Tạo nguồn, phát triển đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân theo yêu cầu mới
Hiện nay, nguồn phát triển đảng viên ngày càng đa dạng, từ người lao động trực tiếp, cán bộ quản lý đến doanh nhân, kỹ sư, chuyên gia và nhân lực trong các lĩnh vực công nghệ mới. Yêu cầu đặt ra là phát hiện đúng những nhân tố có phẩm chất, năng lực, uy tín, động cơ phấn đấu đúng đắn, đồng thời có cách thức bồi dưỡng phù hợp với đặc điểm lao động, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Nguồn phát triển đảng viên ngày càng đa dạng
Sau hơn 7 năm thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW, ngày 18-3-2019, của Ban Bí thư, “Về tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân”, công tác xây dựng tổ chức đảng, phát triển đảng viên đã có chuyển biến.
Tuy nhiên, Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 19-8-2026, của Ban Bí thư, “Về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân” chỉ rõ số lượng tổ chức đảng, đảng viên vẫn còn thấp so với quy mô, vị trí, vai trò và tốc độ phát triển của khu vực; công tác tạo nguồn, bồi dưỡng, kết nạp đảng viên còn gặp nhiều khó khăn.
Điểm đáng chú ý là Chỉ thị số 12-CT/TW xác định khá rộng các nhóm cần quan tâm tạo nguồn. Bên cạnh người lao động có thành tích xuất sắc là đội ngũ trí thức, kỹ sư, chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ quản lý trong doanh nghiệp; doanh nhân tiêu biểu, doanh nhân trẻ; những cá nhân có thành tích nổi bật trong nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, dữ liệu lớn và các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Công dân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; những người có uy tín, có ảnh hưởng tích cực trong tập thể lao động, cộng đồng doanh nghiệp và xã hội cũng thuộc diện cần chú trọng.
Trong một doanh nghiệp, nguồn phát triển đảng viên không chỉ có ở lao động trực tiếp mà còn có thể là kỹ sư, chuyên gia, nhân sự nghiên cứu và phát triển, cán bộ quản lý hay người điều hành.
Ở các lĩnh vực công nghệ mới, những người làm việc trong nghiên cứu, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn ngày càng tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ và năng lực cạnh tranh.
Với doanh nhân, chủ doanh nghiệp, việc tạo nguồn cũng được đặt trong yêu cầu chung về phẩm chất, năng lực, uy tín, động cơ phấn đấu và khả năng cống hiến. Vị trí quản lý hoặc sở hữu doanh nghiệp không thay thế cho quá trình rèn luyện và các tiêu chuẩn, điều kiện kết nạp.
Ngược lại, người lao động trực tiếp không giữ chức vụ quản lý nhưng có thành tích, uy tín, tinh thần trách nhiệm và nguyện vọng phấn đấu vẫn có thể là nguồn cần được quan tâm.
Nguồn có ngay trong hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp. Một người có thể được nhận biết qua chất lượng công việc, kỷ luật lao động, trách nhiệm với tập thể và những đóng góp cụ thể. Nếu chỉ dựa vào chức danh, hồ sơ hoặc chờ quần chúng tự tìm đến tổ chức đảng thì dễ bỏ sót những nhân tố tích cực.
Khó khăn là lực lượng lao động ở khu vực này thường biến động. Nhiều doanh nghiệp tổ chức sản xuất theo ca, kíp; có đơn vị hoạt động ở nhiều địa bàn; người lao động có thể thay đổi vị trí hoặc nơi làm việc.
Chỉ thị số 12-CT/TW cũng nêu những bất cập trong tổ chức sinh hoạt đối với đảng viên làm việc theo ca, kíp, phân tán, thường xuyên biến động. Những đặc điểm đó tác động ngay từ khâu tạo nguồn và bồi dưỡng, chứ không chỉ sau khi một người đã trở thành đảng viên.
Mở rộng nguồn, giữ vững chất lượng
Chỉ thị số 12-CT/TW đặt chất lượng ở vị trí trung tâm của công tác phát triển đảng viên. Việc tạo nguồn, bồi dưỡng, phát triển đảng viên phải coi trọng động cơ phấn đấu đúng đắn, phẩm chất, năng lực, uy tín và khả năng cống hiến; không chạy theo số lượng, không hạ thấp tiêu chuẩn, điều kiện kết nạp và không phát triển đảng viên theo mệnh lệnh hành chính. Việc vào Đảng phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng chính đáng, tinh thần tự nguyện, tự giác phấn đấu của quần chúng.
Doanh nghiệp chịu tác động trực tiếp của thị trường, đơn hàng, tiến độ sản xuất và nhu cầu nhân lực. Nếu cách tạo nguồn nặng về giao chỉ tiêu hoặc vận động hành chính thì dễ xuất hiện khoảng cách giữa số lượng được giới thiệu với chất lượng và động cơ phấn đấu.
Chỉ thị số 12-CT/TW đã chỉ rõ ở một số nơi còn tình trạng giao chỉ tiêu số lượng, chưa chú trọng đúng mức chất lượng kết nạp hoặc chưa thu hút được quần chúng ưu tú tự nguyện phấn đấu.
Việc phát hiện nguồn cần trở lại với những biểu hiện có thể quan sát trong công việc và trong tập thể. Người lao động có thành tích tốt, kỹ sư, chuyên gia, cán bộ quản lý hay doanh nhân đều phải được xem xét qua quá trình thực hiện nhiệm vụ, ý thức trách nhiệm, uy tín và khả năng đóng góp.
Thành tích nghề nghiệp có thể là một căn cứ để nhận diện, nhưng không phải là tiêu chuẩn duy nhất. Người được xem xét kết nạp vẫn phải đáp ứng đầy đủ các quy định của Đảng.
Điều cần tránh là đồng nhất “mở rộng nguồn” với mở rộng tiêu chuẩn. Hai việc này khác nhau. Mở rộng nguồn là chủ động tìm kiếm quần chúng ưu tú trong những nhóm nghề nghiệp, lĩnh vực và loại hình doanh nghiệp trước đây ít được chú ý; còn tiêu chuẩn, điều kiện kết nạp phải được giữ vững. Chỉ thị số 12-CT/TW đặt 2 yêu cầu này cạnh nhau: chú trọng nhiều nhóm nguồn mới, đồng thời không chạy theo số lượng và không hạ thấp tiêu chuẩn.
Cũng không nên đồng nhất giữ chất lượng với giữ nguyên cách tổ chức bồi dưỡng. Người lao động làm việc theo ca, kỹ sư thường xuyên đi công trình, nhân sự làm việc trên nhiều địa bàn khó tham gia những chương trình bố trí theo một khung thời gian cố định.
Chỉ thị yêu cầu đổi mới nội dung chương trình bồi dưỡng nhận thức về Đảng, bồi dưỡng đảng viên mới, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng phù hợp với đặc thù doanh nghiệp; thực hiện trên nền tảng số ở những nơi đủ điều kiện.
Sự linh hoạt thuộc về phương thức tổ chức, không phải tiêu chuẩn. Hình thức phù hợp hơn giúp người lao động tham gia bồi dưỡng thuận lợi hơn, nhưng không làm thay đổi nội dung cốt lõi của quá trình giáo dục, rèn luyện, xem xét kết nạp.
Chất lượng phát triển đảng viên cũng không kết thúc ở quyết định kết nạp. Chỉ thị số 12-CT/TW yêu cầu kết hợp phát triển với quản lý, giáo dục, rèn luyện, kiểm tra, giám sát và sàng lọc đảng viên.
Nhìn theo quá trình này, tạo nguồn là khâu đầu tiên của một chuỗi liên tục. Nếu phát hiện nguồn không đúng hoặc bồi dưỡng hình thức, những hạn chế sẽ bộc lộ ở các khâu sau.

Tạo điều kiện để quần chúng ưu tú phấn đấu vào Đảng
Muốn phát hiện được nguồn trong môi trường lao động đa dạng, tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội phải gần doanh nghiệp, gần người lao động hơn.
Công đoàn, đoàn thanh niên và các tổ chức quần chúng có điều kiện nắm quá trình làm việc, hoạt động tập thể, tâm tư, nguyện vọng của người lao động. Ở nơi chưa có tổ chức đảng, vai trò phát hiện, giới thiệu quần chúng ưu tú của các tổ chức này càng cần được phát huy.
Công tác tạo nguồn cũng cần gắn với việc nắm tình hình doanh nghiệp. Không phải doanh nghiệp nào cũng có tổ chức đảng; quy mô lao động, ngành nghề và cách tổ chức sản xuất rất khác nhau. Nếu không có thông tin cập nhật về doanh nghiệp, người lao động và tổ chức đảng trên địa bàn thì việc phát hiện nguồn dễ bị ngắt quãng, nhất là khi người lao động thay đổi nơi làm việc.
Chỉ thị số 12-CT/TW dành một nội dung riêng cho chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng ở khu vực kinh tế tư nhân. Đối với tạo nguồn, điểm đáng quan tâm không phải là công nghệ tự thân, mà là yêu cầu quản lý xuyên suốt từ phát hiện, tạo nguồn, bồi dưỡng, giới thiệu quần chúng ưu tú đến kết nạp và chuyển sinh hoạt đảng.
Cơ sở dữ liệu tập trung, khi được kết nối và cập nhật tốt, có thể hỗ trợ quá trình này trong điều kiện người lao động và doanh nghiệp thường xuyên biến động.
Chỉ thị cũng yêu cầu thực hiện nguyên tắc “nhập một lần, khai thác nhiều lần”, xây dựng, cập nhật bản đồ số về tổ chức đảng, đảng viên, xác định địa bàn và doanh nghiệp trọng điểm.
Với công tác tạo nguồn, những công cụ này có ý nghĩa khi giúp cấp ủy biết nơi nào có đông lao động, nơi nào có điều kiện thành lập tổ chức đảng, nơi nào cần tăng cường đầu mối theo dõi. Dữ liệu chỉ có giá trị khi phục vụ công việc cụ thể, không làm phát sinh thêm thủ tục cho doanh nghiệp và đảng viên.
Bên cạnh đó là quan hệ phối hợp trong doanh nghiệp. Chỉ thị số 12-CT/TW yêu cầu xây dựng cơ chế phối hợp giữa cấp ủy, tổ chức đảng với hội đồng quản trị, ban lãnh đạo và chủ doanh nghiệp trên cơ sở tôn trọng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bên.
Trong tạo nguồn, sự phối hợp phù hợp có thể giúp người lao động có thời gian tham gia bồi dưỡng, sinh hoạt, đồng thời tránh để hoạt động Đảng tách rời nhịp sản xuất, kinh doanh.
Tuyên truyền, vận động cũng cần thiết thực hơn. Người lao động, chuyên gia hay doanh nhân chỉ có thể tự nguyện phấn đấu khi hiểu rõ ý nghĩa, trách nhiệm và yêu cầu đối với người đảng viên. Nếu công tác tuyên truyền chủ yếu dừng ở những đợt vận động hoặc chỉ tiêu, khó tạo được động lực bền vững.
Khi tổ chức đảng hoạt động gần với đời sống doanh nghiệp, quan tâm tới việc làm, quan hệ lao động, kỷ luật, năng suất, an toàn và những vấn đề người lao động đang gặp, việc tập hợp và phát hiện quần chúng tích cực sẽ có cơ sở thực tế hơn.
Tạo nguồn phát triển đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân cần được nhìn như một quá trình lâu dài. Nguồn không chỉ nằm ở những vị trí dễ nhận biết, mà có thể xuất hiện trong các bộ phận sản xuất, kỹ thuật, nghiên cứu, quản lý và trong đội ngũ doanh nhân.
Điều quan trọng là chủ động phát hiện, tạo điều kiện để quần chúng ưu tú được bồi dưỡng, rèn luyện và tự nguyện phấn đấu, đồng thời giữ vững tiêu chuẩn, chất lượng trong từng khâu. Đó là cơ sở để sự gia tăng về số lượng đi cùng với chất lượng đội ngũ đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân./.

