Thành phố Hồ Chí Minh: Nửa thế kỷ xây dựng và phát triển
Ngay sau Ngày giải phóng miền Nam (30-4-1975), đất nước được thống nhất, Thành phố Hồ Chí Minh đã huy động mọi nguồn lực để tái thiết, hàn gắn vết thương chiến tranh. Trong từng giai đoạn phát triển, thành phố luôn vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ động tìm tòi, mạnh dạn thử nghiệm nhiều cơ chế, chính sách mới để “vượt qua cái cũ, cái trì trệ” và các cuộc khủng hoảng kinh tế..., vững vàng đồng hành cùng đất nước tiến bước trong sự nghiệp đổi mới.
Sau 50 năm xây dựng và phát triển, Thành phố Hồ Chí Minh - thành phố Anh hùng - đã trở thành biểu tượng của tinh thần tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo, “tiên phong mở đường”... Đó là động lực, nền tảng để mỗi bước đi của thành phố mang tên Bác trở thành nơi hội tụ tinh hoa, tỏa sáng khát vọng vươn mình, góp phần cùng cả nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển thịnh vượng vì một Việt Nam hùng cường, phồn vinh, sánh vai với các cường quốc năm châu.
I. NỬA THẾ KỶ VỚI SỨ MỆNH “MỞ ĐƯỜNG THỂ CHẾ”

Trong dòng chảy lịch sử cách mạng của dân tộc Việt Nam, “Sài Gòn - Gia Định là hình ảnh tiêu biểu nhất thể hiện sức mạnh truyền thống đại đoàn kết dân tộc và ý chí thống nhất non sông”[1].
Sài Gòn - Gia Định không chỉ là nơi đã nổ phát súng đầu tiên khi thực dân Pháp gây hấn tái xâm lược nước ta, mà còn là điểm kết thúc cuộc quyết chiến chiến lược với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, để ngày 30-4-1975 trở thành mốc son chói lọi nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam - ngày đất nước thống nhất, khát vọng độc lập, tự do và hòa bình của biết bao thế hệ đã thành hiện thực.
Sau Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) ra sức cùng cả nước thực hiện công cuộc tái thiết, hàn gắn vết thương chiến tranh.
Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI đã ghi nhận và khẳng định: “nhân dân thành phố Sài Gòn - Gia Định luôn luôn tỏ lòng kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và tha thiết với việc thành phố mang tên Người...; trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ, thành phố Sài Gòn - Gia Định đã không ngừng phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc ta, lập nhiều chiến công xuất sắc, xứng đáng được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”, thay mặt Quốc hội khóa VI, ngày 2-7-1976, Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh đã ký Nghị quyết “Về việc chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh”.
Quyết định đó mang ý nghĩa lịch sử, đáp ứng nguyện vọng cháy bỏng, tình cảm, sự tôn kính của nhân dân đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh; ghi nhận sự đóng góp to lớn của thành phố Sài Gòn - Gia Định trong suốt quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Với niềm vinh dự đó, trải qua 50 năm xây dựng và phát triển, TPHCM như được tiếp thêm sức mạnh, động lực, vững bước tiên phong với “sứ mệnh mở đường thể chế”, góp phần cùng đất nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng một Việt Nam phát triển thịnh vượng.
Trở lại 10 năm đầu sau Ngày giải phóng miền Nam, đây là giai đoạn TPHCM đối diện với muôn vàn khó khăn, thử thách, đó là[2]: lâm vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiều giải pháp thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa thiếu tính phù hợp; tình trạng thiếu điện, thiếu nguyên liệu và cơ chế quản lý gò bó, rập khuôn, giáo điều làm cho lĩnh vực sản xuất công nghiệp giảm sút nghiêm trọng; thương mại - dịch vụ do thương nghiệp quốc doanh nắm quyền kiểm soát hầu hết các loại hàng hóa trọng yếu, lưu thông hàng hóa giữa địa phương này đến địa phương khác trong tình trạng “ngăn sông cấm chợ” trở nên phổ biến; “bức tường” tư tưởng, tâm lý của chế độ cũ, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước vẫn tìm mọi cách phá hoại thành quả cách mạng nước ta.
Trước bối cảnh đó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TPHCM đã kế thừa, phát huy truyền thống yêu nước, thể hiện tinh thần năng động, vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để tìm giải pháp đột phá.
Với ý chí tự lực, tự cường, TPHCM đã đổi mới tư duy, khơi dậy sức sáng tạo của nhân dân thông qua nhiều cách làm, mô hình mới trên nhiều lĩnh vực, nhất là trong lao động sản xuất, kinh doanh; năng động, sáng tạo trong tháo gỡ những rào cản, vướng mắc, trở lực của cơ chế quản lý cũ, từng bước mang lại hiệu quả thiết thực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần cải thiện đời sống nhân dân rất rõ nét.
Bước đi quan trọng đầu tiên đặt nền móng cho TPHCM trong việc chủ động đổi mới tư duy, mạnh dạn “xé rào” mở đường thể chế, giải quyết các vấn đề bức bách nhằm thoát khỏi cơ chế cũ ràng buộc, đó là vào tháng 8-1979, Thành ủy Thành phố
Hồ Chí Minh ban hành Nghị quyết số 09 cho phép các doanh nghiệp nhà nước tự chủ, tự lực vượt qua cơ chế cũ để duy trì sản xuất, kinh doanh, thoát khỏi cơ chế cấp phát, giao nộp; thiết lập quan hệ kinh tế theo quy luật sản xuất hàng hóa, mở rộng quan hệ thị trường.
Để tự cân đối, tích lãi, tái đầu tư, TPHCM mạnh dạn thử nghiệm chủ trương vay ngoại tệ, nhập nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu; đồng thời, phá vỡ thế độc quyền, cơ chế phân phối bao cấp, hỗ trợ, tạo điều kiện cho hàng loạt xí nghiệp sản xuất, kinh doanh ngày càng hiệu quả và xuất hiện mô hình đổi mới, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống của người lao động. Sự sáng tạo này của TPHCM lúc bấy giờ[3] đã có không ít ý kiến nhận định là đi trái với nguyên lý quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Thế nhưng, thực tiễn sinh động ấy đã góp phần khởi xướng các chính sách tháo gỡ khó khăn, đặt nền móng phát triển những nội dung mới trong Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6, lần thứ 7 khóa V; là cơ sở để Đảng ta tiếp tục “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”[4]; là tiền đề vững chắc để Đảng và Nhà nước ta lựa chọn, tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước vào năm 1986, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng.

“Trong 40 năm đổi mới, thành phố luôn là một trong những địa phương đi đầu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; mạnh dạn thử nghiệm nhiều mô hình mới, góp phần bổ sung, hoàn thiện đường lối đổi mới của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đó là đóng góp rất lớn, không chỉ đo bằng những con số tăng trưởng, mà còn bằng sức mở đường, sức lan tỏa và sức thuyết phục của thực tiễn” .Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Lễ kỷ niệm 50 năm thành phố Sài Gòn - Gia Định vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 2-7-2026.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Lễ kỷ niệm 50 năm thành phố Sài Gòn - Gia Định vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 2-7-2026
Đồng hành thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, TPHCM đã tiên phong thiết lập các định chế tài chính, thị trường chứng khoán đầu tiên, mở cửa thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI),... đạt được nhiều thành quả quan trọng.
Từ thực tiễn của TPHCM, đã góp phần hình thành đường lối đổi mới của Đảng chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; khơi dậy nguồn lực to lớn trong nhân dân, các thành phần kinh tế không ngừng phát triển, trong đó, kinh tế nhà nước được sắp xếp lại hoạt động hiệu quả hơn, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn FDI phát triển nhanh chóng, trở thành kênh đầu tư quan trọng.
Đến những năm đầu của thế kỷ XXI, tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, khoa học - công nghệ (KH-CN) phát triển như vũ bão, TPHCM chủ động, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ có KH-CN hiện đại, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng, hiệu quả phát triển kinh tế trong cạnh tranh và hội nhập kinh tế thế giới.
Trước tình trạng mô hình tổ chức chính quyền hiện hữu với cơ chế quản lý điều hành bộc lộ nhiều bất cập, không còn phù hợp với đặc điểm của một đô thị năng động đang trên đà phát triển mạnh mẽ, năm 2007, TPHCM nghiên cứu, xây dựng triển khai đề án “Thí điểm mô hình Chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh” và thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân cấp quận, huyện và phường từ năm 2009.
Từ những kết quả đạt được, TPHCM đã mạnh dạn đề xuất và được Trung ương cho thực hiện “Thí điểm mô hình chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh”[5] - bước đột phá trong đổi mới tư duy, góp phần giải quyết được những hạn chế, vướng mắc và “cởi trói” để TPHCM phát triển nhanh, bền vững hơn.
Để thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra trong Nghị quyết đại hội Đảng bộ lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020, TPHCM nghiên cứu, xây dựng đề án để kiến nghị và được Trung ương cho phép thực hiện[6] một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội nhằm giải quyết những thách thức lớn, tạo điều kiện tháo gỡ những “điểm nghẽn”, khơi thông tiềm năng, lợi thế cho TPHCM phát triển nhanh, bền vững.
Thế nhưng, trong gần 5 năm thực hiện có 2 năm chịu tác động nặng nề bởi đại dịch COVID-19 nên một số nội dung không đạt; đồng thời, xuất hiện những điều khoản, lĩnh vực không thể giải quyết, do đó, TPHCM tiếp tục đề xuất, kiến nghị và được Trung ương tiếp tục tạo điều kiện[7] với nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, vừa mang tính mới, vượt trội, đột phá cao hơn.
Sau hợp nhất với tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh có tổng diện tích 6.773km², tương đương 2,04% diện tích cả nước; quy mô dân số hơn 14 triệu người, chiếm 13,4% dân số cả nước; 168 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 113 phường, 54 xã và 1 đặc khu hành chính.
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, đặc biệt từ ngày 1-7-2025, sau khi hợp nhất với tỉnh Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, TPHCM có những lợi thế nổi trội, mang tầm vóc của một đô thị đặc biệt.
Để hiện thực hóa tầm nhìn và khát vọng vươn tầm khu vực và thế giới mà Đảng, Nhà nước cùng nhân dân cả nước kỳ vọng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TPHCM nhận thấy những cơ chế đặc thù, vượt trội được Trung ương trao quyền đang thực hiện vẫn có giới hạn nhất định, chưa tạo được niềm tin dài hạn cho cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư lớn.
Vì vậy, sau khi mạnh dạn xin chủ trương và được chấp thuận, hiện nay TPHCM đang tập trung hoàn thiện, sớm trình Trung ương xem xét thông qua “Luật Đô thị đặc biệt cho Thành phố Hồ Chí Minh” để có hành lang pháp lý đủ rộng, đủ sâu, hình thành một thể chế ổn định, lâu dài; tạo niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp, xây dựng môi trường đầu tư bền vững, thu hút các nguồn lực cho TPHCM tăng tốc phát triển xứng tầm bởi khát vọng và sứ mệnh mới.
II. NĂNG ĐỘNG, SÁNG TẠO ĐỂ “CÙNG CẢ NƯỚC, VÌ CẢ NƯỚC”

Trong hành trình nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, với 40 năm cùng cả nước thực hiện đường lối đổi mới, tinh thần năng động, sáng tạo không chỉ là khẩu hiệu, mà trở thành sức mạnh nội sinh, xuyên suốt để Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp TPHCM không ngừng đổi mới tư duy, kiến tạo, tiên phong thí điểm nhiều cách làm, mô hình mới, tạo ra nhiều giá trị to lớn để từng bước vươn lên trở thành đô thị hiện đại, thực hiện sứ mệnh “cùng cả nước, vì cả nước”.
Tinh thần năng động, sáng tạo ấy thể hiện qua những điểm nhấn nổi bật:
1- Để vượt qua khó khăn, thử thách, cùng cả nước thực hiện đường lối đổi mới, gây dựng lại cơ đồ, vào năm 1990, TPHCM đã mạnh dạn tiên phong thí điểm chủ trương đổi đất lấy hạ tầng để phục hồi kinh tế, ổn định xã hội, xây dựng, phát triển đô thị theo hướng hiện đại;
2- Với tầm nhìn chiến lược, để huy động vốn, triển khai thực hiện các chính sách thu hút đầu tư hiệu quả, năm 1996, TPHCM thành lập Quỹ đầu tư phát triển đô thị (hiện nay là Công ty Đầu tư tài chính nhà nước TPHCM - HFIC); đặc biệt, đầu năm 2026, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TPHCM được thành lập, đi vào vận hành là điều kiện cho TPHCM thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính hiện đại, kết nối toàn cầu, áp dụng các mô hình tài chính số, ngân hàng thông minh, tài chính xanh, tài sản số, công nghệ tài chính (fintech);
3- Nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng doanh nghiệp ngày càng đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung, TPHCM luôn lắng nghe, đồng hành cùng doanh nghiệp trong từng chặng đường phát triển với cách “làm khác” vai trò của mình, đó là tổ chức các đoàn công tác trực tiếp đi tìm đối tác, mở rộng thị trường, thậm chí đi tiếp thị cho hàng hóa của Việt Nam tại những thị trường mới, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp yên tâm sản xuất, kinh doanh;
4- Để cùng đất nước hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả, TPHCM chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh trên 3 góc độ là cạnh tranh quốc gia, cạnh tranh sản phẩm và cạnh tranh doanh nghiệp;
5- Khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu rộng, đa chiều trên phạm vi toàn cầu, KH-CN trở thành nền tảng cốt lõi của sự phát triển, TPHCM chủ động phát triển hạ tầng KH-CN, chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội sang sử dụng phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại.
6- Với quan điểm người dân là chủ thể của hành trình đổi mới và phát triển, Đảng bộ, chính quyền TPHCM luôn đặt người dân làm trung tâm, là kim chỉ nam cốt lõi trong hoạch định chủ trương, chính sách, hướng đến mục tiêu phát triển bao trùm.
Thực hiện tinh thần đó, Đảng bộ, chính quyền TPHCM luôn tin vào dân, gắn bó, đồng cam cộng khổ với nhân dân, phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, mạnh dạn đột phá tháo gỡ vướng mắc, cản ngại do cơ chế quản lý cũ không còn phù hợp, từng bước vượt qua khó khăn, để ổn định phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống cho nhân dân.

| 5 Nghị quyết của Bộ Chính trị - Nghị quyết số 01- NQ/TW, ngày 14-9-1982, “Về công tác của Thành phố Hồ Chí Minh” (Nghị quyết số 01) - Nghị quyết 20-NQ/TW, ngày 18-11-2002, “Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010” (Nghị quyết số 20) - Nghị quyết số 16-NQ/TW, ngày 10-8-2012, “Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020” (Nghị quyết số 16) - Nghị quyết số 31-NQ/TW, ngày 30-12-2022, “Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” (Nghị quyết số 31) - Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 19-5-2026, “Về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới” (Nghị quyết số 09). 3 Nghị quyết của Quốc hội - Nghị quyết số 131/2020/QH14, ngày 16-11-2020, của Quốc hội khóa XIV, “Về tổ chức chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh” (Nghị quyết số 131) - Nghị quyết số 54/2017/QH14, ngày 24-11-2017, của Quốc hội khóa XIV, “Về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh” (Nghị quyết số 54) - Nghị quyết số 98/2023/QH15, ngày 24-6-2023, của Quốc hội khóa XV, “Về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh” (Nghị quyết số 98). |
Để có được những dấu ấn đó, là nhờ sự quan tâm sâu sát, toàn diện của Trung ương trong từng giai đoạn phát triển. Ngoài các nghị quyết vùng, mỗi giai đoạn, Bộ Chính trị còn ban hành một nghị quyết rất quan trọng về phương hướng, nhiệm vụ dành riêng cho TPHCM và Quốc hội trao thêm cơ chế, đặc thù tạo điều kiện để TPHCM tháo gỡ những “điểm nghẽn”, khơi thông nguồn lực để phát triển nhanh, bền vững.
Mỗi nghị quyết của Trung ương sau khi ban hành, đều được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TPHCM đón nhận với sự quyết tâm, xác định là kim chỉ nam để hành động, cụ thể hóa, triển khai vào thực tiễn.
Những năm đầu thế kỷ XXI, “bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và cách mạng KH-CN diễn ra mạnh mẽ; tình hình thế giới diễn biến phức tạp..., TPHCM đứng trước những thuận lợi, cơ hội lớn hơn và khó khăn, thách thức gay gắt hơn”[8], nhưng với tinh thần năng động, sáng tạo, TPHCM đã vận dụng linh hoạt tinh thần Nghị quyết số 20 để triển khai toàn diện từ việc thể chế hóa chủ trương đến xây dựng dữ liệu, hạ tầng, ứng dụng và nguồn nhân lực nhằm xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số và xã hội số; chủ động vận dụng mô hình lấy KH-CN, đổi mới sáng tạo làm động lực tăng trưởng chủ yếu để phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ có hàm lượng khoa học cao, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, bảo vệ môi trường; nâng cao sức cạnh tranh và hội nhập kinh tế thế giới.
Đến giai đoạn 2010 - 2020, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, ở trong nước, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, một số cơ chế, chính sách vĩ mô chưa thực sự đồng bộ và phù hợp với điều kiện đặc thù của thành phố lớn.
Trước bối cảnh đó, TPHCM đã cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 16 gắn với Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ IX và lần thứ X để xây dựng, triển khai các chương trình đột phá phù hợp với thực tiễn trong từng thời điểm, mang lại nhiều kết quả đáng ghi nhận.
Giai đoạn 2011 - 2015 với 6 chương trình đột phá:
1. Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; 2. Chương trình cải cách hành chính gắn với mục tiêu xây dựng mô hình chính quyền đô thị; 3. Chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế thành phố; 4. Chương trình giảm ùn tắc giao thông; 5. Chương trình giảm ngập nước; 6. Chương trình giảm ô nhiễm môi trường.
Giai đoạn 2016 - 2020 với 7 chương trình đột phá:
1. Chương trình giảm ngập nước, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; 2. Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; 3. Chương trình cải cách hành chính; 4. Chương trình nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh của kinh tế TP HCM; 5. Chương trình giảm ùn tắc giao thông, giảm tai nạn giao thông; 6. Chương trình giảm ô nhiễm môi trường; 7. Chương trình chỉnh trang và phát triển đô thị.
Để hiện thực hóa những cơ chế, chính sách đặc thù được Trung ương trao quyền (Nghị quyết số 54 và Nghị quyết số 98) gắn với Nghị quyết số 31, với phương châm “quyết liệt, đồng bộ và sáng tạo”, TPHCM quán triệt, xác định việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Trung ương là nhiệm vụ chính trị trọng yếu, thường xuyên.
Theo đó, các cơ quan chức năng của TPHCM tập trung mọi nguồn lực để cụ thể hóa các cơ chế, chính sách đặc thù theo thẩm quyền, nhiệm vụ được giao, kịp thời giải quyết những hạn chế, vướng mắc để phát triển thành một thành phố hiện đại, văn minh, nghĩa tình, xứng đáng với vai trò “đầu tàu” của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Sau hợp nhất, với tiềm lực, vị thế nổi trội trong không gian phát triển mới, TPHCM tiếp tục đổi mới tư duy lãnh đạo, điều hành với quyết tâm thực hiện hiệu quả những cơ chế, chính sách đặc thù được Trung ương trao quyền, các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị gắn với thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Trong đó, với sự năng động, sáng tạo của mình, TPHCM hình thành cấu trúc phát triển theo hướng liên kết và tích hợp: thứ nhất, trung tâm TPHCM tiếp tục là đầu mối tài chính, KH-CN, giáo dục - đào tạo và đổi mới sáng tạo; thứ hai, khu vực Bình Dương được định vị là vùng lõi công nghiệp công nghệ cao, nơi tập trung sản xuất và chế biến hiện đại; thứ ba, khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu là cửa ngõ logistics, năng lượng, công nghiệp nặng và du lịch chất lượng cao.
Cấu trúc phát triển này khi được khai thác đồng bộ, hiệu quả không chỉ phát huy thế mạnh từng khu vực, mà còn tạo ra mạng lưới bổ sung, cộng hưởng lẫn nhau, hình thành một cực phát triển mới có sức lan tỏa mạnh mẽ, khả năng cạnh tranh kinh tế được nâng cao, là điều kiện cho TPHCM tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt, định hướng cho vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long và cả nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
III. NHỮNG THÀNH TỰU ĐÁNG TỰ HÀO

Trải qua nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, TPHCM luôn giữ vững ổn định chính trị, an ninh - quốc phòng bảo đảm, không để xảy ra điểm nóng, tình huống mất ổn định, kể cả khi tình hình trong nước có nhiều khó khăn, thế giới có những diễn biến phức tạp.
Với ý chí tự lực, tự cường, tinh thần năng động, sáng tạo, TPHCM luôn đổi mới tư duy để không chỉ là nơi khởi nguồn của những ý tưởng mới, mà còn là địa phương luôn chủ động tìm tòi, mạnh dạn tiên phong thí điểm nhiều cơ chế, chính sách..., đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn.
Đây là những thành tựu nổi bật, là nguyên nhân, kết quả của quá trình phát triển, thể hiện năng lực lãnh đạo, sự kiên định, quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TPHCM trong công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Dù chỉ chiếm khoảng 0,63% diện tích và gần 9% dân số của cả nước (sau sáp nhập chiếm 2,04% và 13,4% dân số cả nước), nhưng trong hành trình nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, TPHCM luôn vững vàng, vượt qua dù có những giai đoạn vô cùng khó khăn; hình thành quan hệ sản xuất mới, giữ được mức tăng trưởng hợp lý, quy mô ngày càng mở rộng, từng bước đi vào phát triển theo chiều sâu (dựa trên việc nâng cao hiệu quả, tối ưu hóa công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực)...
Nếu như giai đoạn 1976 - 1985, TPHCM cùng với cả nước bước vào công cuộc xây dựng, phát triển và hàn gắn vết thương sau chiến tranh trong bối cảnh muôn vàn khó khăn, nhưng vẫn không ngừng tìm tòi, đổi mới, đột phá từ thực tiễn để “tự cởi trói”.
Bước vào giai đoạn đổi mới đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế (1986 - 1995), kinh tế TPHCM tăng trưởng nhanh chóng; giai đoạn 1991 - 1995, kinh tế của TPHCM đột phá mạnh mẽ với việc thu hút đầu tư nước ngoài gia tăng nhanh chóng.
Nhờ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế của TPHCM giai đoạn 1996 - 2010 tiếp tục gia tăng tốc độ, khẳng định vị thế và vai trò đầu tàu kinh tế vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước; GRDP bình quân đầu người của TP HCM tăng từ 700 USD (năm 1996) lên xấp xỉ 5.000 USD (năm 2010).
Đến giai đoạn 2011 - 2020, kinh tế TPHCM phát triển theo chiều sâu, tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 6,86%/năm, vượt mức tăng trưởng chung của cả nước (5,96%).
Đặc biệt, những năm gần đây, nhờ triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù được Trung ương trao quyền gắn với phát triển theo chiều sâu khi ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đặc biệt là lấy KH-CN, đổi mới sáng tạo làm động lực tăng trưởng chủ yếu đã thúc đẩy kinh tế của TPHCM giai đoạn 2021 - 2025 có sự bứt phá mạnh mẽ, mở ra dư địa để TPHCM bước vào giai đoạn 2025 - 2030 với khát vọng tăng trưởng nhanh, bền vững hơn.
GRDP bình quân đầu người của TP HCM liên tục tăng nhanh, giai đoạn 1995 - 1996: 712 USD; giai đoạn 1996 - 2000: 1.004 USD; giai đoạn 2001 - 2005: 1.656 USD; giai đoạn 2006 - 2010: 3.199 USD; giai đoạn 2011 - 2013: 4.517 USD; giai đoạn 2021 - 2025: 8.994 USD, đạt tỷ lệ cao gấp 1,7 lần so với mức bình quân chung của cả nước.
Sau hợp nhất, quy mô kinh tế TP HCM tăng trưởng mạnh mẽ, đạt hơn 123 tỷ USD, chiếm 23,5% GDP cả nước, sánh ngang với nhiều đô thị lớn trong khu vực Đông Nam Á; tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu tài chính quốc gia với tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2023 - 2025 đạt mức trên 2,09 triệu tỷ đồng.
Với những bước đi chiến lược, đầu tư bài bản, TPHCM trở thành trung tâm giáo dục và đào tạo lớn nhất cả nước bởi sự quy tụ hệ thống trường đại học, cao đẳng, cơ sở đào tạo nghề hàng đầu; có vai trò cung cấp nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng, cho khu vực và cả nước.
Những năm gần đây, TPHCM có nhiều chính sách mới thể hiện tư duy kiến tạo đã khuyến khích KH-CN, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ và hình thành được hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo năng động nhất cả nước với hơn 2.200 doanh nghiệp (chiếm khoảng 50% số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp của cả nước); đưa vào vận hành Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TPHCM (SIHUB) theo mô hình đối tác công - tư, đáp ứng yêu cầu phát triển của KH-CN và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư theo chuẩn quốc tế, thu hút sinh viên quốc tế đến học tập, nghiên cứu, góp phần nâng cao vị thế của giáo dục, đào tạo Việt Nam trên trường quốc tế.
Hiện nay, TPHCM là địa phương sở hữu hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phát triển năng động nhất cả nước, là nơi tập trung số lượng lớn doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, cơ sở ươm tạo và các quỹ đầu tư trong nước, quốc tế.

Theo xếp hạng của tổ chức Startupblink
- Năm 2023, TPHCM đứng thứ 111 trên thế giới về Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, đứng thứ 3 tại Đông Nam Á về giá trị hệ sinh thái khởi nghiệp sau Singapore và Jakarta.
- Năm 2024, TPHCM có mặt trong Top 100 thành phố toàn cầu về một số lĩnh vực: Fintech (thứ 54), Edtech (thứ 62), thương mại điện tử & bán lẻ (thứ 71) và giao thông vận tải (thứ 87).
- Năm 2025, TPHCM đứng vị trí thứ 2 cả nước về Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
- Đến tháng 5-2026, TPHCM đứng thứ 98 toàn cầu, lần đầu tiên chính thức vào Top 100 Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Song song với những thành tựu trên, công tác quy hoạch, quản lý và phát triển đô thị có nhiều tiến bộ, làm cho diện mạo TPHCM thay đổi mạnh mẽ, trải rộng trên nhiều lĩnh vực.
Những khu đô thị mới, khu công nghệ cao, khu công nghiệp - chế xuất, hệ thống giáo dục, hệ thống bệnh viện, các công trình văn hóa; cùng với mạng lưới đường sắt metro, hạ tầng giao thông liên vùng, đa phương thức, đặc biệt là hệ thống cảng biển nước sâu theo chuẩn quốc tế để tham gia sâu vào mạng lưới vận tải biển toàn cầu.
Ngoài việc biến vùng đầm lầy, chua mặn ở phía Nam thành khu đô thị Phú Mỹ Hưng hiện đại kiểu mẫu, các khu đô thị mới như Thủ Thiêm, Cảng Hiệp Phước, Tây Bắc, Vạn Phúc City, Diamond Island, Vinhomes Central Park, Sala, Nam Rạch Chiếc, Lakeview City,... từng bước được xây dựng hài hòa với bức tranh đô thị hiện đại, tầm cỡ.
Chương trình di dời, tái định cư các hộ dân sống trên và ven kênh rạch, xây dựng nhà lưu trú cho công nhân, ký túc xá cho sinh viên, nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp được thực hiện, góp phần nâng cao điều kiện sống của người dân.
Nhằm thể hiện rõ quan điểm lấy người dân làm trung tâm, chủ thể của hành trình đổi mới và phát triển, TPHCM đã xây dựng mạng lưới, chất lượng khám, chữa bệnh với cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế không ngừng được cải thiện; chính sách y tế cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, các đối tượng chính sách xã hội, người có công với cách mạng được quan tâm, triển khai thực hiện tốt, địa phương đầu tiên trên cả nước chính thức triển khai mạng lưới cộng tác viên sức khỏe cộng đồng, khám sức khỏe định kỳ miễn phí toàn dân.
TPHCM luôn thực hiện tốt các phong trào “xây dựng nhà tình nghĩa”, “nhà tình thương”, “xóa đói giảm nghèo”, “xây dựng cuộc sống mới trên địa bàn dân cư”, “bảo trợ bệnh nhân nghèo”, “nụ cười cho trẻ thơ”, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng,... mang lại hiệu quả thiết thực, có ý nghĩa xã hội rộng lớn, tính nhân văn cao cả và sự lan tỏa mạnh mẽ.
IV. “TIÊN PHONG MỞ ĐƯỜNG” TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, TPHCM không chỉ là một đô thị lớn của Việt Nam, mà còn được định vị như một trung tâm kinh tế biển - tài chính - công nghệ mang tầm quốc tế; là điểm du lịch hấp dẫn trong khu vực và thế giới.
Đây là bước chuyển quan trọng, thể hiện khát vọng xây dựng một đại đô thị hiện đại, văn minh, có sức ảnh hưởng trong khu vực châu Á, hướng đến Top 100 thành phố đáng sống nhất thế giới.
Với vai trò, vị thế mới, TPHCM được Đảng, Nhà nước và nhân dân kỳ vọng tiếp tục “tiên phong mở đường về mô hình phát triển, thể chế và phương thức quản trị hiện đại; tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, đóng góp ngày càng lớp cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước...
Hướng đến 100 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, năm 2075: Thành phố là đô thị toàn cầu, thông minh, hiện đại, phát triển toàn diện, ngang tầm các đô thị phát triển trên thế giới, tăng trưởng xanh, bền vững, chất lượng cuộc sống cao, thích ứng tốt với biến đổi khí hậu”[9].
Với quyết tâm hiện thực hóa sự kỳ vọng đó, TPHCM chú trọng bám sát tinh thần các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị; dự báo, nhận diện rõ sự đòi hỏi, khách quan xu thế phát triển, đề ra tầm nhìn với sứ mệnh mới thông qua Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ TP HCM lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030: Hướng tới 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 2030: TPHCM trở thành một đô thị văn minh, hiện đại, năng động, trung tâm đổi mới sáng tạo, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng; có vị trí nổi trội ở khu vực Đông Nam Á, nằm trong nhóm 100 thành phố toàn cầu, có hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của thế giới, thuộc nhóm có thu nhập cao.
Tầm nhìn đến 100 năm thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào năm 2045: TPHCM nằm trong nhóm 100 thành phố có chất lượng sống tốt nhất thế giới, xứng tầm siêu đô thị quốc tế của Đông Nam Á, là trung tâm kinh tế, tài chính, du lịch, dịch vụ, giáo dục, y tế của châu Á; hội nhập quốc tế sâu rộng, là điểm đến hấp dẫn toàn cầu, với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đặc sắc, bền vững; người dân có chất lượng cuộc sống cao.
| Mục tiêu cụ thể các giai đoạn phát triển theo tinh thần Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 19-5-2026, của Bộ Chính trị, “Về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới”: - Giai đoạn 2026 - 2030: tăng trưởng GRDP tối thiểu 10%/năm. Đến năm 2030, GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 14.000 USD. Kinh tế số chiếm khoảng 40% GRDP. Hoàn thành khoảng 200km đường sắt đô thị. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,9. Thành phố cơ bản giải quyết tình trạng úng ngập, ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông và không ma túy. - Giai đoạn 2031 - 2035: tăng trưởng GRDP tối thiểu 10%/năm. Đến năm 2035, GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 25.000 USD. Kinh tế số chiếm khoảng 60% GRDP. Tiếp tục duy trì chỉ số phát triển con người (HDI) tối thiểu đạt 0,9. - Giai đoạn 2036 - 2045: tăng trưởng GRDP tối thiểu 10%/năm. Đến năm 2045, GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 75.000 USD. Tiếp tục duy trì chỉ số phát triển con người (HDI) tối thiểu đạt 0,9. Hoàn thành kết nối hệ thống đường sắt đô thị. Đạt mức phát thải ròng bằng 0. - Giai đoạn 2046 - 2075: tăng trưởng GRDP tối thiểu 6%/năm. Đến năm 2075, GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 100.000 USD. Các chỉ số bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và chỉ số phát triển con người HDI đạt trên 0,9. |
Để hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra, Đảng bộ, chính quyền TPHCM đã, đang ra sức phát huy mạnh mẽ truyền thống năng động, sáng tạo, không ngừng đổi mới tư duy kiến tạo, đột phá để cùng nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp chung sức, đồng lòng nêu cao quyết tâm phát triển bứt phá với tinh thần “tiên phong mở đường”, tiếp tục mạnh dạn đề ra những định hướng chiến lược, thí điểm cách làm mới với những nội dung trọng tâm sau đây.

“50 năm qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã viết nên trang sử vẻ vang, rực rỡ tên vàng. 50 năm tới, Thành phố phải viết tiếp một chương phát triển mới, lớn hơn, đẹp hơn, xứng đáng hơn, rực rỡ hơn”.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Lễ kỷ niệm 50 năm thành phố Sài Gòn - Gia Định vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 2-7-2026.
Một là, Đảng bộ TPHCM luôn xác định đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng là yêu cầu tất yếu, khách quan, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện; là điều kiện tiên quyết nhằm tối ưu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp thông suốt, hiệu quả trên nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời hạn, rõ kết quả”.
Hiện nay, các đơn vị hành chính cấp xã của TPHCM phân bố trên không gian rộng lớn, đa dạng và được vận hành theo mô hình quản trị đô thị hiện đại, đây là tiền đề quan trọng, là điều kiện để TPHCM phát huy mạnh hơn tính tự chủ, sáng tạo trong năng lực điều hành, khả năng thích ứng với yêu cầu phát triển quy mô lớn.
Hai là, để làm tốt huy động mọi nguồn lực tạo động lực tăng trưởng mới, bền vững, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh, chủ động vượt qua bẫy thu nhập trung bình, TPHCM đã, đang ưu tiên tập trung nghiên cứu, lựa chọn những mô hình thích hợp để đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, chuyển từ khai thác “nguồn lực cứng” sang phát huy “nguồn lực mềm” dựa trên tri thức, dữ liệu, KH-CN.
Theo đó, TPHCM đề ra mục tiêu hình thành ít nhất 2 khu công nghệ cao tập trung, có từ 3 - 5 trung tâm đổi mới sáng tạo, trọng tâm ở trung tâm TP HCM và khu vực Bình Dương (cũ).
Ba là, TPHCM quán triệt sâu sắc nguyên tắc thể chế phải đi trước một bước, trong đó, chú trọng làm tốt việc xây dựng thể chế, cơ chế vượt trội để giải phóng mọi nguồn lực cho phát triển.
Bởi thực tiễn đã khẳng định, những cơ chế đặc thù, vượt trội được Trung ương trao quyền thời gian qua đã tạo thêm dư địa phát triển, góp phần cho kinh tế TPHCM tăng trưởng đã chứng minh rõ vai trò của thể chế như một đòn bẩy tăng trưởng mạnh mẽ.
Do vậy, thời gian tới, khi được Trung ương thông qua “Luật Đô thị đặc biệt cho Thành phố Hồ Chí Minh” cùng với sự năng động, sáng tạo, TPHCM sẽ nhanh chóng thể chế hóa vào thực tiễn, tạo nền tảng, động lực quan trọng để bảo đảm mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Bốn là, TPHCM chú trọng phát triển hạ tầng chiến lược, mở rộng không gian phát triển mới nhằm giải quyết các điểm nghẽn vật lý, giảm chi phí vận tải và logistic; hình thành, kết nối và tối ưu hóa các cực tăng trưởng.
Theo đó, với quan điểm thể chế là “động lực mềm”, hạ tầng chiến lược là “động lực cứng” để tạo sự đột phá trong phát triển, TPHCM chủ trương không chỉ phát triển hạ tầng giao thông, mà còn đẩy mạnh phát triển hạ tầng năng lượng, hạ tầng công nghệ số để tiến lên những nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Một bước đitiên phong nhằm hoàn thiện hệ thống hạ tầng số, dữ liệu dùng chung của Thành phố và quốc gia (khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu là nơi quốc gia đặt trung tâm dữ liệu lớn, vì nơi đây sở hữu điều kiện khí hậu tốt và nguồn năng lượng sạch), vừa qua, TP HCM đã thu hút gần 2 tỷ USD đầu tư vào lĩnh vực này.
Năm là, để tạo động lực tăng trưởng mới, nâng cao chất lượng sống, phát triển bền vững, TPHCM xem trọng việc tổ chức lại không gian phát triển theo mô hình đa trung tâm, phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), khai thác hiệu quả không gian ngầm, không gian sông nước với định hướng “một không gian - ba vùng - một đặc khu” nhằm giảm áp lực cho vùng lõi, phân bổ hợp lý nguồn lực, tối ưu hóa chuỗi giá trị liên kết vùng.
Với chủ trương này, TPHCM đã, đang hợp tác với những đơn vị uy tín trong và ngoài nước để lập quy hoạch tổng thể, dự kiến thông qua vào tháng 10-2026.
Sáu là, không ngừng chú trọng củng cố vị thế chiến lược về quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường sự kết hợp giữa không gian kinh tế biển, hệ thống cảng nước sâu quốc tế và vị trí trung tâm giao thương khu vực cho TPHCM thể hiện vai trò đặc biệt trong bảo đảm an ninh kinh tế quốc gia, chủ động trong hội nhập quốc tế...
Những định hướng này thành hiện thực, là điều kiện góp phần cho TPHCM khẳng định là địa bàn trọng điểm kết nối dòng vốn FDI, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và thực hiện chiến lược hợp tác toàn cầu trong giai đoạn phát triển mới./.
[1] Xem: Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh: Con người và văn hóa trên đường phát triển, Nxb. Đại học Quốc gia, 2006, tr. 79.
[2] Xem: Thành phố Hồ Chí Minh - 35 năm xây dựng và trưởng thành, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2012, tr.139.
[3] Xem: Thành phố Hồ Chí Minh - 35 năm xây dựng và trưởng thành, Sđd, tr. 86.
[4] Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, 1987, tr. 11.
[5] Theo: Nghị quyết số 131/2020/QH14, ngày 16-11-2020, của Quốc hội khóa XIV, “Về tổ chức chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh”.
[6] Đó là Nghị quyết số 54/2017/QH14, ngày 24-11-2017, của Quốc hội khóa XIV, “Về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh” với 18 nội dung thuộc 5 lĩnh vực.
[7] Đó là Nghị quyết số 98/2023/QH15, ngày 24-6-2023, của Quốc hội khóa XV, “Về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh”.
[8] Theo: Nghị quyết 20-NQ/TW, ngày 18-11-2002, “Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010”.
[9] Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 19-5-2026, của Bộ Chính trị, “Về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới”.
