Xu thế quốc tế về cải cách hành chính và nâng cao hiệu quả quản trị địa phương trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển bền vững
Chính phủ là một thành tố hết sức quan trọng của hệ thống chính trị. Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế và suy cho cùng thì kinh tế quyết định chính trị, đồng thời chính trị có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự vận động kinh tế theo hướng thúc đẩy hoặc có thể kìm hãm sự phát triển. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang thúc đẩy mạnh hơn quá trình số hóa nền kinh tế cả trên hai bình diện quốc gia và quốc tế. Hệ quả kéo theo là các chính phủ đều phải nỗ lực tiến hành cải cách hành chính và nâng cao hiệu quả quản trị địa phương theo hướng số hóa để tận dụng tối đa các cơ hội mới cho phát triển bền vững trong kỷ nguyên toàn cầu hóa số.

Hiện đại hóa quản trị công
Xu thế hiện đại hóa quản trị công (quản lý nhà nước) được hình thành và thúc đẩy trong quá trình chuyển đổi từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại do tác động tích hợp của cách mạng công nghiệp, cạnh tranh kinh tế quốc tế, cách mạng khoa học - công nghệ và xu thế dân chủ hóa. Qua các thời kỳ lịch sử, hiện đại hóa quản trị công dần được hoàn thiện, đạt hiệu suất và hiệu quả cao hơn theo hướng chuyển đổi từ “quản trị cai trị - ban phát” sang “quản trị phục vụ - phát triển”. Hiện đại hóa quản trị công nhằm hình thành các cơ quan hành chính - công vụ tinh hoa, hiện đại, chuyên nghiệp và vận hành độc lập theo khuôn khổ pháp quyền phân cấp, phân quyền minh bạch, phù hợp với chức năng hoạt động nhằm đạt hiệu suất và hiệu quả quản lý tối ưu. Năm 1946, Quốc hội Mỹ đã thông qua “Luật Trình tự hành chính”, trong đó xác lập những nguyên tắc cơ bản và quy định về trình tự hành chính như: công khai thông tin, lắng nghe ý kiến, trọng tài, thẩm tra tư pháp...[1].
Từ đầu những năm 70 thế kỷ XX, trên thế giới đã hình thành 3 trung tâm kinh tế cạnh tranh với nhau là Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản. Đây cũng là thời điểm phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba, hay còn được gọi cách mạng kỹ thuật số (DR) được bắt đầu từ giữa những năm 1950 với sự áp dụng phổ biến máy tính kỹ thuật số, lưu giữ hồ sơ kỹ thuật số, đánh dấu sự khởi đầu của kỷ nguyên thông tin và tạo động lực mới cho hiện đại hóa quản trị công. Từ 1980, Anh triển khai dự án Quản lý công Mới (NPM) trong đó có Khung năng lực (CF) và Hồ sơ thành công (CF) để đánh giá trình độ và kết quả làm việc của công chức. Đầu những năm 1980, do sự điều chỉnh chiến lược kinh tế lấy nhu cầu trong nước làm động lực tăng trưởng, Chính phủ Nhật Bản đã chủ trương đưa cải cách hành chính đi vào chiều sâu. Chương trình cải cách hành chính của Nhật Bản được thực hiện với 3 trọng tâm ưu tiên: Cắt giảm chi phí hành chính để hạn chế thâm hụt ngân sách (thực hiện nguyên tắc “mức tối đa bằng 0” - tức mức tăng của ngân sách chi cho hoạt động hành chính so với năm trước phải bằng 0); giảm biên chế viên chức hành chính đi đôi với cải cách lương hưu; giảm thiểu số lượng tổ chức kinh tế nhà nước và hợp lý hóa công tác quản lý, tập trung đơn giản hóa thủ tục hành chính[2].
Quản trị công ở Mỹ cũng đứng trước những thách thức mới đòi hỏi phải cải cách. Trong cuốn “Tái sáng tạo Chính phủ” (RG) xuất bản năm 1991 tại Mỹ, David Osborne và Ted Gaebler đã luận chứng cho sự cần thiết cấp bách chuyển đổi từ mô hình các cơ quan hành chính tập quyền, thứ bậc kiểu Weber sang mô hình các tổ chức phân quyền, hoạt động theo chức năng thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và mang tinh thần doanh nghiệp, đáp ứng các yêu cầu của cách mạng khoa học - công nghệ với mũi nhọn là công nghệ thông tin. Trong xã hội thông tin, các loại hình chính phủ phát triển từ kỷ nguyên công nghiệp với bộ máy hành chính tập quyền cồng kềnh được thiết kế từ những thập niên 30 đến 40 của thế kỷ XX cùng nhiều quy chế thủ tục quan liêu, chồng chéo và những chuỗi chỉ thị dây chuyền theo thứ bậc hình chóp không còn phù hợp, cản trở sự phát triển kinh tế tri thức, không khuyến khích doanh nghiệp đổi mới sáng tạo để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.
Vì vậy, cần phải tái tạo để “Chính phủ mang tinh thần doanh nghiệp” (EG) với 10 nguyên tắc: 1- Chính phủ đóng vai trò xúc tác: Chú trọng vào “lái thuyền” thay vì “chèo thuyền”; 2- Chính phủ dựa trên cộng đồng: Tăng cường quyền năng thay vì trực tiếp phục vụ; 3- Chính phủ có tính cạnh tranh: Tạo cạnh tranh trong các quá trình dịch vụ công; 4- Chính phủ hoạt động theo sứ mệnh thúc đẩy: Thay đổi những tổ chức nặng về quy chế, thủ tục hành chính; 5- Chính phủ hoạt động theo định hướng kết quả: Không cấp kinh phí trên cơ sở yếu tố đầu vào mà căn cứ vào kết quả đầu ra; 6- Chính phủ quan tâm tới khách hàng: Đáp ứng các nhu cầu của tập thể công dân chứ không phải yêu cầu từ nội tại của bộ máy hành chính; 7- Chính phủ dám mạo hiểm: Đầu tư để tăng thêm nguồn thu chứ không chỉ chi tiêu; 8- Chính phủ biết lường tính: Phòng ngừa hơn là chữa trị; 9- Chính phủ phân quyền: Chuyển từ thứ bậc hành chính sang tăng cường sự tham gia và cách thức làm việc nhóm; 10- Chính phủ hoạt động theo định hướng thị trường: Vận dụng cơ chế thị trường để tạo động lực thay đổi[3].
Mười nguyên tắc trên đặt ra yêu cầu đổi mới cơ bản hệ thống - cấu trúc các cơ quan hành chính, doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong nước và quốc tế, hiệu quả và hiệu suất quản lý, đáp ứng sự lựa chọn của khách hàng, bảo đảm trách nhiệm giải trình minh bạch đối với kết quả cuối cùng, cũng như huy động tối đa sự chung tay góp sức tham gia của cộng đồng và xã hội dân sự. Định hướng này giúp chính quyền Mỹ tạo ra những đột phá trong hiện đại hóa quản trị công nói chung và cải cách hành chính nói riêng. Đồng thời, các nguyên tắc này cũng có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với hoạch định chương trình hiện đại hóa quản trị công của các nước trên thế giới.
Từ điện tử hóa tới số hóa
Sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh trùng với sự ra đời của “World Wide Web” vào năm 1991, còn tin nhắn SMS đầu tiên được gửi đi vào ngày 3-12-1992. Sự phát triển của công nghệ thông tin và Internet trên thế giới đã thúc đẩy xu thế xây dựng chính phủ điện tử và Mỹ đã đi tiên phong. Trong Thông điệp Liên bang năm 1996 Tổng thống B. Clinton đã nhấn mạnh: “Kỷ nguyên của chính phủ lớn đã qua”. Xây dựng “Chính phủ nhỏ nhưng mạnh” đã trở thành nhu cầu tất yếu khách quan và có khả năng biến thành hiện thực nhờ áp dụng các thành tựu mới nhất của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ với mũi nhọn là công nghệ thông tin.
Ngay sau khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) xuất hiện ở Đức năm 2011, tháng 5-2012, Mỹ đã công bố “Chiến lược Chính phủ Số” (DGS) nhằm “xây dựng Chính phủ số trong thế kỷ XXI bảo đảm các dịch vụ số tốt hơn cho nhân dân”[4], trong đó có xây dựng thành phố thông minh mà Hoa Kỳ đang đi đầu. Năm 2014, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) lần đầu tiên đưa ra khuyến nghị về các chiến lược Chính phủ số. Khác với Chính phủ điện tử (E-Government) - sử dụng các công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), đặc biệt là Internet như một công cụ để đạt được hiệu quả quản lý tốt hơn, Chính phủ số (Digital Government) - sử dụng các công nghệ số, như một phần thiết yếu trong các chiến lược hiện đại hóa Chính phủ để tạo ra các giá trị công tốt nhất. Quá trình này dựa trên một hệ sinh thái Chính phủ số bao gồm các tác nhân liên quan đến Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và người dân, thúc đẩy sự tạo ra và truy cập dữ liệu, dịch vụ và nội dung thông qua sự tương tác đa chiều với Chính phủ.
Năm 2018 Liên hiệp quốc đã đưa ra một khung phương pháp luận mới để đánh giá Chính phủ điện tử của các nước, yêu cầu các nước phải có các ưu tiên về Chương trình chuyển đổi số (DA) và các nguyên tắc về Chính phủ số (DGP). Khung phương pháp luận mới gắn liền với các mục tiêu trong Chương trình 2030 của Liên hợp quốc về phát triển bền vững. Đồng thời, báo cáo này cũng đưa ra khái niệm khung Chính phủ số (DGF) bao quát các vấn đề và lĩnh vực khác nhau liên quan đến việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp. Tháng 3-2018, Bộ phận chịu trách nhiệm đánh giá và xuất bản báo cáo về Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc cũng được đổi tên từ Ban Quản trị công và Quản lý phát triển (DPADM) thành Ban Các tổ chức công và Chính phủ số (DPIDG), trong đó thành lập riêng một Nhóm phụ trách về Chính phủ số. Sự thay đổi tên gọi mới phản ánh sự sắp xếp, tái cơ cấu bộ phận chức năng này để phù hợp với Chương trình 2030 về phát triển bền vững. Sự thay đổi này nằm trong một kế hoạch cải tổ lớn hơn của Ủy ban các vấn đề kinh tế - xã hội của Liên hợp quốc (UNDESA) nhằm hỗ trợ tốt hơn các nước thành viên thực hiện Chương trình 2030 và các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs).
Theo Công ty tư vấn và nghiên cứu công nghệ Gartner (Mỹ), có 5 mức độ của sự trưởng thành của Chính phủ số (DGM), trong đó Chính phủ điện tử là mức độ đầu tiên, mức độ 2 là Phát triển mở (Developing Open), mức độ 3 được xác định là Dữ liệu làm trung tâm (Data - Centric), mức độ 4 là sự quản lý bằng số hóa hoàn toàn (Managed Fully Digital) và mức độ 5 là Tối ưu hóa thông minh (Optimizing Smart)[5]. Chính phủ số (mức độ 4 theo mô hình của Gartner), tập trung vào việc cải cách và chuyển đổi mô hình dựa trên thông tin trong đó các dịch vụ công được gắn kết chặt chẽ vào các tác vụ hằng ngày của công dân dựa trên nền tảng vạn vật kết nối (IoT) phục vụ cho việc tăng cường gắn kết giữa Chính phủ và người dân, được thực hiện trên nền tảng xử lý thông tin và hiệu quả được đánh giá bằng số lượng dịch vụ được tạo mới, loại bỏ hoặc thay thế bằng hình thức tốt hơn. Chính phủ số tập trung vào chia sẻ khai thác dữ liệu để phục vục người dùng tốt hơn, trong đó sẽ chủ động phục vụ công dân, doanh nghiệp theo nhu cầu của họ (từ một cửa thành không cửa), phục vụ công chức và nhà quản lý tốt hơn dựa trên kinh doanh thông minh (BI) và trí tuệ nhân tạo (AI).
Năm 2014, Vương quốc Anh đã tổ chức Hội nghị thượng đỉnh lần thứ nhất của nhóm “Chính phủ Số 5” (D5)[6]. Nhóm có 5 thành viên sáng lập gồm Anh, Hàn Quốc, Estonia, New Zealand và Israel. Nhóm các nước này được tổ chức như nhóm G7 và nhằm tăng cường phát triển kinh tế số. Điểm thống nhất của các thành viên D5 là nguyên tắc về tính mở - tập trung vào việc thay đổi thái độ các chính phủ của họ đối với công nghệ bằng việc áp dụng các tiêu chuẩn mở và phần mềm nguồn mở, cũng như làm cho Chính phủ số có hiệu quả hơn. Năm nước thành viên sáng lập đã ký một Điều lệ chung cam kết chia sẻ và cải thiện hoạt động của các nước thành viên trong các dịch vụ số và nền kinh tế số. Trong đó, họ tuyên bố mục tiêu chung là “khai thác sức mạnh toàn cầu tiềm năng của công nghệ số và giúp mỗi thành viên trở thành một Chính phủ số tốt hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn thông qua chia sẻ và học tập lẫn nhau”. Để đạt được điều này, họ có ý định xây dựng các kỹ năng số từ trong nội bộ và khuyến khích các hợp đồng ngắn hạn với các nhà cung cấp là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Từ năm 2018, nhóm đã được đổi tên thành “Chính phủ Số 7” (D7) do kết nạp thêm 2 thành viên mới là Canada và Uruguay. Các thành viên luôn tổ chức họp thường niên để tăng cường hiệu quả và tốc độ điều hành của Chính phủ số. Với các chương trình cải cách hành chính khác nhau, trong giai đoạn 40 năm (1979 - 2019), Anh đã giảm được 253.000 người trong hệ thống công vụ (từ 700.000 xuống còn 447.000)[7].
Ở Nhật Bản, báo cáo đánh giá Chính phủ điện tử nổi tiếng hằng năm của Đại học Waseda cũng đã thay đổi tên gọi từ năm 2017, thành bảng xếp hạng Chính phủ số quốc tế. Lý do của sự thay đổi này là nhu cầu chuyển đổi từ Chính phủ điện tử sang Chính phủ số do nội hàm của Chính phủ số bao quát nhiều hoạt động toàn diện hơn, trong đó, các chỉ tiêu về sáng tạo số và nền kinh tế số đều đóng vai trò then chốt đối với hóa giải những thách thức nhằm tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế. Tháng 1-2018, Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Kế hoạch hành động Chính phủ số 2018, với dự định số hóa mọi dịch vụ hành chính công để người dân, doanh nghiệp có thể thực hiện các thủ tục hành chính hoàn toàn qua Internet.
Tại Hàn Quốc, tháng 6-2016, một nhóm các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực Chính phủ điện tử, chính sách công và hành chính công đã công bố nghiên cứu với tiêu đề: “Tại sao là Chính phủ số mà không phải Chính phủ điện tử? Sự thay đổi mô hình kiểu mẫu của Chính phủ số ở Hàn Quốc”. Mục đích của nghiên cứu này là xây dựng một mô hình mới vượt lên trên mô hình Chính phủ điện tử ở Hàn Quốc, nơi vốn đã được xếp hạng đầu bảng trong báo cáo đánh giá Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc 3 kỳ liên tiếp (2010, 2012, 2014). Mặc dù những thành tựu của Chính phủ Hàn Quốc trong các sáng kiến thực thi Chính phủ điện tử là rất đáng kinh ngạc, nhưng những thay đổi nhanh chóng về bối cảnh công nghệ, kinh tế, xã hội, cũng như môi trường làm cho năng lực điều hành của Chính phủ Hàn Quốc hiện nay và trong tương lai gần chưa được bảo đảm chắc chắn với hiệu quả cao. Do đó, nhóm nghiên cứu về Chính phủ số của Hàn Quốc đã được thành lập dưới sự lãnh đạo của Nhóm quy hoạch Chính phủ điện tử, Ban Chính phủ điện tử, Cục Xã hội thông tin Quốc gia (NIA) - cơ quan thường trực về Chính phủ điện tử của Hàn Quốc. Nghiên cứu này đưa ra những kết quả và đề xuất nhằm thảo luận về mô hình tương lai của Chính phủ số. Đây là mô hình kiểu mới và sẽ dần thay thế cho mô hình Chính phủ điện tử, với tầm nhìn mới và các chiến lược đối phó với thách thức mới. Trong đó, mô hình Chính phủ số tập trung rất nhiều vào việc tạo ra và sử dụng dữ liệu trong thời đại xã hội số để hướng tới phát triển bền vững. Chiến lược hành động là chuyển đổi từ 3 chữ E của Chính phủ điện tử (Efficient work process - quy trình làm việc hiệu quả, Evolutionary strategy - chiến lược tiến hóa, Each silo service - dịch vụ đơn lẻ tách biệt) sang 3 chữ D của Chính phủ số (Desirable value creation - sáng tạo ra giá trị mong muốn, Disruptive innovation - đổi mới đột phá, Direct engagement service - dịch vụ tương tác trực tiếp).
Từ năm 2004, Trung Quốc bắt đầu nỗ lực xây dựng một Chính phủ điện tử - phục vụ. Nguyên Thủ tướng Ôn Gia Bảo nhấn mạnh: “Quản lý tức là phục vụ, chúng ta cần kiến tạo một chính phủ phục vụ, phục vụ thị trường, phục vụ xã hội và cuối cùng là phục vụ nhân dân”[8]. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính để Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vào năm 2010. Từ năm 2012, Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh xây dựng chính phủ điện tử, số hóa và thành phố thông minh. Trung Quốc đã được xếp hạng thứ 45 trong số 193 quốc gia trong khảo sát về chính phủ điện tử của Liên hợp quốc năm 2020, tăng 20 bậc so với năm 2018. Báo cáo kinh doanh của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2020 đã xếp hạng Trung Quốc đứng thứ 31 trên toàn cầu về mức độ dễ dàng kinh doanh, một sự cải thiện đáng kể so với xếp hạng 91 vào năm 2012.
Cơ cấu hành chính của các quốc gia được chia thành chính phủ Trung ương (liên bang) và chính quyền các địa phương (bang, tỉnh và thành phố). Cùng một chính phủ nhưng mỗi địa phương có điều kiện địa lý và khí hậu, cơ cấu dân số và cơ cấu kinh tế, lịch sử và văn hóa,... rất khác nhau. Nhưng dù là kiểu nào thì hiện nay, cùng với số hóa chính phủ, các địa phương ở các nước cũng đều tăng cường số hóa quản trị địa phương (local governance), trong đó xây dựng thành phố thông minh là một ưu tiên để thúc đẩy phát triển kinh tế số trong không gian toàn cầu hóa số.
Một số vấn đề và khuyến nghị
Thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, của Bộ Chính trị, về “Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, trong đó xác định phát triển chính phủ số là nhiệm vụ trọng tâm, Chính phủ đã thông qua Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025. Tháng 6-2022, Chính phủ đã phê duyệt Bộ chỉ số chỉ đạo, điều hành và đánh giá chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công theo thời gian thực trên môi trường điện tử. Đó là: 1- Công khai, minh bạch; 2- Tiến độ, kết quả giải quyết; 3- Số hóa hồ sơ; 4- Cung cấp dịch vụ trực tuyến; 5- Mức độ hài lòng. Đây là một bước tiến quan trọng trong khuôn khổ chính phủ điện tử. Để tạo ra hệ giá trị công tốt nhất nhằm thúc đẩy phát triển bền vững, từ xu thế và kinh nghiệm quốc tế về hiện đại hóa quản trị công, cũng như từ thực tiễn đất nước, có thể khuyến nghị thực hiện một số vấn đề sau:
Một là, bảo đảm chủ quyền kỹ thuật số với hàm ý là người dùng (công dân, doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước...) có quyền kiểm soát dữ liệu của họ.
Hiện nay, 90% dữ liệu của EU là do các doanh nghiệp của Mỹ quản lý. Trong số 10 công ty công nghệ lớn nhất thế giới, Mỹ chiếm 6, còn EU không có doanh nghiệp nào. Đây là một thách thức rất lớn đối với chủ quyền kỹ thuật số vì EU dễ bị rủi ro về an ninh mạng, dễ bị tổn thương về ưu đãi cùng khả năng chuyển đổi nhà cung cấp, cũng như việc truy cập bất hợp pháp vào dữ liệu từ các nước thứ ba.
Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng thay vì tìm cách xây dựng những “gã khổng lồ” công nghệ mới để tự chủ dữ liệu, EU nên phát triển hơn nữa các quy định và đầu tư để giảm thiểu sự phụ thuộc vào công nghệ ngoài Liên minh. Theo hướng này, EU đã đề xuất: (i) Lập một danh sách các quy định về kỹ thuật số của EU nhằm bảo vệ và trao quyền tự chủ cho người dùng; (ii) Thiết kế một “la bàn kỹ thuật số” với những mục tiêu chung nhằm giúp tiến trình số hóa thành công cùng một hệ thống giám sát để theo dõi các tiến triển. EU sẽ cố gắng giảm thiểu rủi ro liên quan đến việc các nước thứ ba sở hữu dữ liệu của EU bằng cách đặt ra một loạt mục tiêu cho năm 2030, qua đó giúp khối mua sắm các công nghệ xử lý dữ liệu thế hệ tiếp theo.
Việc chuyển đổi từ các mô hình cơ sở hạ tầng dựa trên đám mây tập trung sang các công nghệ điện toán nâng cao xử lý dữ liệu gần nguồn hơn phải được tăng cường đầu tư và phát triển. EC dự định vào năm 2030 sẽ triển khai 10.000 “nút biên” được bảo đảm an toàn cao và trung lập với kế hoạch khí hậu sẽ được triển khai trên toàn EU, nhằm bảo đảm quyền truy cập vào các dịch vụ dữ liệu với độ trễ thấp (chỉ vài mili giây) và không phụ thuộc vào vị trí của các công ty. Đồng thời, về công nghệ phải đạt được kết nối tốc độ cao (Gigabit) vào năm 2030 với việc tập trung vào triển khai các công nghệ di động và cố định, bao gồm 5G và 6G. Mục tiêu cụ thể là tất cả các hộ gia đình của EU được phủ sóng mạng Gigabit và tất cả các khu vực đông dân cư sẽ được phủ sóng 5G vào năm 2030. EU mong muốn tăng cường sự tham gia quốc tế vào các mục tiêu kết nối của Liên minh, trong đó chú trọng các sáng kiến của các đối tác Ấn Độ, ASEAN, Mỹ La - tinh và Caribe. Để tự chủ công nghệ, EU đặt mục tiêu vào năm 2030, việc sản xuất các thiết bị bán dẫn tiên tiến và bền vững của Liên minh, bao gồm các bộ vi xử lý (chip cao cấp), sẽ chiếm ít nhất 20% giá trị sản lượng trên toàn thế giới. Trên cơ sở kinh nghiệm của EU và các nước khác, Việt Nam cần sớm nghiên cứu để hoạch định chiến lược bảo vệ chủ quyền kỹ thuật số tới 2030 tầm nhìn 2050.
Hai là, chính phủ số công bộc và phát triển bền vững. Trong thiết kế nhà nước kiểu mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân”[9]. Quan điểm này của Người là kim chỉ nam cho xây dựng chính phủ số ở Việt Nam hiện nay theo mục tiêu là phục vụ nhân dân tốt nhất và hiệu quả nhất với thước đo cuối cùng là nhân dân có hài lòng và hạnh phúc hay không. Do đó, chính phủ số ở Việt Nam trước hết phải là chính phủ số công bộc.
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định có ba loại giặc theo thứ thự: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, đồng thời Người khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[10]và nêu chủ trương “Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc”. Vì vậy, học tập làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chính phủ số mà Việt Nam đang hướng tới xây dựng phải là chính phủ số công bộc và thúc đẩy phát triển bền vững. Đại dịch COVID-19 và cuộc chiến ở Ucraina có thể làm ngưng trệ các chuỗi cung nói chung và chuỗi cung về năng lượng cùng lương thực nói riêng, gây ảnh hưởng tới an ninh quốc gia.
Vì vậy, cần nghiên cứu mở rộng nội hàm của phát triển bền vững. Nó không chỉ bảo đảm sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn môi trường tự nhiên trong lành và thực thi công bằng xã hội, mà còn phải duy trì được sự cân đối cần thiết giữa công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong đó có sản xuất lương thực, thực phẩm và cung ứng năng lượng cho sản xuất và đời sống của nhân dân. Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp dầu khí và công nghiệp dược phẩm, đồng thời còn có thể phấn đấu trở thành cường quốc nông nghiệp hữu cơ an toàn và trung tâm quốc tế về vận tải tàu biển container. Đó cũng là những mục tiêu phát triển bền vững mà chính phủ số cần hướng tới.
Xây dựng chính phủ số công bộc và phát triển bền vững đòi hỏi trước hết phải có đội ngũ công chức “3C”: chuyên nghiệp, công bộc và công nghệ số với các yêu cầu khác nhau theo phương châm “Thà ít mà tốt” của Lê-nin. Cần tiếp tục đổi mới cách thi tuyển công chức ở Việt Nam hiện nay để tuyển được nhân tài tinh hoa đích thực. Ở Anh và một số nước phát triển khác, truyền thông xã hội như các mạng Sky, Twister,... được coi là phương tiện hiệu quả nhất để ứng dụng các kỹ thuật tuyển dụng hướng tới thế hệ trẻ, thế hệ chủ chốt trong lực lượng lao động toàn cầu, từ 19 đến 37 tuổi. Qua tương tác mạng, nhà quản lý nhân sự nắm được bao nhiêu người đang quan tâm đến một công việc nào đó để phỏng vấn, sàng lọc, tuyển dụng, mà không cần gửi các bản khảo sát, tốn nhiều giấy tờ với phương châm đúng người, đúng việc, đúng năng lực, đúng thời điểm, đúng địa điểm, đúng chi phí.
Ba là, cải cách quản trị địa phương theo tinh thần doanh nghiệp: “suy nghĩ tầm toàn cầu, nhưng hành động ngay trên địa phương” (think globaly, act localy). Hiện đại hóa quản trị địa phương trong đó có số hóa hành chính công trước hết phải hướng tới phục vụ doanh nghiệp địa phương nâng cao sức cạnh tranh sáng tạo giá trị mới trên cả ba thị trường: quốc gia, khu vực và thế giới. Kinh nghiệm đưa vải thiều Bắc Giang tới các thị trường Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,... có ý nghĩa chung về hội nhập kinh tế quốc tế cho nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Đó cũng là tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả và hiệu suất của hiện đại hóa quản trị địa phương phục vụ phát triển bền vững trong thế giới toàn cầu hóa số. Đồng thời, ngoài xây dựng đô thị thông minh, còn có thể tính tới xây dựng mô hình nông thôn số hóa nhằm thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn với đô thị và bảo đảm công bằng xã hội cho khu vực dân cư đông đảo có nhiều đóng góp nhất trong hai cuộc kháng chiến giành độc lập và thống nhất đất nước.
Bốn là, đối với Quảng Ninh - tỉnh có nhiều lợi thế phát triển thuận lợi và cũng có một số trở ngại và khó khăn khác biệt so với các tỉnh thành trong cả nước do điều kiện kinh tế - tự nhiên và có đường biên giới giáp Trung Quốc, để đạt mục tiêu năm 2025 cơ bản chuyển đổi số toàn diện và định hướng tới 2030, cần tiếp tục thúc đẩy xây dựng “bộ ba”: chính quyền số, kinh tế số và xã hội số theo một lộ trình được thiết kế có mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn, trong đó cần ưu tiên giải quyết một số vấn đề sau:
1- Rà soát và đánh giá lại toàn bộ hệ thống hạ tầng số của tỉnh để có kế hoạch nâng cấp hoàn thiện hệ thống này đáp ứng yêu cầu phát triển mới tới 2025 tầm nhìn 2030 và sau đó trong thời đại AI và toàn cầu hóa số, trong đó chú ý tới các phương án đối phó với các tình huống có sự cố về các tuyến cáp quang ở đáy biển.
2- Nâng cấp và hoàn thiện Trung tâm Điều hành thông minh tỉnh đã hoạt động từ tháng 8-2019 theo hướng hiện đại, tích hợp 3 cấp độ: Tỉnh - Quốc gia - Quốc tế, an ninh, tiện lợi và hiệu quả tối ưu.
3- Hoàn thiện mô hình đô thị và nông thôn thông minh theo tiêu chuẩn quốc gia và tham khảo kinh nghiệm quốc tế để có thể từng bước nâng cao tầm ảnh hưởng và sức cạnh tranh thu hút FDI và khách du lịch, chú ý tới tiêu chí “3D” của Hàn Quốc (Desirable value creation - sáng tạo ra giá trị mong muốn, Disruptive innovation - đổi mới đột phá, Direct engagement service - dịch vụ tương tác trực tiếp).
4- Tập trung tạo đột phá về đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng và sớm nghiên cứu để ban hành chính sách thu hút nhân tài “3C” theo tiêu chí cụ thể từng vị trí công tác và làm việc trong các cấp, sở, ngành và đơn vị, doanh nghiệp khác nhau.
5- Nghiên cứu để sớm ban hành chính sách ưu đãi khuyến khích thúc đẩy khởi nghiệp và phát triển các doanh nghiệp kinh tế số, đẩy mạnh hợp tác quốc tế song phương và đa phương nhằm tái cơ cấu kinh tế tỉnh đạt mục tiêu phát triển kinh tế số đã đặt ra vào năm 2025 tầm nhìn đến năm 2030 và sau đó.
6- Đánh giá tác động môi trường và kinh tế của kênh đào Bình Lục mà Trung Quốc đang xây dựng sẽ hoàn thành vào năm 2026 (cửa ra ở Vịnh Bắc Bộ cách thành phố Móng Cái khoảng 100 km), cũng như tác động môi trường của việc xả nước thải hạt nhân Nhật Bản...
7- Xây dựng lộ trình cụ thể về xã hội số, chú ý hai nội dung cơ bản là các mục tiêu về công dân số và văn hóa số nhằm từng bước tạo ra hệ giá trị hấp dẫn khách du lịch và sức cạnh tranh vượt trội./.
[1] Trương Thành Phúc: “Quản trị công và việc thực hiện lợi ích công”, Tạp chí điện tử Lý luận Chính trị, ngày 22-5-2014.
[2] Quốc Đạt: “Nền hành chính công Nhật Bản: Cải cách hành chính - Tự chủ là chìa khóa”, Tạp chí điện tử Tổ chức nhà nước, ngày 27-12-2017.
[3] David Osborne & Ted Gaebler: “Reinventing Government: How the Entrepreneurial Spirit is Transforming” (Tạm dịch: Tái tạo Chính phủ: Tinh thần khởi nghiệp đang biến đổi như thế nào?), the Public Sector, Plume, 1993.
[4] Digital Government Strategy, https://www.state.gov.
[5] Xem: 5 Levels of Digital Government Maturity (Tạm dịch: 5 cấp độ trưởng thành của Chính phủ số), November 06/2017, gartner.com.
[6] The D5 Group of Advanced Digital Nations (Tạm dịch: Nhóm D5 của các quốc gia kỹ thuật số tiên tiến), https://www.digital.govt.nz/dmsdocument/12-d5-charter/html.
[7] Phạm Đức Toàn: “Kinh nghiệm quản lý nguồn nhân lực trong nền công vụ Vương quốc Anh”, Cổng Thông tin điện tử Bộ Nội vụ, ngày 15-1-2020.
[8] Phạm Đi: “Mô hình Chính phủ phục vụ của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam về xây dựng Chính phủ kiến tạo, vì nhân dân phục vụ”, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, https://vass.gov.vn, ngày 6-5-2021.
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 64 - 65.
[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 64.
