Chính trị - Thời sự

Mở cửa chiêu hiền: Từ trọng tài đến trọng dụngKỳ 2: Trọng dụng nhân tài: "Tùy tài mà dùng người"

Khuê Nguyệt Minh • 22/10/2026 11:41

Đem chuyên gia đầu ngành đặt vào chiếc ghế hành chính sự vụ, nhà khoa học phải đối thoại bằng ngôn ngữ của tờ trình và quy trình duyệt chi, đó là sự lãng phí chất xám lớn nhất. Khi nấc thang danh vọng trong khu vực công lâu nay hầu như chỉ quen thuộc với một lối đi là con đường quan lộ, tài năng dễ bị mài mòn giữa những cạnh tranh quyền lực. Nghị quyết số 30-NQ/TW và Kết luận số 105-KL/TW đã khai thông nhận thức: trọng dụng người tài không đồng nhất với bổ nhiệm chức vụ quản lý; thiết lập “hai làn đường” phát triển song hành và cơ chế khoán việc trao quyền là lời giải cho sự thăng hoa của trí tuệ.

1.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh trò chuyện với nhà khoa học_Ảnh: T.L

“Tùy tài mà dùng người”: Từ lời dạy của Bác đến định chuẩn vị trí việc làm

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ răn dạy: “Không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Vì vậy, chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ”.

Người phê phán việc dùng cán bộ trái sở trường bằng hình ảnh mộc mạc: bắt thợ rèn đi đóng tủ, bắt thợ mộc đi rèn dao thì cả hai cùng hỏng việc; “Nếu biết tùy tài mà dùng người, thì hai người đều thành công”.

Tư tưởng ấy chứa đựng một triết lý sâu xa: tài năng không phải là hằng số bất biến mà là kết quả của sự cộng hưởng giữa năng lực chuyên biệt và bài toán thực tế. Đặt sai vị trí thì tinh hoa cũng lúng túng; đặt đúng chỗ thì năng lực bình dị cũng nở thành tài năng.

Nghị quyết số 30-NQ/TW nâng tư tưởng đó thành kỷ cương thể chế: bố trí, sử dụng đúng người, đúng việc, đúng thời điểm, thực hiện nghiêm cơ chế “có vào, có ra, có lên, có xuống”. Mỗi vị trí việc làm “phải xác định rõ nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm, sản phẩm chủ yếu và yêu cầu năng lực; không vì một hoặc một số cá nhân mà đặt ra tổ chức, vị trí”.

Kết luận số 105-KL/TW nêu nguyên tắc: “nhiệm vụ đi liền với người thực hiện, thẩm quyền và nguồn lực”. Đúng việc nghĩa là người làm kỹ thuật được đối thoại bằng ngôn ngữ công nghệ, người làm chính sách được đo bằng hiệu lực của thể chế, không thể đem thước đo bàn giấy trói buộc đôi cánh của chuyên gia.

Nguyên tắc ấy đã có hành lang pháp lý. Luật Cán bộ, công chức số 80/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 24-6-2025 có hiệu lực từ ngày 1-7-2025, chuyển sang quản lý công chức theo vị trí việc làm và phân định rõ 3 nhóm: vị trí lãnh đạo, quản lý; vị trí chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí hỗ trợ, phục vụ.

Lần đầu tiên, khái niệm “người có tài năng trong hoạt động công vụ” được đưa vào luật cùng cơ chế thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; công chức được hưởng các khoản thu nhập khác theo kết quả, sản phẩm của vị trí việc làm đảm nhiệm. Pháp luật đã mở lối để một chuyên gia được ghi nhận bằng sản phẩm chuyên môn mà không buộc phải đổi lấy chiếc ghế quản lý.

Việc định chuẩn vị trí theo bài toán chứ không theo cấp bậc còn thể hiện ở những vị trí đặc thù. Nghị định số 231/2025/NĐ-CP, ngày 26-8-2025, của Chính phủ về tuyển chọn, sử dụng tổng công trình sư, kiến trúc sư trưởng trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác lập những tiêu chí tuyển chọn gắn với kinh nghiệm và năng lực chuyên môn của từng vị trí.

Theo đó, tổng công trình sư hệ thống phải có ít nhất 10 năm kinh nghiệm làm việc liên tục trong lĩnh vực chuyên môn liên quan, trong khi kiến trúc sư trưởng dự án phải có ít nhất 5 năm.

Người được tuyển chọn được hưởng chế độ về tiền lương, tiền thưởng, hỗ trợ ban đầu, y tế, nhà ở, phương tiện đi lại và điều kiện làm việc tương ứng với chức danh chuyên gia cao cấp.

Đáng chú ý hơn, tổng công trình sư hệ thống có quyền ghi nhận ý kiến chuyên môn khác biệt và báo cáo lên Ban Chỉ đạo Trung ương. Quyền ấy cho thấy “đúng việc” không chỉ là đặt người vào vị trí mà còn bảo đảm tiếng nói chuyên môn không bị chức vụ lấn át.

2.jpg
Hội nghị lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo_Ảnh: T.L

Chiếc thang chỉ có một lối lên và bi kịch “giao việc, giữ quyền”

Lâu nay, thang phát triển trong khu vực công chỉ có một lối đi lên. Kể cả khi Kết luận số 205-KL/TW, ngày 7-11-2025, của Bộ Chính trị khóa XIII đưa ra những cú hích mạnh mẽ - đặc cách tuyển dụng nhà khoa học trẻ dưới 47 tuổi có học hàm phó giáo sư, giáo sư, hỗ trợ phụ cấp tối thiểu 300% mức lương vị trí việc làm thì ở khâu sử dụng, các bậc thang ghi nhận phần lớn vẫn hướng về con đường bổ nhiệm chức danh phòng, sở.

Hệ quả là bộ máy vừa có thêm một nhà quản lý sự vụ trung bình, lại vừa mất đi một chuyên gia công nghệ xuất sắc đang độ chín muồi về sáng tạo. Bị cuốn giữa hồ sơ hành chính, họp hành triền miên và thủ tục, đôi bàn tay sáng chế dần nguội lạnh.

Nghị quyết số 30-NQ/TW chỉ ra hệ lụy ấy khi nêu tình trạng đất nước “thiếu cán bộ có năng lực nổi trội, chuyên gia giỏi ở một số lĩnh vực chiến lược”.

Sự phân bổ nguồn lực nghiên cứu và phát triển (R&D) ở Việt Nam cho thấy những bất cân đối đáng chú ý. Theo số liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ được công bố trong các nghiên cứu trước đây, khu vực nhà nước chiếm tới 84,1% nhân lực R&D trong khi khu vực ngoài nhà nước chiếm 13,8% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm 2,1%.

Trong hệ thống giáo dục đại học, theo thông tin của Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố tháng 10-2026, các cơ sở giáo dục đại học đóng góp hơn 83% số công bố khoa học quốc tế của Việt Nam trong năm 2025.

Những con số ấy cho thấy nguồn lực tri thức tập trung đáng kể trong khu vực nghiên cứu và đào tạo, song việc chuyển hóa tiềm năng khoa học thành năng lực công nghệ, sản phẩm thương mại và giá trị kinh tế còn phụ thuộc vào khả năng liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp.

Vấn đề không chỉ là có bao nhiêu người làm nghiên cứu mà là tổ chức thế nào để tri thức được đặt đúng vào những bài toán phát triển, có điều kiện ứng dụng và tạo ra giá trị thực tiễn.

Con số về chức danh học hàm càng cho thấy nấc thang ghi nhận chuyên môn còn hẹp. Tại phiên họp lần thứ IV ngày 2-11-2025, Hội đồng Giáo sư nhà nước nhiệm kỳ 2024 - 2029 bỏ phiếu công nhận 900 ứng viên đạt chuẩn năm 2025, gồm 71 giáo sư và 829 phó giáo sư, trên tổng số 1.073 hồ sơ (100 giáo sư, 973 phó giáo sư) nộp tại 117 hội đồng cơ sở; tỷ lệ đạt chung là 83,88%, riêng chức danh giáo sư là 71%.

Như vậy, cả nước chỉ có thêm 71 người chạm tới nấc cao nhất của thang học hàm trong một năm, trong khi Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt 12 nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo trên 10.000 dân. Nếu nấc thang trọng dụng vẫn chỉ trải rộng ở nhánh hành chính, lực lượng ấy khó có chỗ để vươn lên bằng chính chuyên môn của mình.

Nguy hại hơn là tình trạng “giao việc nhưng giữ quyền”. Kết luận số 105-KL/TW nhận định phương thức quản lý nhân tài “còn nặng về thủ tục”. Nghị quyết số 30-NQ/TW chỉ ra việc quản lý cán bộ “còn chia cắt theo từng khâu, từng cấp và từng nhiệm kỳ”, “thẩm quyền chưa gắn chặt với trách nhiệm giải trình và hệ quả của quyết định”.

Một chuyên gia được mời về gánh vác trọng trách giải bài toán công nghệ quốc gia nhưng lại không được quyền lựa chọn cộng sự, không được tự chủ định đoạt kinh phí nghiên cứu, mua một chiếc máy hay mua vật tư hóa chất đều phải làm tờ trình qua hàng chục nấc xét duyệt.

Khi không có công cụ và quyền hạn trong tay, thất bại của nhiệm vụ không nằm ở sự non kém của người tài mà nằm ở sự hạn chế của thể chế dung dưỡng họ.

Thiết kế “hai làn đường” cho tài năng phát triển

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu chấm dứt tình trạng “bao biện, làm thay, buông lỏng lãnh đạo hoặc xin ý kiến nhiều vòng về việc thuộc thẩm quyền” và nhấn mạnh: “Đã được giao thẩm quyền thì phải quyết định và chịu trách nhiệm”.

Tổng Bí thư cũng chỉ rõ: “trọng dụng không đồng nghĩa với bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý; cần có các hình thức sử dụng phù hợp, không nhất thiết đều vào biên chế hoặc làm việc toàn thời gian tại một cơ quan”.

Nghị quyết số 30-NQ/TW mở ra “hai làn đường” song hành: “hình thành hai hướng phát triển tương xứng giữa cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia, cán bộ có chuyên môn sâu”, “bảo đảm người giỏi chuyên môn được ghi nhận và đãi ngộ tương xứng”.

Theo đó, người có tài quản trị phát triển theo đường cán bộ lãnh đạo; người có tài chuyên sâu vươn lên đỉnh cao chuyên môn với thang bảng lương, vị thế xã hội và quyền hạn tương xứng mà không phải đánh đổi chuyên môn lấy chức vị.

Kết luận số 105-KL/TW mở rộng các phương thức sử dụng: ký hợp đồng chuyên gia, tư vấn, kiêm nhiệm, biệt phái, làm việc theo chương trình, dự án; tuyển chọn không phân biệt khu vực công - tư, không tính vào chỉ tiêu biên chế đối với khu vực công.

Đặc biệt, văn kiện đặt ra yêu cầu thiết lập cơ chế “nhân tài dẫn dắt nhân tài”, phát huy vai trò của các chuyên gia đầu ngành trong cố vấn, hướng dẫn, truyền nghề cho nhân tài trẻ; xây dựng cơ chế nhóm chuyên môn, tuyển chọn cộng sự và phát triển đội ngũ kế cận.

Đáng chú ý, văn kiện cũng yêu cầu tạo điều kiện để nhân tài trong khu vực tư, người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia các nhiệm vụ của đất nước “mà không nhất thiết phải thay đổi nơi ở, nơi làm việc hoặc quan hệ công tác”, đồng thời bảo đảm liêm chính, kiểm soát xung đột lợi ích.

Đi kèm là nguyên tắc tổ chức “một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm đến cùng” - lời giải cho tình trạng một nhiệm vụ khoa học phải đi qua nhiều đầu mối xin ý kiến.

Cơ chế trao quyền cho chuyên gia đầu ngành đã có hình mẫu cụ thể. Nghị định số 231/2025/NĐ-CP, ngày 26-8-2025, mở cửa cho cả người Việt Nam ở trong nước, ở nước ngoài và người nước ngoài được đề cử, ứng cử.

Theo đó, kiến trúc sư trưởng cấp bộ, cấp tỉnh được đề xuất bố trí, điều động nhân sự, đơn vị, chuyên gia tham gia chương trình, nhiệm vụ; được lựa chọn và sử dụng bộ phận giúp việc; tham gia xây dựng chính sách, chiến lược thuộc lĩnh vực chuyên môn, kèm các chính sách đặc biệt về tiền lương, nhà ở, phương tiện đi lại và điều kiện làm việc.

Quyền hạn gắn với bài toán kỹ thuật, chứ không gắn với cấp bậc hành chính - đó là dáng hình của làn đường chuyên môn.

Theo sử liệu, khi theo Bác về nước năm 1946, kỹ sư Phạm Quang Lễ đã tích lũy hơn 30.000 tài liệu về chế tạo vũ khí. Tháng 12-1946, ông được giao làm Cục trưởng Cục Quân giới kiêm Giám đốc Nha nghiên cứu Quân giới.

Không chỉ trực tiếp nghiên cứu, chế tạo súng bazooka và nhiều loại vũ khí phục vụ kháng chiến, ông còn đào tạo lớp cán bộ kỹ thuật đầu tiên, đặt nền móng cho ngành quân giới.

Đúng người, đúng bài toán, đủ thẩm quyền và trọn niềm tin - bài học dùng người ấy đã được kiểm chứng bằng thắng lợi của 2 cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại của dân tộc.

Thực tế tại các trung tâm học thuật hàng đầu đã chứng minh chủ trương này đúng đắn. Tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, thông qua cơ chế nhóm nghiên cứu mạnh và trao quyền tự chủ chuyên môn tối đa, GS Phan Bách Thắng cùng PGS, TS Phạm Kim Ngọc và các cộng sự được giải phóng khỏi thủ tục hành chính và chức danh quản lý phòng ban, dồn toàn lực tại phòng thí nghiệm để giải bài toán công nghệ mũi nhọn về màng oxit crom và memristor phục vụ chip AI thế hệ mới - công trình vừa được Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) cấp Bằng sáng chế ngày 30-6-2026.

Tương tự, mô hình “Mỗi doanh nghiệp – Một nhà khoa học” của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (VKIST) đưa chuyên gia trực tiếp cắm chốt tại nhà máy cùng doanh nghiệp giải bài toán công nghệ sản xuất.

Khi chuyên gia đi trên làn đường chuyên môn với thẩm quyền đầy đủ, giá trị của họ được đo bằng sản phẩm thực tế chứ không cần tìm sự thừa nhận qua chiếc ghế quan chức.

Song hành với trao quyền là kỷ luật nghiêm minh: Kết luận số 105-KL/TW yêu cầu “kịp thời chấm dứt giao nhiệm vụ và cơ chế, chính sách liên quan khi nhân tài không đáp ứng yêu cầu”. “Có vào, có ra”, dòng chảy trọng dụng phải đào thải sự trì trệ và chỉ giữ lại những giá trị phụng sự thực chất./.

-------------

Kỳ cuối: Đất dụng võ mới là đất lành

    Nổi bật
        Mới nhất
        Mở cửa chiêu hiền: Từ trọng tài đến trọng dụng Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: "Tùy tài mà dùng người"
        • Mặc định