Du ký về Cà Mau nửa đầu thế kỷ XX
Với các biệt danh miền đất cực Nam, đất ba biển, thủ phủ tôm, đất quê công tử, quê hương đờn ca tài tử nhưng vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, miền quê Cà Mau còn là vùng sông nước mênh mông, dân cư thưa vắng, đường giao thông khó khăn nên vắng khách du ngoạn và cũng thưa vắng các trang du ký.

Lục tìm khắp các nguồn sách báo mới thấy một số trang viết xa gần liên quan đến vùng biên viễn bán đảo Cà Mau của các tác giả Đông Hồ, Nguyễn Văn Kiểm, Nguyễn Văn Thời, C.L, Trịnh Quang Vận, Trần Hữu Tư, Huỳnh Văn Chính, Khuông Việt, Phong Vũ...
Dẫu sao, những trang ghi chép này cũng góp phần giúp con người hiện đại hiểu rõ hơn về sự thay đổi địa danh, cảnh quan tự nhiên, môi trường sinh thái và thực trạng đời sống kinh tế - xã hội quê hương Cà Mau cách ngày nay vừa khoảng 1 thế kỷ.
Từ rất sớm, vùng quê Bạc Liêu - Cà Mau đã nổi tiếng giàu có về nghề trồng lúa. Hai ký giả, văn sĩ, nhà giáo Đông Hồ và Nguyễn Văn Kiểm trong bài ký Cảnh vật Hà Tiên đã có ý so sánh: “Cần Thơ, Bạc Liêu giàu về lúa, Cần Giọt, Hà Tiên giàu về tiêu vậy”, đồng thời chỉ rõ vị trí địa lý Long Xuyên khi mới là một huyện của Cà Mau trong toàn cảnh miền sông nước Tây Nam Bộ: “đến nay dân sự càng ngày càng thêm đông đảo. Vườn tiêu, vườn mía, ruộng lúa, rừng ong một ngày một mở mang thêm ra... Đất nầy về sau, đặt làm bốn huyện: Kiên Giang (Rạch Giá); Trấn Giang (Cần Thơ); Trấn Di (Bãi Sàu); Long Xuyên (Cà Mau)” (Nam Phong tạp chí, 1930).
Điều khác biệt hơn, trong thiên du ký công vụ Năm ngày ở miền Hậu Giang nối dài 8 kỳ báo, ký giả Nguyễn Văn Thời tháp tùng đoàn quan chức đi thực địa, kiểm tra, giám sát miền Hậu Giang - Cửu Long đã đến thủ phủ lúa Bạc Liêu gặp gỡ, quan sát công cuộc làm ăn của ông đại điền chủ Trần Trinh Trạch (1872 - 1928), thăm nhà Hội Canh nông và đi tới chót mũi đất Cà Mau.
Sau khi kiểm tra, hỏi biết rõ những công cuộc thí nghiệm gieo lúa giống ở Sở Mễ cốc thuộc Phú Lộc (Thạnh Trị), đoàn lên đường đi Bạc Liêu: “Đến Bạc Liêu vào hồi 8 giờ rưỡi... Quan Thống đốc thấy học trò trường Bạc Liêu học giỏi mà thiếu sách học nên có biểu ông đốc trường hãy biên những số sách học trò cần dùng gởi cho ngài, ngài sẽ gởi xuống cho. Đối với cử chỉ ấy, chúng tôi xin hết sức tán thành và hoan nghinh quan Thống đốc. Chúng tôi xin thay mặt cho bọn học sanh nghèo ở trường Bạc Liêu mà cám ơn ngài” (Công luận, 1934).
Từ đây, Nguyễn Văn Thời đặc tả cuộc tra vấn tình hình giá lúa giữa nhà quản lý với nhà phú gia: “Ở trường học ra, quan Toàn quyền liền ngồi xe hơi đi viếng kho muối của ông Hội đồng và đại phú gia Trần Trinh Trạch. Hai vị thủ hiến vào tận trong kho muối mà quan sát. Ông Trạch theo hai ngài, cắt nghĩa rõ tình hình làm muối và bán muối ở Bạc Liêu. Quan Thống đốc biểu ông Trạch hãy tìm cách nào hạ giá muối xuống cho dân sự nhờ, bởi vì dân bây giờ nghèo lắm, thường bữa ăn họ phải cần dùng đến muối nhiều!” (Công luận, 1934).
Như vậy, thiên du ký công vụ đã động chạm đến những vấn đề cụ thể, thiết cốt của giới nhà giàu trong mánh lới làm giàu đối lập với sự cùng khổ, đói kém, ốm đau, bệnh tật của người dân nghèo.
Tỉnh Cà Mau sau sáp nhập bao gồm toàn bộ địa giới của 2 tỉnh Cà Mau - Bạc Liêu (cũ) thuộc bán đảo Cà Mau, miền cực Tây Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tỉnh Cà Mau hiện có 64 phường, xã, diện tích xếp thứ hai, dân số xếp thứ 9 vùng đồng bằng sông Cửu Long, ba phía giáp Biển Đông và vịnh Thái Lan với chiều dài 310km (xếp thứ hai trong cả nước), phía đất liền giáp thành phố Cần Thơ và tỉnh An Giang, đã và đang ổn định tổ chức, phát huy sức mạnh tổng hợp địa - kinh tế - văn hóa của vùng đất mới trong kỷ nguyên mới.

Ở đoạn cuối là ghi chép khái lược về chuyến đi Cà Mau: “Một giờ trưa, quan Toàn quyền ngồi xe hơi đi Cà Mau. Khỏi Bạc Liêu 2 cây số có hai người đón xe quan Toàn quyền dâng đơn kể sự nguy khổ trong hạt mong nhờ cứu giúp. Tới Giá Rai vào hồi 2 giờ, ngài qua đò, đi viếng quận Giá Rai, nhà thương, v.v... rồi ngồi xe đi Hội Phong... Đến Hội Phong ngài ngồi ca nô hơi đi Quan Lộ, rạch Cạnh Điền rồi đến Cà Mau vào hồi 5 giờ” (Công luận, 1934)...
Trong một trường hợp khác, ký giả Trần Hữu Tư (thành viên Hội đồng Địa hạt Bạc Liêu) trong tác phẩm Hải Long du ký kể lại chuyến du hành từ quê xã Vĩnh Mỹ (xưa từng thuộc quận Giá Rai, rồi huyện Vĩnh Lợi, Hòa Bình) đến Vịnh Hạ Long (Hải Long - Quảng Ninh) rồi tỏ bày ý nguyện về tâm thế du lịch, nhất là với người cao tuổi:
“Nguyên tôi có một người anh, quý danh L. M. H., Đại Hương Cả làng Long Thạnh, Bạc Liêu. Vì thấy anh giàu có và lớn tuổi nên từ ngày có xe lửa xuyên Đông Dương, năm nào tôi cũng nhắc anh ráng đi chơi cho tuế nguyên thêm trường; nhưng anh cứ chần chờ kỳ hẹn.
Mãi tới năm 1937, anh mới chịu đi. Về tới nhà, vài tháng sau, anh đổ bệnh đau, tôi tới thăm, anh nhắc chuyện du lịch và lấy làm ăn năn vì không nghe lời tôi đi chơi cho sớm hơn. Anh hứa chắc với tôi, nếu ngày nào được mạnh giỏi trở lại thì mỗi năm anh sẽ đi du lịch với tôi luôn luôn...
Than ôi! Anh Cả tôi biết được sự du lịch là hữu ích thì ngày trời đâu còn. Anh đau trong mấy tuần lễ rồi mất luôn... Tôi đem bài này vào đây để làm gương cho các bạn đã lớn tuổi, muốn đi du lịch mà còn có tính chần chừ; tưởng cũng không phải là vô ích vậy” (Nxb. Đức Lưu Phương, Sài Gòn, 1942)...
Có thể xem đây là tiếng nói của tác giả trong quan niệm về du lịch, sự gắn kết giữa con người trên quê hương Cà Mau với bốn phương đất nước cũng như niềm vui và khả năng gia tăng nhận thức qua các chuyến du ngoạn.
Trong điều kiện giao thông và nền kinh tế có bước phát triển nhất định, ông Huỳnh Văn Chính (từng làm chủ bút báo Công luận ở Sài Gòn) trong cuộc Một cuộc hành hương ở Hà Tiên đã nhớ lại câu chuyện khẩn hoang và xác định vùng đất Bạc Liêu trong tương quan lịch sử miền Tây: “Mạc Thiên Tích là người võ dõng lại có tài về chánh trị và về văn chương. Sau mấy phen đánh thắng quân Cao Miên và quân Xiêm, người mở rộng trấn Hà Tiên, đem về những huyện Long Xuyên (nay là Cà Mau) và huyện Trấn Di (nay là Bạc Liêu) và làm cho vững chắc thế lực của các chúa Nguyễn ở đất Nam Kỳ” (Nam Kỳ tuần báo, 1942).
Ở vào chặng đường gần giữa thế kỷ, ký giả Khuông Việt (Lý Vĩnh Khuông, 1912 - 1978; người Việt Nam đầu tiên được Liên hợp quốc cấp thẻ nhà báo, 1948) trong du ký khảo cứu lịch sử trường thiên 25 ngày đi tìm dấu người xưa (in 19 kỳ báo) đã xác định vị trí Cà Mau trong tổng thành địa thế dọc dài miền sông biển cực Tây Nam Bộ:
“Chính khi ở Xiêm về - tháng bảy năm Đinh Mùi (1787) - Nguyễn vương đã đi thuyền đến Nước Xoáy sau khi ghé qua Cổ Cốt, Hà Tiên và Cà Mau” và câu chuyện hình thành, phát triển, biến đổi Cà Mau - Long Xuyên qua các đời: “Ngày xưa, thuộc tỉnh Hà Tiên có Long Xuyên huyện; chính là vùng Cà Mau bây giờ. Sử ta chép rằng Định Vương Nguyễn Phúc Thuần bị Tây Sơn bắt tại Long Xuyên tháng chín năm Đinh Dậu (1777). Long Xuyên đó là Cà Mau ngày nay. Còn Long Xuyên ngày nay trước kia chỉ là một thôn nhỏ mà địa điểm là châu thành Long Xuyên bây giờ và có tên là “Chợ Long Xuyên”.
Có bạn lại đoán rằng Long Xuyên ngày nay tức là Đông Xuyên ngày xưa. Thưa không, Đông Xuyên huyện của cựu trào thuộc tỉnh An Giang, nay là vùng Tân Châu (Châu Đốc). Khi người Pháp sang có lập tỉnh Đông Xuyên cũ.
Về sau khi tỉnh ấy bị bãi bỏ thì tỉnh Long Xuyên mới được thành lập đến bây giờ”; thậm chí khi thực hiện chuyến du khảo ở vùng Ba Thê (An Giang) vẫn nhắc nhớ đến một thứ “đặc sản” kinh sợ một thời của miền đất Cà Mau: “Ai đã từng đến những nơi rừng núi, hẳn đã được làm quen với loại côn trùng có tên là muỗi. Muỗi Cà Mau danh tiếng, nhưng có lẽ muỗi Ba Thê cũng chẳng kém chút nào” (Nam Kỳ tuần báo, 1943).
Thêm nữa, ở bên lề dòng văn du ký, ký giả Phong Vũ trong bài Hạng trí thức Tây Đô hoạt động khi điểm duyệt công việc của Hội Khuyến học Tây Đô đã nhấn mạnh vai trò thủ phủ Cần Thơ trong toàn cảnh vùng Hậu Giang - Tây Nam Bộ, trong đó có Bạc Liêu - Cà Mau: “Tỉnh Cần Thơ mà châu thành đã được gọi là Tây Đô ấy là nhờ vị trí của tỉnh lị nằm trên bờ Hậu Giang và đầu mối nhiều đường bộ giao thông với nhiều tỉnh phía tây Nam Kỳ.
Từ Cần Thơ ta có thể đi Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Bạc Liêu, Sóc Trăng. Nhơn đó, sự quan trọng của Tây Đô về thương điền, kinh tế không ai chối cãi được” (Nam Kỳ tuần báo, 1943)...
Như vậy, có thể thấy tính độc lập của mỗi địa phương tỉnh, thành phố chỉ có tính tương đối và luôn được đặt trong tương quan liên lập, đặc tính địa - lịch sử - văn hóa của mỗi vùng miền cụ thể.
***
Địa bàn tỉnh Cà Mau ngày nay vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX hầu như chỉ độc canh cây lúa và ngư nghiệp nhỏ, nhìn chung dân cư thưa vắng, đời sống kinh tế chậm phát triển.
Đến nay, việc sưu tầm và đọc lại các trang du ký xưa giúp chúng ta hiểu rõ hơn một thời kỳ quá khứ, cả ở tiềm năng cũng như những hạn chế lịch sử, giúp người đọc có thêm vốn kiến thức về địa chí Cà Mau, địa phương học, những hình ảnh sống động một thời cùng tình yêu quê hương và niềm tin vào sự phát triển trong kỷ nguyên mới./.

