Nông nghiệp xanh - trụ cột phát triển bền vững của tỉnh Quảng Trị
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 xác định phát triển nông nghiệp xanh là 1 trong 4 trụ cột kinh tế chiến lược tạo động lực bứt phá cho địa phương trong giai đoạn mới.
Sau Đại hội, nhiều chương trình hợp tác về nông nghiệp tuần hoàn, chăn nuôi hữu cơ, sản xuất sạch và ứng dụng công nghệ cao đã được xúc tiến mạnh mẽ, khẳng định quyết tâm của tỉnh Quảng Trị trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Hình thành nền nông nghiệp xanh từ lợi thế sinh thái
Sau hợp nhất, tỉnh Quảng Trị sở hữu không gian phát triển nông nghiệp rộng lớn với hệ sinh thái đa dạng từ miền núi, trung du, đồng bằng đến ven biển.
Toàn tỉnh hiện có hơn 1,1 triệu héc-ta đất sản xuất nông - lâm - thủy sản, chiếm khoảng 86% diện tích tự nhiên; gần 200km bờ biển cùng nhiều vùng nguyên liệu đặc trưng, như hồ tiêu, cà phê Khe Sanh, lúa chất lượng cao, cây dược liệu, cao su và thủy sản.
Quảng Trị là tỉnh có diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn với 1.138.822ha, chiếm 89% diện tích tự nhiên trong đó, đất trồng trọt 206.090ha, đất lâm nghiệp 924.896ha, đất nuôi trồng thuỷ sản 6.501ha, đất chăn nuôi tập trung 108,5ha, đất làm muối 72,5ha, đất nông nghiệp khác là 1.154ha.
Năm 2025, ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Trị tiếp tục khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền kinh tế khi tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 2,9%, tổng giá trị theo giá so sánh đạt khoảng 10.642 tỷ đồng, chiếm hơn 18% GRDP toàn tỉnh.
Lĩnh vực trồng trọt được cơ cấu lại theo hướng phát huy lợi thế cây trồng chủ lực, mở rộng sản xuất hữu cơ, sản xuất an toàn gắn với thích ứng biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Sản xuất trồng trọt theo hướng xanh tiếp tục được mở rộng với việc đẩy mạnh áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ và các mô hình canh tác thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đến nay, diện tích cây trồng liên kết sản xuất và tiêu thụ theo các quy trình VietGAP, hữu cơ, tuần hoàn đạt gần 2.700ha, trong đó diện tích sản xuất đạt tiêu chuẩn hữu cơ gần 620ha, trong đó diện tích đã được chứng nhận hữu cơ là 424,9ha (gồm 227,1ha lúa; 99,54ha hồ tiêu; 19,6ha cây ăn quả; 5,6ha rau các loại; 52,6ha dược liệu và 20ha cà phê.
Sản xuất trồng trọt trên địa bàn tỉnh đã từng bước tiếp cận các mô hình canh tác giảm phát thải theo hướng bền vững, thân thiện môi trường, như: canh tác lúa cải tiến (SRI), tưới ngập khô xen kẽ (AWD); quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quản ký sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) đã góp phần cải thiện chất lượng đất, nước và hệ sinh thái đồng ruộng. Hiện nay, toàn tỉnh có hơn 2.000ha lúa sản xuất giảm phát thải; có 25.000ha áp dụng IPM, 500ha áp dụng IPHM.
Không chỉ thay đổi phương thức sản xuất, lĩnh vực chăn nuôi của Quảng Trị còn ghi dấu ấn trong quá trình chuyển đổi xanh. Từ chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún, nhiều địa phương đã hình thành các vùng chăn nuôi tập trung theo hướng an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh và thân thiện với môi trường.
Việc ứng dụng hầm biogas, đệm lót sinh học, công nghệ vi sinh xử lý chất thải ngày càng được mở rộng; chất thải chăn nuôi được tái sử dụng làm phân bón hữu cơ cho cây trồng, tạo nên những vòng tuần hoàn sản xuất khép kín, giảm thiểu ô nhiễm và gia tăng giá trị trong sản xuất nông nghiệp.
Toàn tỉnh hiện có 36 trang trại chăn nuôi quy mô lớn đáp ứng điều kiện chăn nuôi an toàn sinh học, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất chăn nuôi. Các mô hình chăn nuôi theo hướng tuần hoàn không chỉ góp phần giảm ô nhiễm môi trường nông thôn, mà còn giúp người dân giảm chi phí đầu vào, nâng cao hiệu quả kinh tế và từng bước hình thành tư duy sản xuất gắn với trách nhiệm môi trường.
Lĩnh vực nuôi trồng và khai thác thủy sản chú trọng triển khai phát triển các mô hình nuôi trồng thủy sản áp dụng công nghệ mới, tiên tiến, thích ứng với biến đổi khí hậu; các mô hình nuôi hữu cơ, nuôi sinh thái, áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP), nuôi theo hướng an toàn thực phẩm và hình thành các vùng nuôi tập trung để nâng cao giá trị và phát triển bền vững.
Nuôi theo hướng hữu cơ, sinh thái có khoảng 2.100ha nuôi cá - lúa, đối tượng nuôi là cá lóc, cá trê, cá chép, cá rô đầu vuông, cá diếc, tôm càng xanh, năng suất thu được khoảng 0,5 - 1 tấn/ha; sản xuất theo VietGap 8,25ha nuôi tôm thẻ chân trắng; sản xuất theo hướng an toàn thực phẩm 184ha tôm thẻ chân trắng.
Cùng với lợi thế tài nguyên, tỉnh Quảng Trị đang từng bước hình thành nền nông nghiệp xanh dựa trên tư duy kinh tế nông nghiệp thay cho sản xuất truyền thống. Đến nay, toàn tỉnh có hơn 558ha sản xuất nông nghiệp hữu cơ; diện tích sản xuất theo hướng hữu cơ và VietGAP đạt trên 940ha. Các vùng sản xuất hàng hóa tập trung tiếp tục được mở rộng, từng bước áp dụng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc nhằm nâng cao chất lượng và giá trị nông sản.
Cùng với quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất ngày càng được đẩy mạnh. Đến nay, toàn tỉnh có hơn 417 cơ sở sản xuất ứng dụng công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu; trong đó, trên 200 cơ sở được hỗ trợ áp dụng mã QR truy xuất nguồn gốc.
Tỉnh đã thu hút được các doanh nghiệp “đầu tàu”, đóng vai trò hạt nhân dẫn dắt, điển hình như lĩnh vực trồng trọt có Công ty Oganicmore, Công ty DUY PROSPER, Tập đoàn Quế Lâm… Tập đoàn C.P. Việt Nam với các trang trại vận hành theo quy trình khép kín, an toàn sinh học; lĩnh vực thủy sản có Tập đoàn Việt - Úc với công nghệ nuôi tôm trên cát nhiều giai đoạn; Công ty Cổ phần Camimex Quảng Trị với dự án Nuôi cá Hồi Vân công nghệ cao RAS ứng dụng công nghệ sinh học đã tạo ra sản phẩm chất lượng cao.
Song song với việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số đang từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới phương thức sản xuất và quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp. Nhiều công nghệ tiên tiến đã được đưa vào thực tiễn, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Toàn tỉnh hiện đã ứng dụng thiết bị bay không người lái (drone) trên hơn 22.000ha lúa; công nghệ Internet vạn vật (IoT) được triển khai tại 270 trang trại chăn nuôi, hơn 200ha nuôi tôm và trên 20.000ha cây trồng áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm.
Cùng với đó, tỉnh đã cấp 63 mã số vùng trồng cho hơn 8.100ha cây trồng, gồm 15 mã số phục vụ xuất khẩu và 48 mã số phục vụ thị trường nội địa. Hơn 200 cơ sở sản xuất cũng đã được hỗ trợ ứng dụng mã QR truy xuất nguồn gốc, góp phần nâng cao tính minh bạch, khả năng kiểm soát chất lượng và giá trị thương mại của sản phẩm nông nghiệp.
Những kết quả này đang tạo nền tảng quan trọng để tiến tới hình thành hệ sinh thái nông nghiệp số, từng bước ứng dụng các công nghệ dữ liệu lớn (Big Data) và công nghệ chuỗi khối (Blockchain) trong quản lý, giám sát và kết nối chuỗi giá trị nông sản.
Nhiều mô hình sản xuất xanh đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Hiện nay, toàn tỉnh có 28 dự án nông nghiệp hữu cơ được nghiên cứu, triển khai; trong đó 13 dự án đã khởi công với tổng vốn đầu tư hàng nghìn tỷ đồng.
Tại các vùng sản xuất lúa hữu cơ ở Hải Lăng, Cam Lộ hay Lệ Thủy, giá trị kinh tế cao hơn từ 15 - 20% so với phương thức canh tác truyền thống. Trong chăn nuôi, các mô hình sử dụng đệm lót sinh học, tái sử dụng phụ phẩm làm phân hữu cơ giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất và ô nhiễm môi trường. Nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao bước đầu cho thấy hiệu quả tích cực.
Điển hình như dự án trang trại gà đẻ trứng công nghệ cao của Công ty Hoàng Văn với tổng vốn đầu tư khoảng 80 tỷ đồng. Hệ thống chuồng trại được vận hành tự động theo tiêu chuẩn Hà Lan, từ chiếu sáng, cấp nước đến xử lý môi trường. Riêng giai đoạn II với khoảng 7.000 con gà đẻ đã mang lại doanh thu hơn 100 triệu đồng mỗi ngày và tạo việc làm ổn định cho nhiều lao động địa phương.
Ở quy mô hộ gia đình, mô hình chăn nuôi - trồng trọt hữu cơ của ông Đoàn Thanh Lâm đang trở thành điểm sáng của kinh tế tuần hoàn nông nghiệp. Sau khi hợp tác với Công ty CP Tập đoàn Quế Lâm, ông Lâm mạnh dạn chuyển toàn bộ quy trình sản xuất sang hướng hữu cơ, sử dụng công nghệ vi sinh trong xử lý chuồng trại, không dùng kháng sinh và chất cấm trong chăn nuôi. Mỗi năm, gia đình ông xuất chuồng khoảng 200 con lợn, mang lại lợi nhuận ổn định trên 400 triệu đồng.
Không chỉ chăn nuôi hữu cơ, ông Lâm còn kết hợp trồng rau màu, cây ăn quả; phân chuồng được ủ men vi sinh để bón cây, còn phụ phẩm cây trồng được tận dụng làm thức ăn cho vật nuôi. Mô hình khép kín giúp giảm chi phí sản xuất, bảo vệ môi trường và nâng cao giá trị kinh tế trên cùng diện tích canh tác.
Mô hình trồng cam hữu cơ của ông Bùi Quang Huyên ở thôn Thượng Phước, xã Triệu Phong là điển hình tiêu biểu trong phát triển nông nghiệp tuần hoàn tại địa phương. Trên diện tích khoảng 3 ha cam hữu cơ, ông Huyên kết hợp chăn nuôi gà, trâu, bò, nuôi cá và trồng cỏ, ngô làm thức ăn cho vật nuôi, hình thành chu trình sản xuất khép kín.
Nguồn phân hữu cơ từ chăn nuôi được tận dụng để bón cho vườn cam và ao cá, góp phần giảm chi phí sản xuất, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng nông sản. Bình quân mỗi năm, vườn cam cho sản lượng từ 20 - 25 tấn quả, doanh thu đạt 100 - 120 triệu đồng.
Mục tiêu đến năm 2030, xây dựng tỉnh Quảng Trị trở thành địa phương phát triển mạnh về nông nghiệp xanh, an toàn, tuần hoàn và bền vững, với trên 70% sản phẩm chủ lực đạt tiêu chuẩn hữu cơ hoặc VietGAP.

Tạo động lực tăng trưởng mới từ kinh tế nông nghiệp xanh
Tỉnh Quảng Trị đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt 10,6% trong năm 2026. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong nhiệm kỳ mới, tỉnh xác định phải hình thành các động lực kinh tế mới dựa trên nền tảng phát triển xanh và bền vững.
Trong đó, nông nghiệp xanh được xem là lĩnh vực có nhiều dư địa phát triển nhờ lợi thế tài nguyên, hệ sinh thái và khả năng kết nối với các ngành kinh tế khác như du lịch sinh thái, công nghiệp chế biến, năng lượng sinh khối hay thị trường tín chỉ carbon.
Năm 2026 là đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ mới, ngành nông nghiệp Quảng Trị đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt khoảng 3%; ổn định sản lượng lương thực trên 60 vạn tấn; sản lượng thủy sản đạt khoảng 143.000 tấn; sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 158.000 tấn; tỷ lệ che phủ rừng giữ vững khoảng 61%.
Phấn đấu đến năm 2030, tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, nông nghiệp xanh, nông nghiệp số chiếm 15 - 20% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh và giá trị thu nhập trên 1ha đất canh tác ứng dụng công nghiệp cao nhiều hơn 1,5 lần so với canh tác truyền thống.
Theo đó, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất, tập trung nghiên cứu, chuyển giao các giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản có năng suất, chất lượng cao, khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất lợi của thời tiết và biến đổi khí hậu.
Đồng thời, chú trọng bảo tồn, phát triển các giống bản địa có giá trị, từng bước xây dựng hệ thống sản xuất, kinh doanh giống đồng bộ, đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng, phục vụ phát triển các vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung.
Đồng thời triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách của Trung ương nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, trong đó ưu tiên các dự án phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn.
Cùng với việc tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp triển khai các dự án đầu tư, tỉnh còn hỗ trợ xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, kết nối thị trường thông qua các hội chợ, diễn đàn và hội nghị trong nước, quốc tế, góp phần nâng cao giá trị, mở rộng đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp xanh, tuần hoàn.
Cùng với hoàn thiện cơ chế, chính sách, địa phương tăng cường nâng cao năng lực cho các chủ thể tham gia sản xuất nông nghiệp xanh, tuần hoàn. Nhiều chương trình đào tạo, tập huấn được triển khai cho cán bộ quản lý, hợp tác xã và nông dân; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền qua báo chí, mạng xã hội, hội chợ và diễn đàn để lan tỏa các mô hình hiệu quả, góp phần thúc đẩy chuyển đổi sang nền nông nghiệp xanh và bền vững.
Những kết quả đạt được khẳng định nông nghiệp xanh trở thành hướng đi tất yếu, là trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của tỉnh Quảng Trị.
Từ việc đẩy mạnh sản xuất hữu cơ, phát triển kinh tế tuần hoàn, ứng dụng khoa học - công nghệ đến xây dựng chuỗi giá trị nông sản, tỉnh đang từng bước hình thành nền nông nghiệp hiện đại, thân thiện với môi trường và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Với quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng hành của doanh nghiệp và người dân, nông nghiệp xanh được kỳ vọng sẽ tiếp tục tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn và hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững trong giai đoạn mới./.
