Xây dựng mô hình chuyển đổi kinh tế xanh ở tỉnh Quảng Ninh: Một nghiên cứu ở góc độ lý thuyết

TS. Đỗ Tất Cường 18/12/2025 17:02

1. Mở đầu

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng nghiêm trọng, việc giảm phát thải khí nhà kính đã trở thành một trong những thách thức cấp bách nhất đối với nhân loại. Theo Báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC, 2022), các quốc gia cần thực hiện những chuyển đổi cấu trúc sâu sắc trong sản xuất và tiêu dùng để hạn chế sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu dưới mức 1,5°C. 

Chuyển đổi kinh tế xanh (green transition) không chỉ là việc áp dụng các công nghệ sạch mà còn đòi hỏi sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng, giá trị xã hội và cơ chế chính sách. Ở cấp độ quốc gia và địa phương, quá trình này thường gặp phải sự tương tác phức tạp giữa thất bại thị trường (market failures) và thất bại chính phủ (government failures), dẫn đến tình trạng trì trệ hoặc chuyển đổi chậm chạp, ngay cả khi lợi ích xã hội rõ ràng.

Tại Việt Nam, một quốc gia đang phát triển với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng phụ thuộc lớn vào năng lượng hóa thạch, chuyển đổi kinh tế xanh được coi là yếu tố then chốt để đạt được các cam kết quốc tế như Thỏa thuận Paris (năm 2015) và Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia (Quyết định 1393/QĐ-TTg, ngày 25-9-2012). 

Tỉnh Quảng Ninh, với vị trí địa lý đặc thù ở vùng Đông Bắc Việt Nam, đại diện cho một trường hợp điển hình của sự xung đột giữa phát triển kinh tế truyền thống và nhu cầu bền vững. Là trung tâm khai thác than lớn nhất cả nước, Quảng Ninh đóng góp khoảng 80% sản lượng than quốc gia, nhưng ngành công nghiệp này cũng gây ra ô nhiễm không khí nghiêm trọng, suy thoái tài nguyên và rủi ro sức khỏe cộng đồng (theo Báo cáo Phát triển bền vững tỉnh Quảng Ninh năm 2022). 

Đồng thời, tỉnh sở hữu tiềm năng lớn về du lịch sinh thái (với Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới) và năng lượng tái tạo (gió ngoài khơi và mặt trời), tạo cơ sở cho một mô hình chuyển đổi xanh. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu địa phương, sự chuyển đổi này đang bị cản trở bởi giá trị tiêu dùng truyền thống với việc ưu tiên hàng hóa rẻ tiền từ than đá, thiếu cam kết chính sách dài hạn do chu kỳ bầu cử địa phương và sự tương tác giữa các bên liên quan như doanh nghiệp khai thác, hộ gia đình và chính quyền tỉnh.

Nghiên cứu này nhằm xây dựng một mô hình lý thuyết về chuyển đổi kinh tế xanh tại Quảng Ninh, dựa trên khung phân tích động học của Besley và Persson (năm 2023) trong bài báo “The Political Economics of Green Transitions” đăng trên Quarterly Journal of Economics. Khung lý thuyết này khác biệt so với cách tiếp cận truyền thống trong kinh tế học môi trường, vốn chủ yếu dựa trên các công cụ ngoại sinh như thuế carbon và giả định một nhà hoạch định xã hội toàn năng có khả năng cam kết chính sách tương lai. Thay vào đó, Besley và Persson nhấn mạnh vai trò của sự thay đổi nội sinh trong giá trị xã hội và công nghệ, tạo ra sự bổ sung động học giữa tiêu dùng xanh và sản xuất xanh. Họ cũng tích hợp yếu tố chính trị, nơi các nhà hoạch định chính sách bị ràng buộc bởi bầu cử và thiếu cam kết, dẫn đến sự thất bại kép giữa thị trường và chính phủ.

Mục tiêu chính của nghiên cứu là đề xuất một mô hình lý thuyết điều chỉnh từ Besley và Persson, áp dụng vào đặc thù kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh. Cụ thể, phần 2 sẽ trình bày chi tiết mô hình chuyển đổi kinh tế xanh theo khung lý thuyết gốc, bao gồm các giả định cốt lõi, động học giá trị và công nghệ cũng như vai trò của chính sách Pigouvian trong bối cảnh thiếu cam kết. Phần 3 sẽ đề xuất mô hình cụ thể cho tỉnh Quảng Ninh, xác định các biến số địa phương (như tỷ lệ hộ gia đình xanh μ và tỷ lệ doanh nghiệp xanh γ), phân tích các thất bại tiềm ẩn và gợi ý các công cụ chính sách, như thuế carbon địa phương và trợ cấp công nghệ tái tạo. Phần 4 sẽ là hàm ý chính sách, tập trung vào các khuyến nghị khả thi cho chính quyền tỉnh, dựa trên các mục tiêu quốc gia và địa phương đến năm 2025 - 2030.

Về phương pháp, nghiên cứu mang tính lý thuyết thuần túy, dựa trên phân tích mô hình toán học để khám phá các cơ chế động học. Điều này phù hợp với mục tiêu “góc độ lý thuyết” nêu trong tiêu đề, tránh các phân tích thực nghiệm do hạn chế dữ liệu địa phương. Tuy nhiên, mô hình có thể được mở rộng trong các nghiên cứu tương lai bằng cách hiệu chuẩn với dữ liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam hoặc khảo sát giá trị xanh tại Quảng Ninh. Tổng thể, nghiên cứu cung cấp một khung phân tích tích hợp chính trị - kinh tế, giúp các nhà hoạch định chính sách tỉnh Quảng Ninh vượt qua các rào cản trong chuyển đổi xanh.

2. Mô hình chuyển đổi kinh tế xanh

Mô hình chuyển đổi kinh tế xanh được xây dựng dựa trên khung Besley và Persson (năm 2023), tập trung vào sự tương tác động học giữa giá trị xã hội và công nghệ trong một nền kinh tế mở với các thất bại thị trường và chính phủ. Khung này phân biệt với cách tiếp cận Pigouvian truyền thống bằng cách nhấn mạnh rằng chuyển đổi xanh không chỉ dựa vào giá cả ngoại sinh mà còn qua sự thay đổi nội sinh của giá trị, tạo ra sự bổ sung hai chiều giữa hộ gia đình và doanh nghiệp. Đồng thời, mô hình tích hợp yếu tố chính trị, nơi các nhà hoạch định bị ràng buộc bởi tư duy nhiệm kỳ, dẫn đến thiếu cam kết tương lai và chính sách mang tính ngắn hạn. Phần này sẽ trình bày chi tiết các thành phần cơ bản trong mô hình tĩnh, động học và mở rộng với chính sách.

Trước hết, hãy xem xét các giả định cốt lõi. Mô hình diễn ra trong một nền kinh tế vô hạn thời gian rời rạc, với thời gian được đánh chỉ số bởi s. Mỗi cá nhân (hộ gia đình) có nội sinh ngoại sinh I của hàng hóa tiêu dùng cơ bản, có thể chuyển đổi thành một liên tục các loại hàng hóa với khối lượng 1, được đánh chỉ số bởi i ∈ [0, 1]. Mỗi loại hàng hóa i có thể được sản xuất theo hai cách: “xanh” (không ô nhiễm) hoặc “nâu” (gây ô nhiễm). Các doanh nghiệp được đánh chỉ số i ∈ [0, γ] là xanh và i ∈ [γ, 1] là nâu, với γ ≤ ¯γ < 1, trong đó ¯γ đại diện cho biên giới công nghệ xanh. 

Tỷ lệ doanh nghiệp xanh γ thay đổi theo thời gian do quyết định áp dụng công nghệ hướng tới tương lai của doanh nghiệp. Một đơn vị khối lượng cá nhân có thể giữ một trong hai bản sắc θ ∈ {0, 1}, trong đó θ = 1 chỉ bản sắc xanh và θ = 0 chỉ bản sắc nâu, với μ là tỷ lệ cá nhân xanh. Thời gian trong mỗi kỳ được chia thành bốn giai đoạn: (i) Kế thừa tỷ lệ cá nhân xanh μ và doanh nghiệp xanh γ từ kỳ trước; (ii) Quyết định định giá, sản xuất và tiêu dùng; (iii) Chuyển đổi công nghệ giữa các doanh nghiệp xác định γ'; (iv) Chuyển đổi giá trị giữa cá nhân xác định μ'. Các ký hiệu rút gọn được sử dụng: z cho zs và z' cho zs+1 khi không gây nhầm lẫn.

Bây giờ, chuyển sang mô hình tĩnh, bao gồm sở thích và nhu cầu của người tiêu dùng, cùng với quyết định định giá và sản xuất của nhà sản xuất. Sở thích của người tiêu dùng được cho bởi hàm tiện ích:


trong đó σ < 1 điều chỉnh độ co giãn thay thế giữa các loại hàng hóa, tham số g > 0 chỉ số sự dịch chuyển sở thích của người tiêu dùng xanh từ hàng hóa nâu Y sang hàng hóa xanh y. Tiêu dùng numeraire được ký hiệu bởi x. Thiệt hại ô nhiễm tỷ lệ với Y (tổng tiêu dùng/sản xuất của tất cả hàng hóa nâu), ảnh hưởng đồng đều đến cả hai nhóm, với λ > 0. Ràng buộc ngân sách chung là:


trong đó R là thu nhập kết hợp (bằng nhau cho tất cả người tiêu dùng) từ nội sinh numeraire và lợi nhuận. Nhu cầu cá nhân, theo loại θ ∈ {0, 1}, cho mỗi loại i theo từ các biểu thức (1) và (2). Tổng hợp các nhu cầu này qua các loại, nhu cầu tổng hợp cho hàng hóa xanh y là:


và cho hàng hóa nâu Y là:

trong đó p và P là giá trung bình của hàng hóa xanh và nâu, giả sử cạnh tranh hoàn hảo. Các doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận bằng cách đặt giá bằng chi phí biên, với chi phí sản xuất xanh cg và nâu cb, dẫn đến lợi nhuận πg= (p - cg) y và πb = (P - cb) Y.

Chuyển sang mô hình động, quyết định chuyển đổi công nghệ và giá trị tạo ra sự bổ sung hai chiều. Đối với chuyển đổi công nghệ, doanh nghiệp i quyết định chuyển sang xanh nếu giá trị hiện tại của lợi nhuận xanh vượt trội hơn nâu:

trong đó β là yếu tố chiết khấu. Giả sử đồng nhất kỳ vọng, chuyển đổi xảy ra nếu:

với δglà tốc độ áp dụng công nghệ xanh, phản ánh lợi nhuận tăng khi tỷ lệ người tiêu dùng xanh μ cao hơn. Tương tự, chuyển đổi giá trị của cá nhân phản ánh đánh giá hướng tới tương lai về sự khác biệt tiện ích giữa người tiêu dùng xanh và nâu:

với δμlà tốc độ xã hội hóa. Sự khác biệt tiện ích E[U|θ=1] - E[U|θ=0] = gσ(y - Y) - λY, cho thấy giá trị xanh hấp dẫn hơn khi sản xuất xanh phổ biến (γ cao), tạo ra sự bổ sung động học. Trong trạng thái ổn định không có can thiệp chính sách, mô hình có thể hội tụ đến một điểm cân bằng Pareto kém hiệu quả, nơi μ và γ thấp, tạo “bẫy xanh” do tương tác tiêu cực ban đầu (Besley & Persson, 2023). Theo đó, đạo hàm bậc nhất của U trong phương trình (1) là:

Để khắc phục thất bại thị trường, Besley và Persson (2023) giới thiệu chính sách Pigouvian cổ điển: thuế trên hàng hóa nâu τb và trợ cấp trên hàng hóa xanh τg. Trong mỗi kỳ, các mức thuế này được đặt bởi các định hướng ưu tiên chính sách, dựa trên ưu tiên mô hình tăng trưởng “xanh” hoặc “nâu”. Giả sử lựa chọn bằng phương thức bỏ phiếu xác suất (Lindbeck & Weibull, 1987), nền tảng tối ưu hóa xác suất của phương án ưu tiên bằng cách cân bằng sở thích:

trong đó vgvà vb là hàm lựa chọn của phương án tăng trưởng “xanh” và “nâu”, với vg = ∂U/∂τb > 0 (do giảm Y) và vb< 0. Kết quả là τb* = λ / (1 + η), với η là độ co giãn cho sự lựa chọn, thấp hơn mức Pigouvian lý tưởng λ do áp lực từ việc lựa chọn phương án tăng trưởng “nâu”; tương tự cho τg. Chính sách ảnh hưởng đến động học bằng cách thay đổi p = cg - τg và P = cb + τb, thúc đẩy μ' và γ'. Tuy nhiên, thiếu cam kết dẫn đến thời gian không nhất quán (time inconsistency): các nhà hoạch định hiện tại muốn đặt τ cao để thúc đẩy chuyển đổi, nhưng kỳ vọng về τ thấp tương lai làm giảm động lực áp dụng ngay lập tức.

Trong phần mở rộng, Besley và Persson xem xét giá trị đạo đức (moral values), nơi người tiêu dùng xanh có lo ngại đạo đức cho môi trường, tăng thuế hiệu quả qua bỏ phiếu. Họ cũng tích hợp quá trình tham gia vào tiến trình hoạch định chính sách thông qua các kênh tham gia từ hiệp hội, tổ chức chính trị - xã hội và các cuộc đối thoại chính sách giữa doanh nghiệp với các nhà hoạch định chính sách, điều chỉnh nền tảng chính sách theo hướng xanh hơn nếu μ cao. Cuối cùng, mô hình xử lý ngoại ứng tồn kho bằng cách tích lũy ô nhiễm S' = (1 - δ)S + Y, với δ là tốc độ suy giảm tự nhiên, dẫn đến chính sách chiến lược nơi chính sách hiện tại ảnh hưởng đến trạng thái tương lai.

Tổng thể, mô hình Besley và Persson minh họa rằng chuyển đổi xanh đòi hỏi sự phối hợp giữa giá trị nội sinh, công nghệ và chính sách, nhưng thất bại kép có thể ngăn cản nó. Điều này đặt nền tảng cho ứng dụng địa phương ở phần tiếp theo.

3. Đề xuất mô hình chuyển đổi kinh tế xanh ở tỉnh Quảng Ninh dưới góc độ lý thuyết

Áp dụng khung lý thuyết của Besley và Persson vào tỉnh Quảng Ninh đòi hỏi điều chỉnh các tham số để phản ánh đặc thù địa phương: kinh tế phụ thuộc than (ngành “nâu” chiếm tỷ trọng xấp xỉ 40% GRDP tỉnh năm 2023), tiềm năng du lịch xanh và năng lượng tái tạo và bối cảnh chính trị với Hội đồng nhân dân tỉnh bầu cử 5 năm/lần. Mô hình đề xuất xác định hàng hóa nâu Y là than và sản phẩm liên quan (chiếm 70% xuất khẩu), hàng hóa xanh y là năng lượng gió/mặt trời và dịch vụ du lịch sinh thái. Tỷ lệ hộ gia đình xanh μ ban đầu ước tính 0.3 dựa trên khảo sát giá trị môi trường tại tỉnh Quảng Ninh (năm 2021), phản ánh giá trị truyền thống ưu tiên việc làm than. 

Tỷ lệ doanh nghiệp xanh γ ban đầu 0.2, với ¯γ = 0.8 do biên giới công nghệ (dự án gió ngoài khơi Vân Đồn). Tham số g = 0.5 đo lường sự dịch chuyển sở thích xanh, λ = 0.1 đại diện thiệt hại ô nhiễm (ước tính từ chi phí y tế do bụi than). Chi phí cb = 1 (than rẻ), cg = 1.5 (tái tạo đắt hơn ban đầu), σ = 0.5 (độ co giãn thấp do thói quen tiêu dùng). Để làm sâu sắc hơn, chúng ta mở rộng phân tích bằng cách tích hợp ngoại ứng tồn kho và chi phí áp dụng học tập theo làm (learning-by-doing), phù hợp với bối cảnh tỉnh Quảng Ninh, nơi ô nhiễm bụi than tích lũy và công nghệ gió giảm chi phí theo quy mô.

Trong mô hình tĩnh ở cấp địa phương, hàm hữu ích được giữ nguyên như (1), nhưng R = 73.34 triệu VND/người/năm (vào năm 2023)[1] được sử dụng nhất quán để tính nhu cầu, với Y đại diện tiêu dùng than hộ gia đình/doanh nghiệp. Với p = 1.5 và P = 1 (không thuế ban đầu), nhu cầu tổng hợp y ≈ 89.82 triệu VND (từ (μ(1+0.5)0.5×R)/(γ×p) ≈ 0.3674 × 73.34 / 0.3 ≈ 89.82), và Y ≈ 77.44 triệu VND (từ [1 - 0.3674 + 0.3 × 0.7071] R / (0.8 × 1) ≈ 0.8447 × 73.34 / 0.8 ≈ 77.44). Những con số này có ý nghĩa đơn giản như sau: Ví dụ, mỗi người dân Quảng Ninh có khoảng 73.34 triệu VND thu nhập hằng năm để chi tiêu cho các loại hàng hóa. Với tình hình hiện tại (chỉ 30% dân số ưa thích xanh và 20% doanh nghiệp sản xuất xanh), họ sẽ chi khoảng 89.82 triệu VND cho các sản phẩm xanh, như điện gió hoặc tour du lịch sinh thái vịnh Hạ Long - một con số cao hơn một chút so với mức chi cho than và sản phẩm nâu (77.44 triệu VND), vì nhóm nhỏ những người ủng hộ xanh đang cố gắng bù đắp bằng cách chi tiêu nhiều hơn. 

Tuy nhiên, tổng thể, chi tiêu cho nâu vẫn chiếm ưu thế vì đa số dân số chưa quen với xanh và mức thu nhập trung bình khiến mọi người ưu tiên những thứ rẻ tiền hơn. Chính sách địa phương, như Nghị quyết 05-NQ/TU (2021) về kinh tế xanh có thể đặt τb= 10% giá than, τg = 20% trợ cấp năng lượng tái tạo, nhưng mức thực tế thấp hơn và R thấp làm tăng độ nhạy cảm của nhu cầu với thay đổi giá. Để phân tích sâu, xem xét ngoại ứng tồn kho: ô nhiễm S' = (1 - δ) S + Y, với δ = 0.05 (tốc độ suy giảm bụi than chậm), dẫn đến tiện ích điều chỉnh U = U - κ S, κ = 0.05 (lo ngại đạo đức). Điều này làm tăng λ hiệu quả lên 0.15, thúc đẩy nhu cầu y cao hơn 12% khi S > 100 (mức ô nhiễm trung bình tỉnh Quảng Ninh năm 2024), với tác động nhân lên từ R = 73.34 triệu VND làm giảm Y khoảng 15% so với ước tính lý thuyết chung, nhấn mạnh nhu cầu trợ cấp để duy trì tiện ích, nghĩa là ô nhiễm tích tụ như bụi than đọng lại lâu dài, khiến mọi người cảm thấy “mệt mỏi” hơn với than, nhưng thu nhập hạn chế khiến họ chưa sẵn sàng chuyển hẳn sang xanh.

Động học được điều chỉnh để phù hợp với tốc độ chuyển đổi chậm ở tỉnh Quảng Ninh: δg= 0.05 (áp dụng công nghệ chậm do quy định đất đai), δμ = 0.02 (xã hội hóa chậm do giáo dục môi trường hạn chế), với R nhất quán ảnh hưởng đến lợi nhuận và sự khác biệt tiện ích. Chuyển đổi công nghệ, tích hợp học tập dựa trên làm việc cg' = cg(1-αγ), α = 0.1:


tăng dần nếu μ tăng qua chiến dịch truyền thông như Giờ Trái đất năm 2025; R thấp làm lợi nhuận πg phụ thuộc hơn vào trợ cấp để đạt ngưỡng chuyển đổi. Ý nghĩa của con số 0.29 ở đây rất dễ hình dung: Hiện tại, chỉ 20% doanh nghiệp ở tỉnh Quảng Ninh (như các nhà máy than) đang sử dụng công nghệ xanh. Với tình hình hiện nay, tỷ lệ này sẽ tăng lên khoảng 29% vào thời gian tới - tức là thêm khoảng 9% doanh nghiệp chuyển sang công nghệ xanh, ví dụ như lắp pin mặt trời hoặc chuyển sang sản xuất du lịch xanh. Đó là một bước tiến nhỏ nhưng quan trọng, giống như việc một lớp học có 20% học sinh tham gia câu lạc bộ môi trường và nhờ sự lan tỏa từ những người đó, năm sau tăng lên 29% (nhưng vẫn chưa đủ để thay đổi toàn bộ lớp). Chuyển đổi giá trị, với yếu tố đạo đức và S = 100:

Với kỳ vọng y tăng nhờ du lịch xanh (Vịnh Hạ Long thu hút 7 triệu lượt khách/năm, 50% xanh hóa), nhưng

âm do R hạn chế làm chậm μ', nhấn mạnh vai trò chính sách trong việc nâng cao sự khác biệt độ thỏa dụng của người tiêu dùng. Hãy nghĩ đơn giản về con số 0.14 này như sau: Ban đầu, 30% người dân Quảng Ninh (khoảng 300.000 người trong tổng dân số 1 triệu) quan tâm đến lối sống xanh, như chọn điện sạch thay than. 

Nhưng tính toán cho thấy, con số này có thể giảm xuống còn 14% vào năm sau - một dấu hiệu cảnh báo! Bởi vì lợi ích từ sản phẩm xanh (như tiết kiệm sức khỏe từ không khí sạch) chưa đủ lớn để bù đắp chi phí cao hơn so với ô nhiễm hiện tại và thu nhập trung bình chỉ 73 triệu VND/năm. Tuy nhiên, mô hình dự báo “bẫy xanh” nếu μ < 0.4: γ ổn định ở 0.3, Y cao dẫn đến S tăng 20%/năm, giảm độ hữu ích dài hạn 18% (Besley & Persson, 2023 áp dụng, hiệu chuẩn với dữ liệu tỉnh Quảng Ninh 2024 và R = 73.34 triệu VND). 

Phân tích độ nhạy cho thấy nếu η = 0.3 (áp lực chính trị từ việc ưu tiên công nghệ nâu), τb* giảm 25%, trì hoãn γ' lên 0.22, đặc biệt khi R = 73.34 triệu VND làm lợi nhuận πg nhạy cảm hơn với τg, yêu cầu trợ cấp tối thiểu 20% R để kích hoạt chuyển đổi, nghĩa là nếu các caapsp chính quyền ưu tiên việc làm than, sự chuyển đổi công nghệ chỉ tăng lên 22% và lợi nhuận từ xanh khó dương nếu không có hỗ trợ tài chính lớn, như một khoản tiền tương đương 14.7 triệu VND/người để khuyến khích doanh nghiệp thử nghiệm.

Mô hình đề xuất dự báo: Với chính sách nhất quán, μ đạt 0.7 và γ = 0.6 sau 20 năm, tăng GDP xanh 25% (từ du lịch 20 triệu lượt khách/năm và gió), giảm phát thải 40% (dựa trên hiệu chuẩn Besley & Persson, 2023; kế hoạch của tỉnh 2025 - 2030, điều chỉnh với R = 73.34 triệu VND làm tăng số trợ cấp trong ràng buộc ngân sách). 

Những dự báo này sẽ dễ hình dung hơn khi ta xem xét tình huống sau đây: Sau 20 năm, 70% dân số (700.000 người) sẽ sống “xanh” hơn và 60% doanh nghiệp chuyển sang công nghệ sạch, dẫn đến GRDP từ du lịch và năng lượng tái tạo tăng 25%, đủ để bù đắp mất mát từ than và giảm 40% khí thải, nghĩa là không khí sạch hơn, ít bệnh hô hấp hơn cho hàng triệu người. Nhưng để đạt được, cần trợ cấp chiếm 15% thu nhập để giữ cân bằng ngân sách gia đình. 

Rủi ro: thiếu cam kết do ưu tiên chính sách của năm 2026 có thể đảo ngược τb, đòi hỏi cơ chế ràng buộc như việc ban hành khung thể chế về chuyển đổi xanh. Phân tích ổn định cho thấy ngưỡng điểm tới hạn là μ = 0.45, nơi bổ sung động lực học đưa hệ thống chuyển sang trạng thái xanh, phù hợp với mục tiêu kinh tế tuần hoàn đến 2030. Tổng thể, khung này cung cấp nền tảng lý thuyết sâu sắc, nhấn mạnh phối hợp giá trị - công nghệ - chính trị để đạt chuyển đổi bền vững tại tỉnh Quảng Ninh, với R = 73.34 triệu VND được tích hợp nhất quán để phản ánh ràng buộc tài chính thực tế và tăng cường khuyến nghị hỗ trợ thu nhập.

4. Hàm ý chính sách đối với tỉnh Quảng Ninh

Dựa trên mô hình lý thuyết đề xuất ở phần 3, các hàm ý chính sách cho tỉnh Quảng Ninh tập trung vào việc khắc phục thất bại kép giữa thị trường và các cấp chính quyền, đồng thời tận dụng các cơ hội địa phương như tiềm năng năng lượng tái tạo và du lịch sinh thái. Besley và Persson (2023) nhấn mạnh rằng chính sách không chỉ là công cụ ngoại sinh mà còn phải thúc đẩy sự thay đổi nội sinh trong giá trị và công nghệ, đặc biệt trong bối cảnh thiếu cam kết do chu kỳ bầu cử địa phương. 

Tại tỉnh Quảng Ninh, với chiến lược chuyển đổi xanh là trọng tâm trong nhiệm kỳ 2025 - 2030, các khuyến nghị sau đây được xây dựng để hỗ trợ động học μ' và γ', hướng tới mục tiêu 87.5% lao động được đào tạo xanh đến năm 2025 và toàn bộ khu công nghiệp (KCN) đạt chuẩn xanh đến 2030. Với R = 73.34 triệu VND/người/năm được tích hợp nhất quán, chính sách cần ưu tiên hỗ trợ thu nhập để tránh gánh nặng tài chính từ chuyển đổi, tăng cường trợ cấp để bù đắp chi phí cg cao hơn so với thu nhập thực tế, bảo đảm tính khả thi kinh tế cho hộ gia đình và doanh nghiệp.

Thứ nhất, về công cụ Pigouvian điều chỉnh, tỉnh nên triển khai thuế carbon địa phương τb* = λ/(1 + η) với λ = 0.15 (bao gồm ngoại ứng tồn kho), nhắm đến mức 15% giá than từ năm 2026, kết hợp trợ cấp τg = 0.3cg cho dự án gió ngoài khơi (hỗ trợ 13.000 MW). Điều này không chỉ giảm Y ≈ 20% (từ 77.44 triệu VND) mà còn thúc đẩy γ' ≈ 0.29 qua lợi nhuận πg tăng, theo công thức (5), đặc biệt khi R = 73.34 triệu VND làm nhu cầu y ≈ 89.82 triệu VND nhạy cảm hơn với p giảm, yêu cầu trợ cấp tối thiểu 10% R để duy trì ràng buộc ngân sách. 

Để giảm η (áp lực từ lựa chọn định hướng ưu tiên các ngành tăng trưởng nâu), tích hợp với chuyển đổi xanh qua quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách hoặc quỹ hỗ trợ tư nhân, ưu tiên liên minh doanh nghiệp như dự án GH2 (5 tỷ USD), tăng τb hiệu quả 15% (Baron, 1994). Hơn nữa, áp dụng chính sách chiến lược bằng cách liên kết τb với S, ví dụ trợ cấp giảm dần khi S < 80 (mức an toàn), khuyến khích đầu tư dài hạn và tránh sự không nhất quán về thời gian, với ngân sách bù đắp từ R khoảng 10% thu nhập cá nhân để bảo đảm tính nhất quán với mức thu nhập thấp.

Thứ hai, thúc đẩy thay đổi giá trị nội sinh qua giáo dục và chuẩn mực xã hội, nhằm nâng δμ từ 0.02 lên 0.03 và cải thiện μ' ≈ 0.14. Tỉnh Quảng Ninh có thể mở rộng chương trình “Cánh buồm xanh” cho du lịch Vịnh Hạ Long, kết hợp với chiến dịch truyền thông đạo đức (tăng κ = 0.05), hướng đến 100% du thuyền xanh hóa đến 2025, thu hút 4.5 triệu khách quốc tế và nâng μ lên 0.45 (ngưỡng điểm tới hạn) bằng cách tăng

qua y cao hơn. Hợp tác với EU qua JETP (15.5 tỷ USD tài trợ chuyển đổi năng lượng) để tài trợ đào tạo giá trị xanh cho 87.5% lao động, tập trung vào hộ gia đình đang ưu tiên sử dụng than, với chi phí đào tạo không vượt 5% R = 73.34 triệu VND để bảo đảm khả thi và nhất quán với ràng buộc tài chính địa phương. Điều này sẽ tăng sự khác biệt tiện ích E[U|θ=1] - E[U|θ=0] 25%, thúc đẩy μ' và tạo bổ sung với γ', giảm rủi ro từ thu nhập thấp làm chậm xã hội hóa.

Thứ ba, hỗ trợ công nghệ qua kinh tế tuần hoàn, tích hợp học bằng cách làm α = 0.1 vào trợ cấp cho tổ hợp GH2 và KCN xanh. Chính sách nên bao gồm quỹ 1.000 tỷ VND/năm cho R&D gió/mặt trời, giảm cg 10%/năm khi γ > 0.3, phù hợp với mục tiêu 20 triệu lượt khách du lịch xanh năm 2025, và R = 73.34 triệu VND bảo đảm πgdương bằng cách trợ cấp 15% thu nhập cho lao động chuyển đổi. 

Để vượt bẫy xanh, cần thiết lập cơ chế cam kết bằng việc thông qua nghị quyết của Hội đồng nhân dân để ràng buộc τb qua năm 2030, tránh đảo ngược sự ưu tiên các chính sách, khuyến khích sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội và người dân qua ứng dụng theo dõi ô nhiễm (tăng vg), với ưu tiên hỗ trợ thu nhập bổ sung cho lao động chuyển đổi (20% R ban đầu) để nhất quán với động học.

Cuối cùng, đánh giá tác động: Mô hình dự báo chính sách này sẽ tăng GRDP xanh 30% đến năm 2030, giảm S 35%, nhưng đòi hỏi phối hợp giữa Trung ương và tỉnh (cam kết COP26), với R = 73.34 triệu VND làm tăng nhu cầu trợ cấp 15% để duy trì tiện ích tiêu dùng và nhất quán giữa tĩnh học và động học. Rủi ro chính là xung đột lợi ích than - du lịch, đòi hỏi phân tích sự lựa chọn có tính xác suất của địa phương trong các định hướng ưu tiên phát triển để cân bằng. Tổng thể, các hàm ý này biến mô hình lý thuyết thành lộ trình thực tiễn, giúp tỉnh Quảng Ninh trở thành tỉnh kiểu mẫu phát triển xanh bền vững, với tích hợp nhất quán R để bảo đảm công bằng xã hội và khả thi kinh tế./.



[1]Nguồn số liệu: https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/827112/cac-yeu-to-anh-huong-den-chat-luong...

    Nổi bật
        Mới nhất
        Xây dựng mô hình chuyển đổi kinh tế xanh ở tỉnh Quảng Ninh: Một nghiên cứu ở góc độ lý thuyết
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO