Chính trị - Thời sự

Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế tài chính tạo động lực phát triển kinh tế nhà nước

Hà Huy Ngọc, TS, Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới 14/03/2026 08:48

Nghị quyết số 79-NQ/TW mở ra định hướng mới nhằm nâng cao vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, để khu vực này phát huy đầy đủ vai trò dẫn dắt, cần tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế tài chính và quản lý nguồn lực quốc gia.

3-2.jpg
Nền tảng của kinh tế nhà nước bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định vĩ mô và bảo đảm quốc phòng, an ninh_Ảnh minh họa

Kinh tế nhà nước là thành phần quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền tảng của kinh tế nhà nước bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định vĩ mô và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng quan trọng trong ổn định kinh tế vĩ mô và điều tiết các cân đối lớn của nền kinh tế, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, kinh tế nhà nước vẫn còn những hạn chế, đặc biệt, thể chế, chính sách, pháp luật về tài chính đối với kinh tế nhà nước chưa theo kịp thực tiễn phát triển, dẫn đến việc quản lý, khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực, tài sản của Nhà nước chưa thực sự hiệu quả, chưa gắn với yêu cầu hạch toán kinh tế đầy đủ, còn lãng phí, thất thoát.

Do đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW, của Bộ Chính trị, “Về phát triển kinh tế nhà nước” đã mở ra không gian và tạo động lực mới để thúc đẩy khu vực kinh tế nhà nước thật sự trở thành nền tảng vững chắc, bảo đảm tự chủ chiến lược, tự cường và sức cạnh tranh toàn diện của nền kinh tế.

Nhằm tổ chức thể chế hóa và thực hiện đầy đủ, đồng bộ, nhất quán các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra tại Nghị quyết số 79-NQ/TW, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 29/NQ-CP, ngày 24-2-2026, về “Ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước”.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng đề ra trong Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 29/NQ-CP là rà soát các văn bản quy phạm pháp luật về tài chính, đồng thời cần những cơ chế, chính sách đặc biệt để kịp thời xử lý, tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về tài chính đối với khu vực kinh tế này, bao gồm:

Thứ nhất, giải pháp về đổi mới tư duy, lý luận

Cần tách bạch các thành tố trong khu vực kinh tế nhà nước, xem nội dung nào thuộc về doanh nghiệp nhà nước, nội dung nào thuộc Nhà nước; kèm theo đó là chức năng, nhiệm vụ cụ thể, đặc thù trong nền kinh tế thị trường của mỗi thành tố.

Các thành tố ngân sách nhà nước, tài sản công và tài nguyên quốc gia là các nguồn lực quốc gia, kết quả đóng góp của tất cả các chủ thể kinh tế được giao cho Nhà nước đại diện quản lý, phân bổ và giám sát sử dụng.

Đồng thời, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá và tách bách được chức năng, nhiệm vụ chính trị - xã hội và chức năng kinh tế của kinh tế nhà nước, làm cơ sở xây dựng “luật chơi” để các khu vực kinh tế được bình đẳng khi tiếp cận, sử dụng, thuê các tài sản, tài nguyên, nguồn lực của Nhà nước cho hoạt động đầu tư, kinh doanh, sản xuất.

Hiện nay, các tài sản về kết cấu hạ tầng của doanh nghiệp nhà nước đều là tài sản công, nên doanh nghiệp không thể mang đi vay vốn để đầu tư, kinh doanh. Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung vào Luật Tài sản công, trong một số trường hợp doanh nghiệp nhà nước có thể dùng tài sản hạ tầng để vay vốn ngân hàng đầu tư cho sản xuất, kinh doanh.

Đối với doanh nghiệp nhà nước, cần tách chức năng sở hữu doanh nghiệp nhà nước ra khỏi chức năng quản lý nhà nước, tách bạch chức năng kinh tế với chức năng xã hội để doanh nghiệp nhà nước thực sự hoạt động năng động, sáng tạo, hiệu quả trong môi trường kinh tế thị trường; đẩy nhanh tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước gắn với hiện đại hóa hệ thống quản trị doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, ứng dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, vươn ra thị trường thế giới; đưa doanh nghiệp nhà nước thực sự giữ vị trí, vai trò then chốt trong nền kinh tế quốc dân.

3-3.jpg
Bốc dỡ hàng tại cụm cảng Cái Mép - Thị Vải (Thành phố Hồ Chí Minh)_Ảnh: VGP

Thứ hai, giải pháp quản lý tài sản công bảo đảm hiệu lực, hiệu quả

Chính phủ ban hành các nghị định quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi, đường bộ, hàng hải, đường thủy nội địa, công trình điện. Quy định việc sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết.

Bộ Tài chính, các bộ quản lý chuyên ngành tiếp tục rà soát, trình cấp có thẩm quyền ban hành mới, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017, đặc biệt là các quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công (trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, máy móc, thiết bị).

Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, xử lý nhà, đất công. Các bộ, cơ quan trung ương, ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo thực hiện sắp xếp lại, xử lý nhà, đất công, bố trí sử dụng, xử lý tài sản dôi dư theo đúng quy định của pháp luật; đẩy nhanh việc báo cáo kê khai, lập phương án xử lý đối với nhà, đất phải sắp xếp lại của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định.

Tiếp tục quan tâm, chỉ đạo thực hiện nghiêm và đầy đủ các quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Nghị định số 151/2017/NĐ-CP, ngày 26-12-2017, của Chính phủ và các văn bản pháp luật có liên quan về việc sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết, gồm: lập, thẩm định, phê duyệt Đề án sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết.

Đẩy mạnh tuyên truyền Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản quy định chi tiết việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng; khẩn trương xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định về quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thuộc lĩnh vực chuyên ngành.

Rà soát, phân loại, giao quản lý tài sản, kế toán tài sản, sử dụng, khai thác tài sản và các nội dung khác thuộc thẩm quyền đối với tài sản kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, nước sạch.

Giao quyền cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý thực hiện việc theo dõi, hạch toán tài sản công theo đúng quy định; xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị tài sản của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; chỉ đạo cơ quan tài chính các bộ, cơ quan trung ương, sở tài chính và các đơn vị được phân cấp nhập dữ liệu thực hiện nhập, duyệt, chuẩn hóa dữ liệu trong phần mềm quản lý tài sản công theo quy định của Bộ Tài chính.

Thứ ba, đối với nguồn lực tài nguyên đất đai

Đất đai là “đầu vào” quan trọng cho nhiều hoạt động sản xuất và đời sống. Phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, trung tâm logistics, hạ tầng giao thông, cảng biển, thành thị và nông thôn,… đều liên quan đến đất đai, do đó cần đẩy mạnh việc hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực đất đai để phân bổ và sử dụng nguồn lực này thực sự hiệu quả, bền vững; việc xây dựng quy hoạch không gian phát triển, quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất cần được đặt trong một tổng thể và tầm nhìn chiến lược, tổ chức đồng bộ, thống nhất, bài bản, có sự tham gia của các bên liên quan; phát triển ổn định, lành mạnh thị trường đất đai, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế; khơi thông quá trình biến đất đai thành nguồn lực vật chất và tài chính đi vào hoạt động sản xuất thực.

Các biện pháp thúc đẩy phân bổ và sử dụng tài nguyên đất đai hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế, xã hội và chính trị. Vì thế, việc quy hoạch, xây dựng cơ chế để tích tụ, tập trung ruộng đất, dồn điền đổi thửa, biến chuyển đất đai thành nguồn lực tài chính đi vào sản xuất thực… sẽ góp phần quan trọng phát huy vị trí, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

Thứ tư, đối với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên như dầu thô, than, khoáng sản, lâm nghiệp

Cần có sự gia tăng nguồn lực để đầu tư vào năng lượng tái tạo, giảm bớt khai thác thâm dụng tài nguyên thiên nhiên không có khả năng tái tạo và có nguy cơ cạn kiệt; thúc đẩy việc chuyển đổi cấu trúc sản xuất từ “nâu” sang “xanh” nhằm hướng tới tăng trưởng xanh, tăng trưởng bền vững.

Trong những giai đoạn chuyển đổi, vai trò định hướng, dẫn dắt của kinh tế nhà nước, mà cụ thể doanh nghiệp nhà nước là cần thiết. Các chính sách cần hướng tới khuyến khích các thành phần kinh tế nói chung, khu vực doanh nghiệp nhà nước nói riêng tìm kiếm các giải pháp thay thế cho các loại năng lượng “nâu” không tái tạo được sang sử dụng năng lượng Mặt trời, năng lượng gió, năng lượng sóng...

Tại giai đoạn chuyển giao giữa mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, cần sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước và chuyển đổi phương thức sản xuất, ứng dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Thứ năm, đối với các loại tài sản như bảo tàng, khu thể thao, địa điểm du lịch, công viên

Cần cải thiện công tác quản lý nhà nước, sử dụng mô hình quản lý phù hợp đối với từng loại tài sản. Những tài sản nào đang để lãng phí thì cho chuyển đổi mục đích sử dụng hay thay đổi chủ thể khai thác nhằm phát huy bền vững tiềm năng và giá trị của các loại tài sản này, góp phần gia tăng nguồn thu ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển và bảo đảm sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư tại địa bàn.

Phát huy và sử dụng hiệu quả nguồn vốn xã hội, vốn văn hóa cộng đồng này cũng chính là cách thức tăng cường sức mạnh nội sinh, sức mạnh văn hóa, sự độc lập, tự chủ của nền kinh tế quốc dân.

Thứ sáu, đối với hạ tầng tài nguyên dữ liệu số cần xác định là hạ tầng thiết yếu

Nghiên cứu, sửa đổi, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn về việc tích hợp các thành phần của hạ tầng số, đặc biệt là hạ tầng băng rộng, hạ tầng internet vạn vật (IoT) trong các công trình xây dựng dân dụng. Bảo đảm trong quy hoạch hạ tầng kỹ thuật đô thị, quy hoạch của khu vực, của từng địa phương phải có phương án quản lý, thúc đẩy phát triển hạ tầng số (ưu tiên không gian, vị trí, tạo điều kiện để phát triển hạ tầng băng rộng, các trung tâm lưu trữ dữ liệu, trạm trung chuyển Internet, trạm kết nối quốc tế).

Sửa đổi Luật Viễn thông và các quy định có liên quan nhằm tiết giảm các quy định về tiền kiểm trong cấp phép tham gia thị trường với các hạ tầng số mới. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có thể tiếp cận với tài nguyên viễn thông (kho số, tần số, tên miền Internet…).

Nghiên cứu bổ sung lĩnh vực đầu tư xây dựng hạ tầng băng rộng, trung tâm dữ liệu vào danh mục ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư theo Luật Đầu tư để thu hút, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư; nghiên cứu, xây dựng cơ chế, tạo điều kiện để thiết lập từ các đặc khu thí điểm triển khai hạ tầng số; triển khai nền tảng định danh số, địa chỉ số cung cấp như dịch vụ.

Thiết lập đặc khu kết nối khu vực (digital hub): lựa chọn địa bàn thí điểm cơ chế đặc khu chính sách, cho phép thiết lập các trạm cập bờ phục vụ chuyển tiếp lưu lượng, các tuyến cáp quang kết nối trực tiếp với quốc tế, các trung tâm dữ liệu trung lập; xây dựng cơ chế đặc thù trong quản lý nhằm thu hút các doanh nghiệp lớn toàn cầu (bigtech) thiết lập các trung tâm dữ liệu phục vụ khu vực và toàn cầu./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế tài chính tạo động lực phát triển kinh tế nhà nước
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO