung Bộ chuyển tiếp tới Đồng Nai cửa ngõ Nam Bộ: “Đi độ 30 cây nữa, nghĩa là cách Phan Thiết 60 cây nữa thì đến địa giới Nam Kỳ, lại cứ đi trong đồi ấy độ 40 cây nữa, biết bao nhiêu là đất hoang, thì đến Xuân Lộc là các đồn điền cao su, to lắm, trồng thành hàng lối, trông vào giữa khe như là cái ngõ sâu vô để[1].
Hết đồn điền cao su lại đi vào đồi hoang chừng 20, 30 cây nữa thì ra đồng ruộng, rồi đến thành phố Biên Hòa; từ đấy là bắt đầu vào xứ rất trù phú vậy... Thành phố Biên Hòa tuy nhỏ mà đông đúc, vui vẻ lắm. Hàng cao lâu của các chú rất là náo nhiệt, xe ô tô tư, xe ô tô hàng đi lại rầm rập, xe ngựa cho thuê đứng đầy một khu đất cạnh chợ. Con sông ở cạnh thành phố to mà đẹp lắm, nước sông đầy ăm ắp, hai bên bờ thì dân cư, cây cối, có nhiều dừa sầm uất lắm. Trưa thì đến Sài Gòn” (Nam phong tạp chí, 1928)...
Trong du ký Đi chơi núi Bà Đen in 4 kỳ báo, ký giả Nguyễn Văn Đ. ghi nhận sức mạnh bàn tay con người đã sắp xếp lại cảnh quan miền rừng và phản ánh cả những bất công trong xã hội đương thời: “Khỏi châu thành lối trên 30 cây số, hai bên đường giăng giăng những rừng nhân tạo trồng toàn có một thứ cây nhựa thun (hévéas) coi ngay hàng thẳng lối một hạng nhau cả...
Nhắc đến rừng cao su mình sực nhớ tới mấy cái án mạng bên Phú Riềng, Lộc Ninh mà rởn ốc, nếu không cố ý giết “cây nhỏ” mà bón “cây lớn” thì có đâu xảy ra chuyện đồng một giống mà tàn sát lẫn nhau như thế... Trải qua đâu 9, 10 cây số rừng, tới đồng rộng mênh mông, nhưng có chỗ cấy lúa chưa được vì nước đọng, có phèn lạnh còn nhiều.
Có ông Sáu T... đã đào kênh chung quanh ruộng của ông, công việc mới cáo thành năm nay, có lẽ rồi đây mấy ông đại điền chủ gần đó cũng theo gương đó mà làm cho điền của mình cũng được thạnh mậu như vậy” (Công luận, 1935)...
Khác biệt hơn, trong du ký Bảy ngày ở xứ Mọi (cách gọi thông thường đương thời về đồng bào vùng núi), 2 ký giả Trung Sơn và Nam Đài vừa lược tả phong tục, tập quán, lối sống và đề cao phẩm hạnh con người: “Vào nhà, mỗi cặp vợ chồng là một cái bếp”, “Mọi cà răng căng tai”, “Công chuyện hằng ngày của đàn ông và đàn bà”, “Vợ Mọi rất chiều chồng”, “Nghề nông - Quý tự do hơn tiền tài”, đồng thời ghi nhận sự quan tâm của nhà cầm quyền sở tại: “Sống gần, hiểu tất cả tình cảnh sinh hoạt rất khó khăn của họ, nên chi hôm đầu năm quan Đốc công Sở Kiểm lâm Định Quán, tốt nghiệp trường Canh nông và Nông lâm Hà Nội mới thương lượng với quan Thanh tra Sở Kiểm lâm Biên Hòa và quan Chánh chủ tỉnh một mặt lo dời những xóm ở tận giữa rừng cấm, nơi mà họ chỉ có chút rẫy chứ không có đất để làm ruộng, ra ngoài mé rừng gần đường lộ và định khai phá mọi chỗ lớn ra 40 mẫu đặng dạy họ cách làm ruộng” (Sài Gòn, 1940)...
Thêm nữa, lại có du ký trường thiên Cuộc đi thăm miền Nam in 4 kỳ báo của ký giả X. kể về chuyến du ngoạn 2 tuần qua khắp các vùng Trảng Bom - Blao - An Lộc - Bình Lộc - Túc Trung - Cây Gáo (Đồng Nai), trong đó nhấn mạnh địa điểm và tính chất, mục đích chuyến công du: “Sự tổ chức chu đáo của đồn điền Blao”, “Hai ngày qua các đồn điền “S.I.P.H” và “Les Caoutchoucs du Donnai”, “Lệ nghỉ ngày chủ nhật - Chính sách mộ gia đình”, “Việc phụng sự Công giáo và nền học vấn ở các đồn điền”, “Phương diện gia đình và luân lý ở một đồn điền”, “So sánh cách tổ chức ở hai đồn điền”...
Đặt trong tương quan phạm vi quy mô, các tác phẩm du ký trên Báo Thanh niên thường ngắn gọn, chủ ý kết nối vùng giáo xứ Nam Định với vùng Bắc Bộ và mở rộng cả nước, hướng tới các quan hệ bằng hữu và mong muốn sự phát triển đức tin gắn liền sự phát triển của đời sống kinh tế, môi trường giáo dục, con người, xã hội” (Thanh niên, 1942)...
Đặc biệt, có ký giả Tố Phang Ngô Văn Phát (1910 - 1983) từ miền Tây Đô đã đến và nhàn đàm Đồng Nai thi vị, trong đó đặc biệt tức cảnh sinh tình, lưu luyến với vẻ đẹp dòng sông hùng vĩ nơi đây: “Chảy từ chốn xa xăm, qua Lào, qua Mọi, Cửu Long và Đồng Nai không phải là hai dòng huyết chảy trong mạch máu ta, nặng nề lịch sử hay là tự đắc hân hoan, mà là hai nguồn sinh lực vô tận vô cùng cho cả một địa phương, cho cả một chủng tộc; là hai cảnh hãi hùng cho ghe thuyền thương khách trong cơn giông tố bão bùng; là hai nguồn mơ mộng khi hồng thắm như đôi má ngây thơ, khi trong ngần như đôi tròng mỹ nữ; là hai bức tranh thay đổi nhiều màu dưới trời sa mưa mây sẫm và dưới ánh nắng hồng tươi; là vẻ đẹp đẽ, là mơ màng, là hùng vĩ, là thơ!...
Đồng Nai! Đồng Nai chân thật, Đồng Nai sâu xa, Đồng Nai tâm trí, Đồng Nai của Lương Khê, Đồng Nai của Đồ Chiểu, Đồng Nai của Ba Tường, cứ chảy bền một mạch thơ chân thật, sâu xa, tâm chí, cứ chảy êm đềm trong ruộng lúa vàng tươi” (Nam Kỳ tuần báo, 1943)...
Qua 100 năm, bâng khuâng với cảnh xưa người cũ còn lưu lại trên trang giấy và càng thêm tin yêu về một Đồng Nai đang vươn mình trong kỷ nguyên mới./.
[1] Vô để: Không đáy, vô đáy, vô kể (LNHS chú)




