Du ký về Cao Bằng nửa đầu thế kỷ XX
Vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều trang du ký sinh động viết về vùng non cao biên viễn Cao Bằng của các tác giả Thanh Giang, Thuyết Hải (Ngô Tất Tố), Trần Văn Lạng, N.P (Mỹ Ngọc), Phạm Quỳnh, Thái Phong Vũ Khắc Tiệp, Văn Tứ, Nguyễn Thế Xương...

Tỉnh Cao Bằng thuộc miền núi cao phía Bắc vùng Việt Bắc và biên giới phía Đông Bắc của Tổ quốc; phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) với đường biên giới dài 333km; phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang; phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên và phía Đông Nam giáp tỉnh Lạng Sơn.
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Cao Bằng xếp thứ 23 (dân số xếp thứ 33), chưa đạt theo quy định nhưng không thực hiện sắp xếp vì có đường biên giới quốc gia dài, địa hình đồi núi cao, chia cắt phức tạp và không phù hợp sáp nhập với các tỉnh giáp ranh. Hiện nay, tỉnh có 56 đơn vị hành chính cấp xã (53 xã và 3 phường) với 27 dân tộc anh em (chủ yếu là Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh)...
Theo dòng thời gian, có thể thấy khá rõ du ký viết về vùng non cao biên viễn Cao Bằng vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX thường liên quan đến hoạt động công vụ của giới công chức, nhà báo, nhà giáo, nhà binh.
Mở đầu, học giả Phạm Quỳnh tường tả cuộc du ngoạn mang tính nghiệp đoàn, hội hè: “Nguyên Hội Trí Tri Cao Bằng gần đây có ông Hội trưởng Vũ Đình Khôi mới chỉnh đốn lại, có bề phát đạt hơn xưa, anh em dưới này vẫn rắp lên thăm các bạn đồng chí trên ấy một lần, cho thêm cái mối liên lạc người trong một Hội...”, đồng thời miêu tả chi tiết cảnh quan con đường từ Lạng Sơn sang tỉnh lỵ Cao Bằng: “Kể cheo leo thì đường đây cũng cheo leo thật.
Một bên núi cao rừng rậm, một bên rừng rậm vực sâu, cái xe quanh co len lỏi ở giữa, toàn theo một kiểu chữ chi không chỗ nào được đến một trăm thước thẳng, tay cầm máy không để yên một giây phút, cứ chuyển dịch tay hoa luôn, tưởng giá rời tay một phút thời cũng đi đời; lại những chỗ lên dốc xuống dốc, cũng phải đổi tốc độ luôn, coi cái xe như gò gẫm, hộc tốc, rền rĩ, gầm gừ, mà thương cho con vật máy phải khó nhọc với giống người!
Lại còn nỗi xe tải đứng chật đường nữa; tự Thất Khê đến Cao Bằng, trên đường có tới hàng nghìn cái xe như hình xe bò có mái che mà ngựa kéo, của bọn phu tải người Thổ, người Nùng, người Khách chở đồ hàng hóa, trưa nắng chui vào trong xe ngủ, ngổn ngang cả dọc đường” (Chơi Lạng Sơn - Cao Bằng, Nam phong Tạp chí, 1925)...
Trong những đoạn tiếp theo, Phạm Quỳnh thuật thêm chuyện du ngoạn thiên nhiên, đất trời, giao lưu, hội họp, thăm thú phố xá, thăm sở nuôi ngựa ở Hòa An, viếng miếu Vua Lê ở làng Na Lữ và hào hứng thức đến 3 giờ sáng dự cuộc hát then, hát Tiên, hát Bụt...
Trong một trường hợp khác, ông lính Văn Tứ trong khi thực hiện nhiệm vụ tuần tiễu vùng biên giới đã có bài du ký công vụ 3 kỳ độc đáo với đoạn mở đầu chân thực, có phần trách nhiệm và khơi gợi vẻ ly kỳ, bí hiểm: “Hôm đấy, đến “tua” chúng tôi. Đang giữa mùa đông: trời rét như cắt, đã rét lại mưa, mưa tầm mưa tã luôn mấy đêm ngày, ngoài trời gió thổi ào ào như tát vào mặt, như quật vào cây, mặt người xám ngắt như màu chàm, cây rừng xôn xao như vùng dậy.
Trên thì tầng mây chồng chất, cuồn cuộn đầy trời: đám trắng, đám đen lượn đi lượn lại, rồi tầng tầng u ám như hạ dẫn xuống thấp, đè ụp vào cả những rừng cao cuốn gió, suối thẳm reo cây.
Dưới thì bát ngát những quả núi “đội” rừng, những cánh rừng vừa rậm vừa dày đang thất thanh gào thét...”; tiếp theo là cảnh trèo đèo vượt suối qua bản Bí Hà, Bố Mu, đến làng Bản Tín: “Ở đây là một cái thung lũng rộng chừng 40 mẫu, hình chữ nhật, bốn bề có núi đá bao bọc kín mít, tựa hồ bốn cái thành bể nước; núi vừa dốc vừa có rừng rậm. Ở các sườn núi, những dòng nước “mưa tuôn” thi nhau gào khúc âm nhạc của Thiên công...
Này ruộng ngô, này ruộng lúa. Các ruộng có bờ cõi tinh tươm, cái nào cũng nằm thoai thoải dốc. Người chẳng thấy một ai, chỉ thấy đằng xa xa, về bên trái, dưới những ngọn cây rườm rà, hai cái nhà cũ kỹ, đứng sát nhau, cùng quay lưng vào sườn núi” (Cảnh đường rừng từ đồn Hạ Lang đến làng Bản Tín, Hà thành ngọ báo, 1932)...
Tiếp đến đoạn cuối là chuyện về 2 cô “lục sao” (gái bản), chuyện đời sống, đặc biệt câu chuyện gặp “cụ toóng” hổ đang vồ bò nhà và cô Cối dám xông vào đâm hổ. Thiên du ký công vụ khép lại với hình ảnh một chuyến tuần tiễu du ngoạn miền rừng mang màu sắc phiêu lưu, mạo hiểm bất đắc dĩ.

Khác biệt hơn, người đại diện cho Nam Phong tạp chí ký tên N.P (Mỹ Ngọc) tường tả chuyến vi hành, thị sát vùng biên giới Đông Bắc của Hoàng triều Bảo Đại và đoàn tùy tòng: “2 giờ trưa, xa giá dời Lạng Sơn, qua Đồng Đăng, Na Chàm, Thất Khê, tới chỗ nào nhân dân cũng đón rước long trọng. 6 giờ 30 tới Cao Bằng. Tuy trời tối, song cuộc nghênh giá không kém phần trọng thể.
Người Kinh, người Thổ thi nhau đón rước, các quan chức bận lễ phục theo xa giá vào dinh quan Năm. Quan Năm và quan Tuần đọc chúc từ và giới thiệu các quan chức, các thân hương Tây, Nam. Rồi Hoàng đế gắn bội tinh.
Trời tối mà dân chúng kéo nhau đi xem đông lắm. Thực là một ngày hội họp đủ các thứ người ở chốn sơn lâm: Người Thổ, người Nùng, người Mán, người Mèo. Ngài ngự thiện ở dinh quan Năm Chánh sứ đạo Cao Bằng...
Ngày 6 tháng 12 [1933]. 7 giờ sáng, ngự giá dời tỉnh Cao Bằng qua Ngân Sơn về Bắc Cạn. Đường đi rất khó khăn. Đèo Gió quằn quèo khi lên khi xuống, lại thêm lúc đó sương mù chưa tan, nên các xe của đạo ngự đi rất vất vả” (Lược thuật hành trình cuộc ngự giá Bắc tuần, Nam Phong tạp chí, 1933)...
Điều này cho thấy phần nào tinh thần tự chủ, quyền độc lập dân tộc của nhà nước Nam triều trong sự đối sánh với chế độ thực dân Pháp và ý thức bảo vệ lãnh thổ, biên cương đất nước.
Vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, đường ô tô lên Cao Bằng hầu như chỉ có một tuyến đường rừng biên giới Lạng Sơn mà nhà văn, nhà báo xuất sắc Hải Khách đã vượt qua để đến với hội chợ nơi phố thị non cao: “Bằng mấy nghìn ngọn đèn xanh đỏ rực rỡ soi các cửa hàng, bằng mấy nghìn lá cờ phất phới tung ở trước gió, dãy phố chạy dài suốt tỉnh như đương hơn hớn phô với viễn khách cái cảnh tốt đẹp của ngày hội đường rừng.
Cũng như đối với những người Trung châu, cái tiếng “Hội chợ Cao Bằng” đã hút lại đó đủ các thứ người mạn ngược. Bây giờ đã gần 11 giờ đêm, trên đường đi vẫn còn tấp nập... Người ta xem đèn, người ta xem cờ, người ta xem các cửa hàng tạp hoá và người ta ngấp nghé trước cái thể môn”.
Sáng hôm sau qua thăm từng gian hàng: “Chừng hơn ba chục gian hàng theo hình chữ nhật vây quanh tòa nhà cổ diêm, mỗi gian bày mấy thứ sản vật của các châu. Quặng vàng, quặng thiếc của mỏ Tĩnh Túc, gỗ nghiến, gỗ lý của châu Quảng Nguyên, ghế tre của châu Nguyên Bình, chiếu cói của châu Phục Hòa và chiếu tre của châu Thạch An, đó đều là những thứ mà dưới đường xuôi không có.
Đáng chú ý là những màn cẩn của châu Thượng Lang. Thứ màn ấy dệt toàn bằng chỉ ngũ sắc, tuy không đẹp như gấm của ta nhưng cũng có vẻ mỹ thuật, có bức đề giá 25 đồng bạc mà đều có người mua rồi”.
Sau đó, du khách hào hứng với lịch sử miền biên viễn: “Nhưng đã đến Cao Bằng, không ai nỡ vô tình với nhà Mạc Nhờ về nước lành đất tốt, giang sơn hiểm trở, nhân dân khoẻ mạnh, vận mệnh họ Mạc đã thọ thêm ở xứ này hơn sáu chục năm. Và nước non Cao Bằng mới thành một nơi có quan hệ với lịch sử hơn các tỉnh thượng du khác.
Đọc câu phong dao: Chàng về giã gạo ba trăng,/ Để em gánh nước Cao Bằng về ngâm, thì biết hồi xưa Cao Bằng đã có lúc khiến cho người ta quyến luyến... Muốn viếng dấu cũ của nhà Mạc, chúng tôi cùng nhau đi thăm Vườn Cam. Vì theo trong sử, dinh trại chúa Mạc khi xưa đều đóng ở đây. Nhưng bây giờ không thấy cam nữa. Nó chỉ là những trại nhỏ thu xếp trong một khu đất độ vài chục sào, những gốc mía mưng sắp hàng đứng dưới những bóng lá mít xanh biếc”.
Cho đến chuyến du ngoạn thăm thác Bản Giốc: “Một dãy ngọn nước như sắp một hàng chữ nhất, từ trên lưng núi, ào ào dội xuống đầu khe. Mặt khe với sườn núi, cách nhau có đến ba chục thước. Bọt nước tung lên lưng trời trắng xóa như bọt thủy ngân.
Ngăn cách bằng một quãng trống không ở giữa, ngọn thác chia ra hai ngành: bên này ba, bốn dòng kéo dài một lớp, dòng nào riêng đi dòng ấy; bên kia thì bao nhiêu dòng hợp lại, thành một “tấm nước” chừng hai chục thước bề ngang. Ấy là những bức màn trắng trải trên một bãi cỏ xanh, hay là những làn mây bạc vá dưới lớp da trời màu xám” (Nước non Cao Bằng, Thời vụ, 1938)...
Thay cho lời kết, xin mượn lời Hải Khách tụng ca thác Bản Giốc tiêu biểu cho vẻ đẹp non nước Cao Bằng cuối bài báo 3 kỳ nêu trên: “Thuở trước đọc những bài ký về núi Thiên Thai và động Đào Nguyên, ai cũng cho rằng nó chỉ là cảnh tưởng tượng dưới ngòi bút tài tình của tác giả. Nhưng có đến đây mới biết ở trong trời đất không thiếu một cảnh lạ nào.
Với những vẻ mỹ lệ của tạo vật, với những cảnh u tịch của giang sơn, nhất là, với cái khí hậu mát mẻ, êm đềm của khu vực đặc biệt, tới đây người ta có thể ngờ mình đã vào động Đào Nguyên hay núi Thiên Thai.
Giả sử ở đây lại thêm một số giai nhân để chào đón các vị du khách, như hai tiên nữ đã tiếp chàng Lưu Nguyễn ngày xưa, có lẽ lắm người sẽ không thiết gì mùi phú quý ở nơi thành thị”.../.
