Mở cửa chiêu hiền: Từ trọng tài đến trọng dụngKỳ cuối: Trách nhiệm của "người mở cửa"
Đòi hỏi người tài phải cam kết đầu ra, phải có sản phẩm đột phá nhưng bộ máy giao việc lại đứng ngoài vòng phán xét, đó là điểm nghẽn của cơ chế đánh giá một chiều. Khi một công trình nghìn tỷ đắp chiếu hay một nhà khoa học rời đi, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy được định lượng bằng thước đo nào? Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV đã nêu rõ không chấp nhận sự né tránh: Trách nhiệm phải được truy xuất sòng phẳng ở cả hai đầu. Trọng dụng nhân tài không chỉ là chiêu mộ mà là bản lĩnh chính trị và danh dự của người cầm quyền.

Thực tiễn là thước đo quan trọng nhất của tài năng
Theo triết học Mác – Lênin, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm tra chân lý. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”.
Soi chiếu vào công tác nhân tài, mọi khẩu hiệu chiêu hiền đãi sĩ hay nghị quyết dày dặn chữ nghĩa chỉ là lý thuyết suông nếu không được kiểm chứng bằng những chuyển biến cụ thể trong đời sống kinh tế - xã hội.
Thực tiễn hôm nay được soi rõ qua Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2026 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố ngày 29-9-2026. Việt Nam xếp thứ 43/139 nền kinh tế, tăng 1 bậc so với năm 2025 và tăng 16 bậc so với vị trí 59 của năm 2016; nhóm chỉ số đầu ra xếp thứ 35, tăng 2 bậc.
Song nhóm chỉ số đầu vào chỉ đứng thứ 54, giảm từ vị trí 50; trụ cột “Nguồn nhân lực và nghiên cứu” tụt từ hạng 70 xuống hạng 79, còn số bài báo khoa học và kỹ thuật xếp thứ 106.
Trong khi đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng trên 55% và đến năm 2045 Việt Nam thuộc nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khoảng cách giữa mục tiêu và số đo thực tế là phép thử đối với công tác nhân tài.
Nghị quyết số 30-NQ/TW về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới xác lập hệ quy chiếu chuẩn mực: “lấy năng lực, thực tài, khả năng tổ chức thực hiện làm trọng yếu; lấy sản phẩm, kết quả, uy tín và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo chủ yếu. Kết hợp chặt chẽ đức với tài, trong đó đức là gốc, thực tài là trọng, sản phẩm, kết quả, hiệu quả và cống hiến là thước đo”.
Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu 2 giới hạn phương pháp luận: trước hết, “đánh giá kết quả phải xét độ khó của nhiệm vụ, điều kiện thực hiện và giá trị lâu dài” nhằm bảo vệ những nhà khoa học thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu công nghệ chiến lược khỏi tư duy nhiệm kỳ; đồng thời khẳng định “thành tích không bù trừ vi phạm về chính trị, đạo đức, liêm chính” như một lằn ranh đỏ, không cho phép tài năng chuyên môn trở thành tấm khiên che chắn cho sai phạm.
Thước đo ấy đã bắt đầu được lượng hóa thành công cụ. Quy định số 366-QĐ/TW, ngày 30-8-2025, của Bộ Chính trị về kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị yêu cầu kết hợp tiêu chí định tính với định lượng, chú trọng kết quả, sản phẩm đầu ra, đánh giá xuyên suốt, liên tục.
Thể chế hóa yêu cầu đó, Nghị định số 335/2025/NĐ-CP, ngày 21-12-2025, của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 1-1-2026, lần đầu chấm điểm cơ quan hành chính và công chức trên thang điểm 100; công chức phải đạt từ 90 điểm trở lên mới được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, kết quả theo dõi, đánh giá được dùng làm căn cứ chi trả thu nhập tăng thêm và tiền thưởng.
Luật Cán bộ, công chức năm 2025 cũng cho phép sử dụng kết quả đánh giá để bố trí vào vị trí việc làm thấp hơn hoặc cho thôi việc, sàng lọc người không đáp ứng yêu cầu. Cơ chế “có vào, có ra” đối với người thực thi đã khá rõ; câu hỏi còn lại là thước đo dành cho người giao việc.
.jpg)
Lằn ranh trách nhiệm hai chiều của "người mở cửa"
Theo quy định của Kết luận số 205-KL/TW và Nghị định số 179/2024/NĐ-CP, việc đánh giá người tài hằng năm dựa trên báo cáo kết quả và văn bản xác minh sản phẩm sáng tạo; Kết luận số 105-KL/TW cũng khẳng định việc kịp thời chấm dứt giao nhiệm vụ khi nhân tài không đáp ứng yêu cầu. Song, lỗ hổng lớn nhất lâu nay là việc đánh giá chỉ săm soi một chiều vào người nhận việc.
Nghị quyết số 30-NQ/TW chỉ ra căn bệnh kinh niên: “thẩm quyền chưa gắn chặt với trách nhiệm giải trình và hệ quả của quyết định”. Không thể chấp nhận cơ chế mà khi thành công thì lãnh đạo nhận công trạng quản lý, khi bế tắc thì đổ hết lỗi lên nhà khoa học.
Thước đo hai chiều ấy đã có điểm tựa pháp lý ở Nghị định số 335/2025/NĐ-CP. Cơ quan được chấm trên thang 100 điểm, gồm tối đa 30 điểm tiêu chí chung và 70 điểm kết quả thực hiện nhiệm vụ; mức xếp loại của người đứng đầu không được cao hơn mức xếp loại của chính cơ quan mình.
Ngoài kết quả cá nhân, người đứng đầu còn chấm thêm 3 tiêu chí: kết quả hoạt động của đơn vị, khả năng tổ chức triển khai nhiệm vụ và năng lực tập hợp, đoàn kết công chức.
Chỉ cần có một công chức không hoàn thành nhiệm vụ, tiêu chí kết quả hoạt động của đơn vị chỉ đạt 50%; tình trạng chậm trễ kéo dài hay mất đoàn kết cũng chỉ được một nửa số điểm tương ứng.
Nói cách khác, thất bại của cấp dưới bắt đầu có “giá” trong bảng điểm của người giao việc, bước đầu để lằn ranh trách nhiệm hai chiều không còn nằm trên giấy.
Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh nguyên tắc trách nhiệm hai chiều: “Khi công việc ách tắc, phải xem xét trách nhiệm cả cấp thực hiện và cấp giao việc”; “Khi chính sách không đạt mục tiêu, phải xem xét cả chất lượng tham mưu, thiết kế chính sách và trách nhiệm thực hiện”; “Người đánh giá, giới thiệu, bố trí cán bộ chịu trách nhiệm về quyết định giới thiệu của mình”.
Nghị quyết số 30-NQ/TW cụ thể hóa nguyên tắc này vào việc đánh giá lãnh đạo: “Kết quả đánh giá cá nhân người đứng đầu phải gắn với kết quả của cơ quan, đơn vị, chất lượng đội ngũ, năng lực sử dụng cán bộ, phát triển cán bộ, chuẩn bị nguồn kế cận”.
Kết luận số 105-KL/TW quy định trách nhiệm“Người đứng đầu trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả phát hiện, trọng dụng nhân tài thuộc phạm vi quản lý”.
Theo đó, cần có cơ chế đánh giá, xem xét trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra tình trạng bỏ sót, sử dụng không đúng hoặc thiếu điều kiện để người tài phát huy năng lực.
Không dừng ở nguyên tắc, Kết luận số 105-KL/TW yêu cầu các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương đưa mục tiêu, nhiệm vụ thu hút, trọng dụng nhân tài vào chương trình công tác hằng năm và cả nhiệm kỳ, ưu tiên bố trí nguồn lực, “gắn kết quả công tác nhân tài với trách nhiệm của cấp ủy, cơ quan, đơn vị và người đứng đầu”.
Khi đã được ghi vào chương trình công tác, việc giữ được hay để mất người tài trở thành nội dung phải giải trình, không còn là chuyện “có thì tốt” nữa.
.jpg)
Giải bài toán thương mại hóa và “Bộ thước đo ba tầng”
Giá trị của tài năng khoa học không chỉ nằm ở công trình nghiên cứu hay bằng sáng chế mà còn ở khả năng chuyển hóa tri thức thành sản phẩm, công nghệ phục vụ phát triển đất nước. Tuy nhiên, khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường vẫn còn lớn.
Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong danh mục 1.022 sản phẩm, công nghệ được tổng hợp từ 41 đơn vị, mới có 334 sản phẩm (32,7%) đạt mức sẵn sàng công nghệ (TRL) 7 - 9, trong khi 484 sản phẩm (47,4%) chưa xác định được mức độ sẵn sàng.
Đáng chú ý, lĩnh vực công nghệ chiến lược mới ghi nhận 38 sản phẩm trí tuệ nhân tạo và 7 sản phẩm bán dẫn. Thực tế ấy đặt ra yêu cầu gắn nghiên cứu với nhu cầu doanh nghiệp, hoàn thiện cơ chế chuyển giao và tạo điều kiện để thành quả sáng tạo đi vào đời sống.
Phần lớn kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước mới dừng ở mức TRL 3 – 4, trong khi doanh nghiệp thường chỉ tiếp nhận công nghệ từ mức 6 – 7 trở lên.
Năm 2025, khối đại học đóng góp 83,61% công bố khoa học quốc tế của cả nước (9 tháng đầu năm 2026 là 84,99%), song nguồn thu từ hoạt động khoa học, công nghệ mới chiếm khoảng 4,94% tổng thu của các trường; cả nước có khoảng 120 văn phòng chuyển giao công nghệ nhưng phần lớn chưa hoạt động chuyên nghiệp.
Bốn câu hỏi được lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo đặt ra: ai đặt hàng và trả tiền cho nghiên cứu, nguồn kinh phí nào cho giai đoạn hoàn thiện công nghệ từ mức 4 lên 7; ai được bảo vệ khi chấp nhận rủi ro, kết quả hợp tác được đo bằng gì – đều hướng về phía người thiết kế cơ chế chứ không phải phía nhà khoa học.
Khoảng cách về năng lực sáng tạo còn thể hiện qua hoạt động sở hữu trí tuệ. Theo Cục Sở hữu trí tuệ, giai đoạn 2014 - 2023, chủ thể nước ngoài nộp 60.517 đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam, gấp khoảng 8 lần chủ thể Việt Nam (7.560 đơn); riêng năm 2023, con số tương ứng là 8.469 và 991 đơn.
Trước thực tế đó, Quyết định số 604/QĐ-TTg, ngày 2-4-2026, của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030, số đơn đăng ký và văn bằng bảo hộ sáng chế tăng bình quân 16 - 18%/năm, tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8 - 10%; đồng thời phấn đấu thương mại hóa tối thiểu 30% kết quả nghiên cứu từ viện, trường.
Yêu cầu đặt ra không chỉ là gia tăng số lượng sáng chế, mà còn nâng cao chất lượng nghiên cứu và khả năng chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, theo Sở Khoa học và Công nghệ, tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước mới đạt khoảng 5%, trong khi khoảng 37% kết quả đã sẵn sàng chuyển giao nhưng chưa được ứng dụng. Để tháo gỡ điểm nghẽn, Thành phố triển khai Đề án thí điểm thương mại hóa kết quả nghiên cứu giai đoạn 2026 - 2028.
Ngày 13-3-202 Thành phố Hồ Chí Minh công bố 54 sản phẩm của 29 tổ chức đăng ký tham gia, trong đó 30 sản phẩm thuộc danh mục công nghệ chiến lược quốc gia; tổng kinh phí dự kiến hơn 500 tỷ đồng với hơn 200 tỷ đồng đề xuất từ ngân sách nhà nước.
Đề án đặt mục tiêu thương mại hóa tối thiểu 10 sản phẩm, nâng tỷ lệ khai thác thương mại tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước lên 8 - 10%.
Những mục tiêu ấy không chỉ đặt ra yêu cầu đối với nhà khoa học mà còn đòi hỏi trách nhiệm tháo gỡ vướng mắc về định giá, giao quyền và cơ chế hỗ trợ từ các cơ quan quản lý.
Soi vào các yêu cầu của Kết luận số 105-KL/TW và Nghị quyết số 30-NQ/TW, một thước đo sòng phẳng phải đủ 3 tầng. Tầng thứ nhất đo người tài: nhiệm vụ được giao có hoàn thành không, sản phẩm đạt mức sẵn sàng công nghệ nào, bao nhiêu sáng chế được bảo hộ và bao nhiêu kết quả đi vào sản xuất.
Tầng thứ hai đo cơ quan sử dụng: đặt hàng có rõ mục tiêu, sản phẩm đầu ra, thời hạn, nguồn lực như Kết luận số 105-KL/TW yêu cầu hay không; kinh phí có đến đúng hạn, thẩm quyền có được trao thực chất, bao nhiêu nhân tài ở lại sau khi hết thời hạn ưu đãi.
Tầng thứ ba đo cấp ủy và người đứng đầu: kết quả công tác nhân tài có được đưa vào để đánh giá cuối năm và vào quyết định giới thiệu, bổ nhiệm hay không. Chỉ khi cả 3 tầng cùng được đặt lên bàn cân, chiếc cân mới thôi lệch về phía người nhận việc.
Chủ trương trọng dụng nhân tài đang cụ thể hóa thành nhiệm vụ tổ chức thực hiện. Tiếp sau Kết luận số 105-KL/TW và Chương trình hành động số 48-CTr/TW, ngày 15-10-2026, của Bộ Chính trị khóa XIV thực hiện Kết luận số 105-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 336/NQ-CP, ngày 23-10-2026, giao Bộ Nội vụ chủ trì xây dựng hồ sơ Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc biệt đối với công tác nhân tài; Bộ Tài chính chủ trì xây dựng cơ chế tài chính đặc thù, bố trí ngân sách nhà nước cho công tác nhân tài đạt khoảng 0,1% GDP hằng năm trong tổng nguồn lực dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Vấn đề tiếp theo là tổ chức thực hiện, kiểm tra tiến độ và đánh giá hiệu quả của các chính sách bằng những kết quả cụ thể.
Thông báo số 166-TB/VPTW, ngày 3-9-2026, của Văn phòng Trung ương Đảng dẫn kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm, yêu cầu Nghị quyết mới về công tác cán bộ phải “thực sự tạo bước phát triển mới về tư duy, thể chế và phương thức công tác cán bộ”.
Bước chuyển ấy đòi hỏi không chỉ quan tâm đã thu hút được bao nhiêu người tài, mà quan trọng hơn là họ đã tạo ra những giá trị gì và thể chế, môi trường làm việc đã thực sự tạo điều kiện để tài năng được phát huy, cống hiến hay chưa.
Tám mươi năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh lo Chính phủ “nghe không đến, thấy không khắp”. Tám mươi năm sau, trước ngưỡng cửa kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Đảng ta đòi hỏi người lãnh đạo không chỉ nghe thấu, nhìn khắp mà còn phải biết dùng đúng, dám trao quyền, kiên quyết bảo vệ nhân tài và chịu trách nhiệm đến cùng.
Mở cửa chiêu hiền chỉ là sự khởi đầu. Dám trao trọng trách, nuôi dưỡng sáng tạo, cùng chia sẻ rủi ro và đo đếm bằng những mùa quả ngọt của đất nước mới thực sự là bản lĩnh, dũng khí và đạo đức của “người mở cửa”./.
.jpg)


