Kinh tế và Hội nhập

Đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân: Nêu gương từ những việc cụ thể trong kinh doanh

Gia Ngân • 09/10/2026 08:38

Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 19-8-2026, của Ban Bí thư, “Về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân” đặt ra yêu cầu xây dựng hình ảnh người đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân thời kỳ mới. Trong môi trường sản xuất, kinh doanh, hình ảnh ấy được nhận biết trước hết từ công việc hằng ngày, từ chất lượng thực hiện nhiệm vụ, ý thức chấp hành pháp luật, giữ chữ tín và cách ứng xử với người lao động, khách hàng, đối tác, cộng đồng.

d09.jpg
Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc, huyện Krông Pắc (tỉnh Đắk Lắk) Ngô Thị Minh Trinh cùng bà con nông dân “lên sóng trực tiếp” (livestream) bán nông sản địa phương trên không gian số_Ảnh: daibieunhandan.vn

Yêu cầu mới đối với đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân

Cùng với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, số lượng tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khu vực này từng bước tăng lên. Theo Chỉ thị số 12-CT/TW, hiện khu vực kinh tế tư nhân có 15.221 tổ chức đảng, tăng 25,92%; có 187.034 đảng viên, tăng 2,21% so với năm 2019.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Ban Bí thư cũng chỉ rõ số lượng tổ chức đảng, đảng viên còn thấp; việc tạo nguồn, bồi dưỡng, kết nạp đảng viên còn gặp khó khăn; mô hình tổ chức và phương thức hoạt động ở một số nơi chưa phù hợp với đặc điểm sản xuất, kinh doanh.

Trong bối cảnh đó, Chỉ thị số 12-CT/TW đặt trọng tâm vào chất lượng đội ngũ đảng viên. Ban Bí thư yêu cầu công tác tạo nguồn, bồi dưỡng, phát triển đảng viên phải coi trọng động cơ phấn đấu, phẩm chất, năng lực, uy tín và khả năng cống hiến; không chạy theo số lượng, không hạ thấp tiêu chuẩn. Cùng với đó, Chỉ thị đặt ra nhiệm vụ xây dựng hình ảnh người đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân thời kỳ mới.

Trong thực tế, đảng viên làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân không chỉ là chủ doanh nghiệp hay doanh nhân. Chỉ thị số 12-CT/TW xác định diện tạo nguồn khá rộng, từ người lao động có thành tích xuất sắc đến trí thức, kỹ sư, chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ quản lý, doanh nhân và những người có uy tín trong tập thể lao động, cộng đồng doanh nghiệp.

Mỗi vị trí có quyền hạn và phạm vi trách nhiệm khác nhau. Người đứng đầu doanh nghiệp chịu trách nhiệm đối với những quyết định về tổ chức sản xuất, sử dụng lao động, đầu tư và quản trị; người quản lý chịu trách nhiệm trong phạm vi được phân công; kỹ sư, chuyên gia, người lao động trực tiếp chịu trách nhiệm về chất lượng chuyên môn và phần việc của mình.

Trong môi trường doanh nghiệp, phẩm chất, năng lực và uy tín được thể hiện khá rõ qua công việc hằng ngày. Cách thực hiện nhiệm vụ, giữ cam kết, chấp hành quy định và ứng xử với đồng nghiệp, khách hàng, đối tác tạo nên những đánh giá thực tế về trách nhiệm của mỗi người.

Yêu cầu đó cũng thống nhất với định hướng xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh. Nghị quyết số 138/NQ-CP, ngày 16-5-2025, của Chính phủ, “Về Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW” yêu cầu đề cao đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội, ý thức bảo vệ môi trường và thượng tôn pháp luật.

Với người đồng thời là đảng viên, những yêu cầu chung ấy còn gắn trực tiếp với uy tín cá nhân trong tập thể. Trách nhiệm trước hết cần được thể hiện trong phần việc và phạm vi thẩm quyền mà mỗi người đảm nhiệm.

Pháp luật, chữ tín và trách nhiệm với người lao động

Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, chấp hành pháp luật là yêu cầu đối với mọi chủ thể tham gia thị trường. Doanh nghiệp thường xuyên phải thực hiện các quy định về thuế, bảo hiểm xã hội, lao động, hợp đồng, tiêu chuẩn chất lượng, an toàn sản xuất, bảo vệ môi trường và quyền lợi người tiêu dùng.

Những nghĩa vụ này không phải yêu cầu pháp lý riêng đối với đảng viên, nhưng cách thực hiện phản ánh tinh thần trách nhiệm trong công việc.

Đối với người đứng đầu hoặc cán bộ quản lý, trách nhiệm gắn với các quyết định thuộc phạm vi quản lý. Đối với kỹ sư, chuyên gia và người lao động, trách nhiệm thể hiện qua việc tuân thủ quy trình, tiêu chuẩn chuyên môn, bảo đảm chất lượng và an toàn. Trách nhiệm của người đảng viên, vì vậy, không tách khỏi trách nhiệm nghề nghiệp.

Nghị quyết số 138/NQ-CP đặt yêu cầu thượng tôn pháp luật bên cạnh trung thực, thanh liêm, đạo đức và văn hóa kinh doanh; đồng thời nhấn mạnh việc bảo đảm thực thi hợp đồng, bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng. Những yêu cầu ấy gắn trực tiếp với hoạt động thường ngày của doanh nghiệp, từ thực hiện hợp đồng, cung cấp thông tin đến bảo đảm chất lượng sản phẩm.

Bên cạnh việc chấp hành pháp luật, chữ tín là một thành tố quan trọng trong quan hệ kinh doanh. Hoạt động của doanh nghiệp được duy trì bằng nhiều loại cam kết, từ hợp đồng, chất lượng hàng hóa, tiến độ thực hiện đến thông tin cung cấp cho khách hàng và dịch vụ sau bán hàng.

Khi điều kiện thị trường thay đổi và cam kết phải điều chỉnh, sự trung thực của thông tin, cách thương lượng và việc xử lý trách nhiệm ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của doanh nghiệp và những người thực hiện công việc.

Với người đảng viên, chữ tín được hình thành từ cách thực hiện những cam kết thuộc phạm vi trách nhiệm. Người quản lý chịu trách nhiệm về quyết định của mình; người phụ trách chuyên môn chịu trách nhiệm về chất lượng công việc; người trực tiếp làm việc với khách hàng chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin cung cấp. Uy tín cá nhân được tích lũy từ những việc cụ thể như vậy.

Trong quan hệ lao động, trách nhiệm của doanh nghiệp và của từng người cũng được thể hiện khá rõ. Pháp luật đã quy định những nội dung cơ bản về tiền lương, bảo hiểm xã hội, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, an toàn lao động và các quyền lợi khác.

Chất lượng của quan hệ lao động còn phụ thuộc vào cách doanh nghiệp tổ chức đối thoại, tiếp nhận kiến nghị và giải quyết những vấn đề phát sinh.

Theo Chỉ thị số 12-CT/TW, các tổ chức đảng trong khu vực kinh tế tư nhân từng bước phát huy vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp với cấp ủy, chính quyền và người lao động, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh.

Ban Bí thư đồng thời yêu cầu xây dựng cơ chế phối hợp giữa cấp ủy, tổ chức đảng với hội đồng quản trị, ban lãnh đạo, chủ doanh nghiệp trên cơ sở tôn trọng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bên.

Đối với từng đảng viên, trách nhiệm cần được xác định theo vị trí công việc. Chủ doanh nghiệp hoặc cán bộ quản lý có khả năng tác động trực tiếp đến chính sách sử dụng lao động và điều kiện làm việc. Đối với kỹ sư, chuyên gia hoặc người lao động, trách nhiệm trước hết nằm ở chất lượng công việc, kỷ luật, tinh thần hợp tác và cách ứng xử với đồng nghiệp.

Cùng với trách nhiệm đối với người lao động, doanh nghiệp còn phải quan tâm đến những tác động xã hội của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, tạo việc làm, bảo đảm chất lượng hàng hóa, tôn trọng quyền lợi người lao động và hạn chế tác động bất lợi tới môi trường đều thuộc trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Hoạt động tài trợ, thiện nguyện có ý nghĩa riêng nhưng không thể thay thế trách nhiệm của doanh nghiệp trong sản xuất, sử dụng lao động, thực hiện nghĩa vụ tài chính và bảo vệ môi trường.

Qua những quan hệ thường xuyên ấy, phẩm chất, năng lực và uy tín của người đảng viên được thể hiện cụ thể hơn. Chấp hành pháp luật, giữ chữ tín, thực hiện trách nhiệm với người lao động và cộng đồng không tạo thành một bộ tiêu chí riêng, nhưng là những phương diện có thể nhận biết trong thực tế doanh nghiệp.

d10.jpg
Bí thư Đảng ủy xã Long Cốc (tỉnh Phú Thọ) Nguyễn Hoàng Trung cùng người dân quay video quảng bá du lịch địa phương_Ảnh: suckhoedoisong.vn

Uy tín được tạo dựng từ chất lượng công việc

Khi xác định yêu cầu đối với đội ngũ đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân, Chỉ thị số 12-CT/TW đặt phẩm chất cùng với năng lực, uy tín và khả năng cống hiến. Trong môi trường doanh nghiệp, những yêu cầu này gắn trực tiếp với chất lượng và kết quả thực hiện công việc.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, chấp hành đúng quy định mới chỉ là một phương diện. Một người thường xuyên không hoàn thành công việc khó tạo được uy tín nghề nghiệp, dù không vi phạm quy định. Ngược lại, năng lực chuyên môn cũng không thể thay thế cho sự trung thực, tinh thần trách nhiệm và thái độ tôn trọng những người cùng làm việc.

Đối với người quản lý, năng lực thể hiện qua chất lượng quyết định và khả năng tổ chức công việc. Đối với kỹ sư, chuyên gia và người lao động, năng lực thể hiện ở trình độ chuyên môn, chất lượng sản phẩm, tiến độ và khả năng phối hợp. Qua những công việc ấy, người đảng viên thể hiện đồng thời năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm.

Trong doanh nghiệp, đảng viên trước hết cũng là một thành viên của quá trình lao động, sản xuất, kinh doanh. Họ chịu trách nhiệm về nhiệm vụ được giao và hoạt động trong cùng hệ thống quản trị với những thành viên khác. Uy tín của người đảng viên, vì thế, được tạo dựng trước hết từ việc hoàn thành tốt chức trách của mình.

Theo Chỉ thị số 12-CT/TW, cơ chế phối hợp giữa cấp ủy, tổ chức đảng với hội đồng quản trị, ban lãnh đạo và chủ doanh nghiệp phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bên.

Nguyên tắc này vừa tạo điều kiện để tổ chức đảng đồng hành cùng doanh nghiệp, vừa xác định rõ phạm vi giữa hoạt động của tổ chức đảng với quản trị, điều hành doanh nghiệp.

Đối với từng đảng viên, trách nhiệm cũng phải gắn với quyền hạn và khả năng tác động thực tế. Người đảng viên phát huy vai trò trong phần việc được giao, không làm thay trách nhiệm của chủ sở hữu, người quản lý hay những bộ phận không thuộc thẩm quyền.

Văn hóa và kết quả hoạt động của doanh nghiệp được tạo nên từ nhiều yếu tố: người sở hữu, bộ máy quản trị, chính sách nhân sự, quy trình nội bộ, thị trường và hành vi của từng thành viên. Một cá nhân có thể tạo ảnh hưởng tích cực, nhưng không thể chịu trách nhiệm thay cho toàn bộ doanh nghiệp.

Vì vậy, xây dựng hình ảnh người đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân trước hết gắn với việc thực hiện đúng trách nhiệm, bảo đảm chất lượng công việc, giữ cam kết, tôn trọng người cùng làm việc và chịu trách nhiệm về những quyết định thuộc thẩm quyền.

Qua quá trình lao động, quản lý và kinh doanh hằng ngày, phẩm chất, năng lực và uy tín của mỗi người được những người xung quanh nhận biết. Khi những yêu cầu của Chỉ thị số 12-CT/TW được thể hiện bằng chất lượng công việc và trách nhiệm cụ thể, hình ảnh người đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân cũng được định hình từ chính thực tiễn doanh nghiệp./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân: Nêu gương từ những việc cụ thể trong kinh doanh
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO