Văn hóa - Xã hội

Du ký về Đắk Lắk nửa đầu thế kỷ XX

La Nguyễn Hữu Sơn 27/03/2026 09:40

Miền đất Đắk Lắk ngày nay vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX còn chậm phát triển, giao thông khó khăn và hầu như không có tác giả du ký người bản địa. Những trang viết về vùng duyên hải, dọc đường quốc lộ thuộc địa hay ngược lên vùng non cao Bản Đôn - Hồ Lắk - Buôn Ma Thuột đều do người các vùng miền khác thực hiện.

vh-3.jpg
Khu trang trại trong trường học dành cho người Ê-đê ở Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, năm 1930_Ảnh: TL

Qua thời gian dài sưu tầm, tổng kiểm kê tác phẩm du ký giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX viết về Đắk Lắk có thể kể đến các tác giả tiêu biểu như Trần Huy Bá (1901 - 1987), Đào Duy Anh (1904 - 1988), Nguyễn Thị Kiêm (1914 - 2005), Trần Hữu Tư, Bát Long, Thiết Luận...

Trong điều kiện giao thông khó khăn, trên đường gặp cây cầu hư khiến chuyến du ngoạn từ Kon Tum - Buôn Ma Thuột lên Đắk Lắk hóa thành nhọc nhằn đến mức ký giả K.D. trong bài Một buổi du lịch tại Đắc Lắc - Lộ trình rất nên trắc trở phải lên tiếng phàn nàn: “Những người nào có đi du lịch trên Đà Lạt thì biết tỉnh Đắc Lắc ra sao, vậy tôi cũng nên tả cái hình trạng và đem những sự phàn nàn của những người đi thắng cảnh...

Tỉnh Đắc Lắc ở giữa tỉnh Đà Lạt và Kon Tum, ấy là một khoảnh đất mà L. Sabatier đã chiếm mười ba năm trời, vui thú với dân tộc Mọi khi đến... Nhiều người thuật chuyện nói rằng, tỉnh Đắc Lắc lấy làm cam go và khổ não vô hồi, vì không có dọn đường dọn xá cho những khách du lịch. Nghe vậy thì hay vậy, chớ ai dám cãi. Nhưng cũng may cho tôi, nhằm tết Ngươn đán, ba ngày xuân mát mẻ nên cùng vài bạn đồng nghiệp ngồi xe hơi trực chỉ ra Đà Lạt.

Tới nơi, thấy phong cảnh đẹp xinh thì tất lòng nầy vui mừng biết bao nhiêu xiết kể, làm cho tôi khỏe khoắn mười phần, ngó bút kia khó tả cho thành cái cảnh tốt đẹp ấy”, đồng thời khẩn thiết đề xuất: “Nghĩ xứ Đà Lạt cũng là một nơi thắng cảnh, nhưng ít ai dám đến đó, vì đường sá gập ghình khó bề du ngoạn. Có nhiều người viết thơ phàn nàn cùng quan trên Đắc Lắc sao mà để đường sá hư nát, cầu kỳ hư sập, nhưng tôi không mấy tỉnh; nay tới tận mặt mới tường sự hư thiệt. Có nhiều người ước trong Chánh phủ xuất ra một số tiền đặng mà tu bổ miền ấy... Ước vọng điều thứ nhứt là làm đường, sửa cầu lại, cho tiện bề lai vãng” (Công luận báo, 1926)...

vh-4.jpg
Một góc phường Buôn Ma Thuột hôm nay_Ảnh: baodaklak.vn

Tỉnh Đắk Lắk (thời xưa còn viết Đắc Lắc) là tên chung của tỉnh sau khi sáp nhập với tỉnh Phú Yên, thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên với trung tâm hành chính là phường Buôn Ma Thuật; có diện tích lớn thứ ba, dân số xếp thứ 17, tổng sản phẩm trên địa bàn,thu ngân sách và thu nhập bình quân dưới trung bình so với cả nước. Tỉnh Đắk Lắk hiện có 102 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 88 xã và 14 phường; trong đó có 96 đơn vị xã, 14 phường đã đổi tên và 6 xã giữ nguyên (Ea HLeo, Ea Trang, Ia Lốp, Ia Rvê, Krông Nô, Vụ Bổn)...

Trên đường quan lộ từ Bắc vào Nam, ký giả Mẫu Sơn Mục N.X.H nêu nhận xét ngắn gọn, niềm tin yêu và sự lạc quan về miền quê xứ Nẫu sung túc trong bài Lược ký đi đường bộ từ Hà Nội vào Sài Gòn: “Thành phố Tuy Hòa tuy nhỏ mà đông đúc, vui vẻ lắm. Hàng cao lâu của các Chú rất là náo nhiệt, xe ô tô tư, xe ô tô hàng đi lại rầm rập, xe ngựa cho thuê đứng đầy một khu đất cạnh chợ. Con sông ở cạnh thành phố to mà đẹp lắm, nước sông đầy ăm ắp, hai bên bờ thì dân cư, cây cối, có nhiều dừa sầm uất lắm” (Nam Phong tạp chí, 1928)...

Ký giả Bát Long tập hợp các bài báo in trên tờ Tiếng dân rồi in thành sách có ghi lại khái lược địa thế cả 2 vùng thượng và hạ Đắk Lắc: “Ban Mê Thuột là tỉnh lỵ tỉnh Đắc Lắc ở trong cao nguyên Đắc Lắc; cao nguyên Đắc Lắc cao chừng 400 hay 600 thước Tây; có hai con sông nhỏ (Krong Khô, Krong Bút) và một cái hồ (Taklak) dài 3km, rộng 2km; trong tỉnh có hai giống Mọi: giống Mã Lai như Mọi Radé và giống Ấn Độ như Mọi Mnong...

Sông Cầu là tỉnh lỵ tỉnh Phú Yên; ở trước mặt biển, nhiều dừa; cách độ 2km có thành An Nam để quan An Nam ở. Xứ Phú Yên buổi xưa là đất Chiêm Thành. Khi chúa Nguyễn lấy được Chiêm Thành thì đặt ra phủ Phú Yên.

Đến đời vua Nguyễn lại đổi làm tỉnh (năm 1831). Năm 1865 cải làm đạo mà thuộc về tỉnh Bình Định. Năm 1876 mới đổi lại tỉnh cho đến bây giờ. Đường Sông Cầu - Quy Nhơn: Đèo Cù Mông (36km), phủ Tuy Phước (54km. Nhập vào con đường Quy Nhơn - Quảng Ngãi) - Quy Nhơn (60km)” (Du lịch Trung Kỳ, Huế, 1930)...

Với nữ sĩ ký giả Nguyễn Thị Kiêm trong bài du ký trường thiên Dọc đường cuộc hành trình từ Nam ra Bắc miêu tả cảnh quan miền quê Tuy Hòa - Phú Yên: “Qua khỏi Đèo Cả, đi một đỗi đường thì thấy nhà tranh, mấy dãy vườn chuối và ruộng lúa. Ở đây cũng có trúc và cây cau nhiều. Đến Tuy Hòa lối 3 giờ. Ở Tuy Hòa, dân thường đau mắt cũng như các tỉnh nóng, có cát nhiều...

Tuy Hòa có cái cầu dài qua sông Đa Rang, sáu năm về trước, cầu nầy chưa có, qua đò Tuy Hòa phải đi đò lâu lắm. Vì sông to mà chèo bằng tay nên lối đi trở ngại. Nghe các người tài xế xe hàng kể chuyện, khi trước qua đò nầy, hễ nước lớn thì đò chèo cả buổi mới qua tới bến; mấy xe hàng ở bên bờ nối tiếp nhau mà đợi suốt ngày.

Bảy tám năm về trước ở Tuy Hòa có khỉ nhiều lắm. Vì nhà phố làm dưới chưn núi nên khỉ xuống dạn vô cùng, thường vào nhà bếp của người, dỡ nắp nồi mà lấy cơm ăn. Buổi ấy người ta đang đặt đường ray xe lửa... Dọc đường, chúng tôi lại gặp mấy gái đang lui cui trong ruộng, mấy đứa bé gái chăn trâu. Họ vấn khăn “mỏ rìu”, khăn nhuộm đen, ở bốn góc chứa trắng, hình cái hoa nhỏ, trông ngộ quá” (Phụ nữ tân văn, 1934)...

Lại tới ký giả Thiết Luận trong du ký in đậm chất phóng sự Dưới chân dải núi Tràng Sơn trước hết tả cảnh cưỡi voi đi chợ voi trong sương sớm và khâm phục tài năng đồng bào dân tộc miền núi: “Trời lạnh lắm và đầy cả sương mù. Cách ba bước không nhận được vật gì nữa. Nhưng thổ dân đã quen đường. Phải có một bản năng rất tinh xảo như của họ mới có thể không lầm được giữa những cây và bụi, bụi rồi cây, cây nào cũng giống cây nào, bụi nào cũng giống bụi nào, liên miên bất tuyệt.

Cái bản năng tinh xảo ấy thế cho lý trí đã bảo vệ cho họ giữa muôn nghìn sự nguy hiểm của một cảnh vật mà sự chiến đấu đến tuyệt đích của rùng rợn”, lược kể cảnh buôn làng, phong tục, tập quán, lối sống và đặc tả cảnh phiên chợ voi: “Ngày hôm nay là ngày phiên chợ voi ở Bản Đôn. Từ rừng này qua rừng nọ, những tiếng gầm mãnh liệt gọi nhau: từ Xiêm, từ Lào, từ Cao Miên, những vùng Mọi ở phía Bắc và phía Nam, người ta dẫn những đàn voi hàng chục con tới Bản Đôn để bán. Thật là một cảnh lạ mắt và vĩ đại.

Giữa một đám đất ruộng, gần một trăm con voi khổng lồ quây tuần. Dưới chân những tháp thịt đồ sộ ấy, những người mua và bán thản nhiên ngồi hút thuốc. Thỉnh thoảng một con voi gầm lên rồi cả bầy voi quăng những cái vòi ngòng nghèo như những con rắn khổng lồ lên trời, gầm đáp lại, làm thành một tiếng kinh thiên động địa và sởn gáy rùng mình” (Đồng thanh, 1940)...

vh-5.jpg
Nhà dài của người Ê-đê, tỉnh Đắk Lắk, năm 1930_Ảnh: TL

Tiếp tục trong du ký khảo sát dân tộc học Ban Mê Thuột (nay viết Buôn Ma Thuột) mà nhà dân tộc học Trần Huy Bá định danh “lữ ký” đã tường tả chi tiết chuyến đi từ Viện Viễn Đông Bác Cổ (Hà Nội) qua Ninh Hòa - Nha Trang rồi ngược 163km lên Buôn Ma Thuột.

Ông cho biết phải qua trạm kiểm soát giấy tờ, dọc đường thấy đàn voi, bầy khỉ, chim công. Qua mấy ngày, học giả đã đến Bản Đôn bên sông Y Say để lấy mẫu mấy kiểu nhà của người Rhadé: “Trước hết, tôi nhận thấy mấy dãy nhà sàn: mỗi cái dài đến 200 thước, bề ngang độ 6, 7 thước. Thoạt vào, đằng đầu nhà có một cái thang, bằng một thân cây gỗ, bề ngang độ 40 phân, đục thành từng bực thang lên trên mặt ván; trên cầu thang đục hai cái vú và mặt giời có tia sáng xung quanh. Thang dựng gần đứng, từ mặt đất lên sàn cao hai thước tây...

Trèo lên trên sàn, thấy toàn thân cây xếp lại, để lộ thiên như một cái sân. Ở góc bên tay phải, thấy để một cái bành tượng tết bằng mây, có mỹ thuật mà bền chặt lắm; bên cạnh một đống dây thừng to như cổ tay, để bừa ra đó. Đi qua một cái cửa phên, tới một căn nhà sàn, dài độ 40 thước, rộng 6, 7 thước.

Nơi này dùng để cúng lễ, bày tiệc rượu cần để tiếp khách. Ở giữa nhà có một hàng cột chạy suốt dọc nhà; cái nọ cách cái kia chừng 4, 5 thước, cao từ mặt sàn tới nóc, chừng 7, 8 thước. Dưới chân hàng cột ấy, bày một dẫy chum: cái sành, cái sứ, men đỏ, men xanh, có hoa, lá, rồng, phượng, đắp nổi ngoài chum, coi rất ngoạn mục. Tính ra nhớn nhỏ đến hơn trăm cái chum” (Tri tân tạp chí, 1942)...

Tiếp trong đoạn sau, Trần Huy Bá tường thuật chi tiết vật liệu, kết cấu, cách bài trí, khung cửi, vật dụng, trang phục, ẩm thực, thể thức sinh hoạt; rồi đến Poste Le Lac: “Thực là một cảnh Bồng Lai, gió mát như đàn, bóng râm êm ái, phong cảnh đẹp như bức tranh sơn thủy của nhà họa sĩ khéo vẽ vời. Xa trông làn nước mênh mông, sóng gợn lăn tan, dưới dãy núi trập trùng xanh biếc, thỉnh thoảng lại điểm một cánh buồm thuyền đánh cá tựa như lưỡi mác trắng, cắm thẳng từ nền giời với mặt nước, không phân biệt gì nhau.

Lại thêm một lũ vịt giời bay đi liệng lại, làm cho tôi mê mệt ngắm hoài”...; tiếp đến là những trang văn kể chuyện đồ họa kiểu nhà người Mnông Gsars ở buôn Mébac, người Mnông Lach ở Ban Péco trong khung cảnh cuộc sống miền rừng thanh bình...

Nhìn chung, dòng văn du ký viết về vùng đất Đắk Lắk giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX có cả cảnh quan miền biển, đồng bằng và cả nơi non cao rừng thẳm. Các trang viết góp phần bảo lưu ký ức thực tại một thời đã qua, bổ sung thêm nhận thức về đời sống con người, xã hội, cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái Đắk Lắc cách ngày nay khoảng 1 thế kỷ./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Du ký về Đắk Lắk nửa đầu thế kỷ XX
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO