Vai trò của Thủ đô Hà Nội trong phát triển xã hội bền vững ở kỷ nguyên mới
Năm 2018, Ngân hàng Thế giới đo lường, đánh giá của cải (wealth) từ bốn loại vốn (capital), tài sản (assets) cho sự phát triển bền vững lần lượt là “vốn kinh tế”, “vốn con người”, “vốn tự nhiên” và “tài sản nước ngoài ròng” (Net foreign assets)1.

Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phát huy vai trò của Thủ đô Hà Nội trong phát triển xã hội bền vững trong kỷ nguyên mới
Vốn kinh tế có tên đầy đủ tiếng Anh là “Produced capital and urban land” có thể dịch là “vốn sản xuất và đất đô thị” và gọi ngắn gọn cho tiết kiệm là “vốn sản xuất” bao gồm máy móc, công trình xây dựng, thiết bị, tài sản vô hình như sở hữu trí tuệ và hoạt động thăm dò khoáng sản, cùng với đất đô thị cho nhà ở và đất đô thị phi nhà ở.
Vốn tự nhiên (natural capital) gồm hai nhóm là “Vốn tự nhiên không tái tạo” (nhiên liệu hóa thạch (như dầu mỏ, khí đốt, than cứng và than mềm) và khoáng sản (mười nhóm) và “Vốn tự nhiên tái tạo” (Renewable natural capital, gồm đất nông nghiệp (đất trồng trọt và đất chăn thả), rừng (gỗ và dịch vụ hệ sinh thái), các khu vực được bảo vệ, rừng ngập mặn và ngư nghiệp biển.
“Vốn con người” (human capital là giá trị của kỹ năng, kinh nghiệm và nỗ lực của lực lượng lao động trong suốt cuộc đời, được phân tách theo giới và tình trạng việc làm (làm công và tự làm chủ).
Tài sản nước ngoài ròng (net foreign assets) là tổng của tài sản như đầu tư trực tiếp nước ngoài, tài sản dự trữ và nợ nước ngoài phải trả của một quốc gia. Cách tiếp cận xã hội học liên ngành “kinh tế, xã hội, môi trường” của phát triển bền vững bộc lộ rõ qua bảng số liệu về số lượng và cấu trúc tỉ trọng đóng góp của ba loại vốn là “vốn sản xuất” (kinh tế), “vốn con người” và “vốn tự nhiên tái tạo” (Bảng 1).
Năm 2018, mô hình phát triển bền vững của Việt Nam mặc dù đã giảm lệ thuộc vào vốn tự nhiên nhưng tỉ trọng của loại vốn tự nhiên, cụ thể là “vốn tự nhiên tái tạo” vẫn còn cao, chiếm 17.1% gấp trên 2.5 lần so với Thái Lan (6.9%), gấp gần sáu lần so với Trung Quốc (2.9%) và gấp 5.5 lần so với mức trung bình của thế giới (3.1%) và thấp hơn 6.2 đơn vị phần trăm so với nhóm quốc gia có mức thu nhập thấp (Bảng 1).
Về mặt xã hội, cấu trúc vốn phát triển bền vững của Việt Nam đã thay đổi mạnh theo hướng tăng tỉ trọng “vốn xã hội” được đo bằng “vốn con người” (năm 2018 trên 67% so với gần 45% năm 2005) So với xu hướng biến đổi cấu trúc vốn của sự giàu có/của cải trên thế giới, sự biến đổi cấu trúc vốn phát triển bền vững của Việt Nam có xu hướng vì phát triển con người, vì “hạnh phúc con người” thể hiện rõ ở tỉ trọng “vốn con người” tăng cao đạt 67% (so với 63.6%). Trong khi đó, trong cấu trúc của cải của thế giới, tỉ trọng vốn kinh tế “vốn sản xuất” tăng đạt trên 31.2% với cái giá phải trả là vốn xã hội, “vốn con người” giảm đi.
Bảng 1. Tổng số và cấu vốn của của cải bình quân đầu người của một số quốc gia chọn lọc và thế giới, đvt: US$ năm 2018
| Tổng của cải | Vốn sản xuất | Vốn con người | Vốn tự nhiên tái tạo | |
| Trung Quốc | 174.365 | 38.28 | 127.685 | 5.078 |
| 100 | 22.0 | 73.2 | 2.9 | |
| Thái lan | 78.216 | 23.394 | 49.159 | 5.404 |
| 100 | 29.9 | 62.9 | 6.9 | |
| Việt Nam | 34.084 | 5.512 | 22.87 | 5.829 |
| 100 | 16.2 | 67.1 | 17.1 | |
| OECD | 621.278 | 217.19 | 396.222 | 9.522 |
| 100 | 35.0 | 63.8 | 1.5 | |
| Thu nhập thấp | 11.462 | 3.176 | 5.726 | 2.666 |
| 100 | 27.7 | 50.0 | 23.3 | |
| Thế giới | 160.167 | 49.95 | 101.797 | 4.948 |
| 100 | 31.2 | 63.6 | 3.1 |
World Bank (2021): The Changing Wealth of Nations 2021: Managing assets for the future, Washington DC, World Bank, tr. 447 - 454.
Vai trò của Thủ đô Hà Nội trong phát triển xã hội bền vững năm 2022
Chỉ số phát triển bền vững của Hà Nội
Chỉ số phát triển bền vững cấp tỉnh (PSDI) đánh giá mức độ phát triển bền vững tổng hợp cả kinh tế, xã hội và môi trường2. Chỉ số PTBV tổng hợp tính trung bình của 63 tỉnh/ thành trên cả nước năm 2022 đạt 52,53 điểm, tăng 1,15 điểm so với năm 2021. Năm 2022: xếp hạng chỉ số PSDI theo địa phương, Hà Nội đạt 62.55 điểm xếp vị trí thứ 6/63 tỉnh thành phố của cả nước (đứng đầu là Quảng Ninh 66.46 và cuối cùng là Lai Châu (35.86 điểm).
Các mục tiêu phát triển xã hội bền vững của Hà Nội
Trong tổng số 17 mục tiêu PTBV, năm mục tiêu phản ánh rõ nhất sự phát triển xã hội bền vững là mục tiêu số 1, 3, 4, 5 và 10.
Mục tiêu 1: Xóa nghèo - Chỉ số thành phần PSDI1. Đây là chỉ số thành phần đo lường nỗ lực của các địa phương trong việc thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững SDG1 - Chấm dứt mọi hình thức nghèo ở mọi nơi. Kết quả nghiên cứu năm 2022 cho thấy chỉ số PSDI1 bình quân 63 địa phương cả nước đạt 51,41 điểm, nằm ở mức trên trung bình (trên 50 điểm). Xếp hạng chỉ số PSDI1 theo địa phương - Xóa nghèo: Hà Nội đạt 67.6 điểm xếp thứ 8/63 tỉnh thành phố (đứng đầu là Bắc Ninh với 94.5 điểm và Điện Biên xếp thứ 63 với 12.7 điểm).
Mục tiêu 3: Sức khỏe và cuộc sống tốt - Chỉ số thành phần PSDI3. Đây là chỉ số thành phần đo lường nỗ lực của các địa phương trong việc thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững SDG3 - Bảo đảm cuộc sống khỏe mạnh và tăng cường phúc lợi cho mọi người ở mọi lứa tuổi. Kết quả nghiên cứu năm 2022 cho biết chỉ số PSDI3 bình quân 63 các địa phương cả nước đạt 67,21 điểm, mức điểm trung bình khá trong thang điểm từ 0 đến 100 đeiẻm, cho thấy tất cả các địa phương đều thực hiện khá tốt mục tiêu 3. Xếp hạng chỉ số thành phần PSDI3 theo địa phương - Sức khỏe và cuộc sống tốt: Hà Nội xếp thứ 8/63 với 76.75 điểm, tỉnh thành phố (Đà Nẵng xếp số 1 với 81.87 điểm, Lai Châu xếp thứ 63 với 41.38 điểm).
Mục tiêu 4: Giáo dục có chất lượng - Chỉ số thành phần PSDI4. Đây là chỉ số thành phần đo lường nỗ lực của các địa phương trong việc thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững SDG4 - Hướng tới bảo đảm nền giáo dục có chất lượng, công bằng, toàn diện và thúc đẩy các cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người. Kết quả nghiên cứu năm 2022: chỉ số PSDI4 bình quân 63 địa phương đạt 60,52 điểm, nằm ở mức trung bình khá. Hà Nội xếp số 1 với 98.52, Hà Giang 63/31.44.
Mục tiêu 5: Bình đẳng giới - Chỉ số thành phần PSDI5. Đây là chỉ số thành phần đo lường nỗ lực của các địa phương trong việc thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững SDG5 - Hướng tới đạt được bình đẳng về giới, tăng quyền và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái. Kết quả nghiên cứu năm 2022 cho biết: chỉ số PSDI5 bình quân 63 địa phương cả nước đạt 55,45 điểm, ở mức trên trung bình trong thang điểm từ 0-100. Hà Nội xếp thứ 27 với 57.93. Đà Nẵng xếp số 1 với 80.05; Lai Châu xếp 63 với 18.22
Mục tiêu 10: Các thành phố và cộng đồng bền vững - Chỉ số thành phần PSDI10. Đây là chỉ số thành phần đo lường nỗ lực của các địa phương trong việc thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững SDG10 - Phát triển đô thị, nông thôn bền vững, có khả năng chống chịu; bảo đảm môi trường sống và làm việc an toàn; phân bổ hợp lý dân cư và lao động theo vùng. Kết quả nghiên cứu năm 2022 cho biết: chỉ số PSDI10 bình quân 63 địa phương cả nước đạt đạt 64,50 điểm, trong đó có 58/63 tỉnh/thành đạt mức điểm trên 50 trong thang điểm từ 0-100. Hà Nội xếp số 4/63 với 77.35. Thái Bình xếp số 1 với 79.63; xếp 63 với 34.05).
Tính trung bình của năm mục tiêu thuộc chỉ số phát triển xã hội bền vững, Thủ đô Hà Nội (trung bình của năm mục tiêu số 1, 3, 4, 5, 10) đạt 75.63 (thang điểm từ 0 -100) thuộc mức khá, tương đương 126.6% so với mức trung bình của 63 tỉnh, thành phố (59.8 điểm) (Bảng 2).
Bảng 2. Mức điểm thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội bền vững của Hà Nội và địa phương đứng đầu, đứng cuối năm 2022.
| SDG1: Xóa nghèo | SDG3: Sức khỏe và cuộc sống tốt | SDG 4: Giáo dục chất lượng | SDG 5: Bình đẳng giới | SDG10: thành phố bền vững | ||||||
| Địa phương số 1 | Bắc Ninh | 94.5 | Đà Nẵng | 81.87 | Hà Nội | 98.52 | Đà Nẵng | 80.05 | Thái Bình | 79.63 |
| Địa phương số 63 | Điện Biên | 12.7 | Lai Châu | 41.38 | Hà Giang | 31.44 | Lai Châu | 18.22 | Đắc Nông | 34.05 |
| Hà Nội | 8 | 67.6 | 8 | 76.75 | 98.52 | 27 | 57.93 | 4 | 77.35 | |
| ĐTB 63 địa phương | 51.41 | 67.21 | 60.52 | 55.45 | 64.50 | |||||
| Hà Nội/ ĐTB =100 | 131.5 | 114.2 | 162.8 | 104.5 | 119.9 | |||||
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2023), Học viện Chính sách và Phát triển, Viện nghiên cứu Kinh tế - Xã hội và Phát triển bền vững (ISESR): Chỉ số phát triển bền vững cấp tỉnh PSDI 2022, Hà Nội, 2023.
Vai trò của Thủ đô Hà Nội trong phát triển xã hội bền vững: các kết quả khác trong thời gian qua
Vai trò phát triển dân số và lực lượng lao động năm 2011 - 2024
Năm 2011 đến năm 2024, dân số Thủ đô Hà Nội từ gần 7 triệu người lên trên 8.7 triệu người. Lực lượng lao động của Thủ đô Hà Nội tăng từ trên 3.6 triệu người lên gần 4.2 triệu người trong năm 2011 - 2024, với tốc độ tăng chậm hơn so với dân số (14.8% so với 27.7%). Tỷ trọng dân số của Thủ đô Hà Nội trong tổng dân số Việt Nam tăng 0.9 đơn vị phần trăm từ 7.7% năm 2011 lên 8.6% năm 2024. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của Thủ đô Hà Nội tăng 0.8 đơn vị phần trăm từ 7.1% năm 2011 lên 7.9% năm 2024 (Hình 1).
Tỷ trọng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của Thủ đô Hà Nội giảm từ 53.3% xuống còn 47.9% trong năm 2011 - 2024. Đồng thời, tỷ trọng dân số lao động có việc làm của Thủ đô Hà Nội giảm từ 51.8% xuống còn 47.1% năm 2018 - 2024 mặc dù quy mô dân số lao động có việc làm tăng nhẹ từ gần 4.1 triệu người lên trên 4.1 triệu người.
Xu hướng giảm lực lượng lao động và tăng rất chậm dân số lao động có việc làm có thể là kết quả của nhiều yếu tố trong đó có xu hướng già hóa dân số, giảm sinh và nhập cư vì mục đích học tập từ các địa phương khác vào Hà Nội trong thời gian qua.

Nguồn: Cục Thống kê Việt Nam, Số liệu thống kê, https://www.nso.gov.vn/so-lieu-thong-ke/
Vai trò tham gia bảo hiểm xã hội năm 2015 - 2023
Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội của Thủ đô Hà Nội liên tục tăng từ 33.3% năm 2015 lên 52.7% năm 2023, tốc độ tăng nhanh hơn so với cả nước, từ 22.6% lên 35.2% trong cùng năm 2015 - 2022.

Nguồn: Cục Thống kê Việt Nam, Số liệu thống kê, https://www.nso.gov.vn/so-lieu-thong-ke/
Vai trò phát triển giáo dục mẫu giáo: nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân và phát triển xã hội bền vững năm 2011 - 2023
Tỷ trọng học sinh mẫu giáo của Thủ đô Hà Nội luôn cao hơn tỷ trọng của cả nước trong năm 2011 - 2023. Tỷ trọng học sinh mẫu giáo trong dân số Thủ đô Hà Nội tăng từ 4.7% năm 2011 lên mức đỉnh 6% năm 2017, nhưng sau đó giảm xuống còn 4.8% năm 2023. Khuôn mẫu tăng giảm này tương tự như của cả nước: tỷ trọng học sinh mẫu giáo trong tổng dân số cả nước tăng tăng từ 3.8% lên 4.9% và giàm xuống còn 4.2%.
Việc tăng tỷ trọng học sinh mẫu giáo có thể do giáo dục mẫu giáo được cải thiện theo hướng phổ cập mẫu giáo cho trẻ 5 tuổi tiến tới phổ cập mẫu giáo cho trẻ 4 tuổi, tuy nhiên, mức sinh giảm có thể làm cho tỷ trọng học sinh mẫu giáo nói chung đều giảm.

Nguồn: Cục Thống kê Việt Nam, Số liệu thống kê, https://www.nso.gov.vn/so-lieu-thong-ke/
Vai trò phát triển giáo dục phổ thông: đầu tư vào nguồn vốn con người có khả năng sinh lợi cao nhất cho phát triển xã hội bền vững năm 2011 - 2024
Giáo dục phổ thông là phương thức có hiệu quả cao nhất trong đầu tư vào phát triển vốn con người cho phát triển xã hội bền vững. Từ năm 2018 đến nay, Thủ đô Hà Nội đầu tư có hiệu quả hơn mức trung bình của cả nước trong phát triển giáo dục phổ thông. Cụ thể là, trong năm 2011 - 2018, tỷ trọng học sinh phổ thông trong dân số của Thủ đô Hà Nội tăng dần nhưng vẫn thấp hơn so với tỷ trọng học sinh phổ thông trong tổng dân số cả nước.
Từ năm 2018, tỷ trọng học sinh phổ thông trong dân số Thủ đô Hà Nội tăng nhanh vượt tỷ trọng của cả nước (17.7% so với 17.4% nặm 2018 và 19.8% so với 18.5% năm 2024. Rất có thể là bắt đầu từ năm 2018, Thủ đô Hà Nội đã đẩy mạnh đầu tư phát triển giáo dục phổ thông bảo đảm thực hiện tốt Chương trình giáo dục phổ thông (2018).

Nguồn: Cục Thống kê Việt Nam, Số liệu thống kê, https://www.nso.gov.vn/so-lieu-thong-ke/
Vai trò phát triển giáo dục đại học: đầu tư vào vốn con người trực tiếp đóng góp cho phát triển xã hội bền vững năm 2015 - 2023
Giáo dục đại học có hiệu suất sinh lời đầu tư vào vốn con người sinh lời không cao bằng hiệu suất sinh lời đầu tư vào giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, giáo dục đại học trực tiếp cung cấp vốn con người có trình độ cao (đại học trở lên) cho phát triển bền vững. Thủ đô Hà Nội có lợi thế lớn trong thu hút thanh niên các địa phương vào Hà Nội để đến học trong các trường đại học đang tập trung rất nhiều.
Do vậy, về số lượng sinh viên trong 10,000 người dân, Thủ đô Hà Nội luôn đạt mức rất cao so với mức trung bình của cả nước, kể cả khi số lượng có bị giảm trong năm 2015 - 2023. Tính trung bình số lượng sinh viên/10.000 dân của Thủ đô Hà Nội đạt 784 sinh viên cao gấp 4 lần so với mức 184 sinh viên của cả nước.

Nguồn: Cục Thống kê Việt Nam, Số liệu thống kê. https://www.nso.gov.vn/so-lieu-thong-ke/
Vai trò giảm bất bình đẳng xã hội trong phát triển xã hội bền vững năm 2018 - 2024
Một chỉ số đo lường phổ biến nhất mức độ bình đẳng xã hội là “Hệ số bất bình đẳng trong phân phối”. Hệ số này càng tiến về 0 càng bình đẳng và càng tiến về 1 càng bất bình đẳng. Trong năm 2018 - 2024, hệ số này của Hà Nội luôn thấp hơn so với hệ số của cả nước. Theo xu hướng chung của phát triển bền vững, hệ số này có xu hướng giảm dần, mặc dù với tốc độ nhanh, chậm khác nhau. Hệ số GINI của Thủ đô Hà Nội đã giảm từ 0.39 năm 2018 xuống còn 0.36 năm 2024, trong khi hệ số GINI của cả nước giảm từ 0.42 xuống còn 0.37 trong cùng thời gian này (Hình 6).

Nguồn: Cục Thống kê Việt Nam, Số liệu thống kê, https://www.nso.gov.vn/so-lieu-thong-ke/
Vai trò phát triển con người cho phát triển xã hội bền vững năm 2018 - 2004
Một chỉ báo cơ bản, quan trọng bậc nhất của phát triển xã hội bền vững là Chỉ số phát triển con người (HDI). Trong năm 2018 - 2024, Thủ đô Hà Nội liên tục tăng chỉ số này và đạt mức cao hơn so với mức trung bình cả nước: ví dụ HDI của Hà Nội tăng từ 0.79 năm 2018 lên 0.83 năm 2024, cao hơn so với mức trung bình cả nước, tương ứng là 0.69 và 0.75. Tính trung bình trong những năm này, HDI của Hà Nội đạt 0.81 cao hơn 12% so với trung bình của cả nước 0.72.

Nguồn: Cục Thống kê Việt Nam, Số liệu thống kê, https://www.nso.gov.vn/so-lieu-thong-ke/
Tóm lại
Lý luận và thực tiễn phát triển xã hội bền vững đã cho thấy đầu tư vào vốn con người ở giáo dục phổ thông là có hiệu suất, hiệu quả cao nhất cho sự phát triển bền vững. Do vậy, Thủ đô Hà Nội có thể phát huy vai trò dẫn đầu cả nước trong phát triển xã hội bền vững ở kỷ nguyên mới theo một số phương hướng cơ bản là đầu tư vào vốn con người như sau:
Thứ nhất, Hà Nội phát huy vai trò đầu tư vào vốn con người để phát triển xã hội bền vững. Đây vừa là một nguồn vốn ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong cấu trúc các loại vốn kinh tế, xã hội và môi trường trong phát triển bền vững. Đồng thời, Hà Nội có ưu thế trung tâm cả nước thu hút các nguồn lực đầu con người cho hệ thống giáo dục các bậc học từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học.
Thứ hai, gắn liền với hướng đầu tư vào vốn con người, Hà Nội có thể cần tập trung phát triển mạnh khu vực giáo dục công lập từ giáo dục mầm non đến giáo dục trung học phổ thông bảo đảm mở rộng cơ hội giáo dục cho 100% dân số trong độ tuổi đến trường, nhất là giáo dục phổ thông.
Năm 2024, số lượng học sinh bình quân 1 lớp học tiểu học của Hà Nội là 36.85 em nhiều hơn mức trung bình cả nước với 31.65 em/1 lớp, đối với lớp trung học cơ sở số lượng là 40.32 nhiều hơn mức trung bình cả nướ là 39.42 và đối với trung học phổ thông, Hà Nội: 40.75 và 41.04. Do vậy, có thể nói, trong những năm tới, Thủ đô Hà Nội cần đầu tư nhiều hơn cho việc xây dựng trường, lớp phục vụ giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở để giảm số lượng học sinh bình quân/1 lớp.
Bằng cách đó, Hà Nội sẽ thực hiện có hiệu quả thiết thực bảo đảm giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở có chất lượng bằng mức trung bình cả nước. Liên quan chặt chẽ đến điều này là vấn đề tăng quy mô giáo viên tiểu học, giáo viên trung học cơ sở bảo đảm đủ số lượng lớp học tăng lên một cách tương ứng.
Thứ ba, phát huy vai trò đầu tư phát triển vốn con người thông qua phát triển giáo dục đại học bởi vì Hà Nội đang có rất nhiều các cơ sở giáo dục đại học bảo đảm đáp ứng các đầu vào con người cho phát triển vốn người ở trình độ cao, trình độ đại học cho phát triển xã hội bền vững.
Thứ tư, việc đầu tư vào vốn con người thông qua giáo dục và đào tạo cần được kết hợp chặt chẽ với tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đội ngũ các nhà giáo nhất là các nhà giáo đại học cần được đầu tư nghiên cứu khoa học gắn với ứng dụng và đào tạo để phục vụ phát triển xã hội bền vững của Thủ đô Hà Nội và đồng thời phục vụ phát triển xã hội bền vững của đất nước.
Thủ đô Hà Nội tập trung nhiều cơ sở giáo dục đại học. Số lượng nhà giáo đại học của Hà Nội tăng trên 13% từ trên 23.6 nghìn người năm 2015 lên gần 26.8 nghìn người năm 2023. Tuy nhiên, tỷ trọng nhà giáo đại học của Hà Nội trong tổng số các nhà giáo đại học giảm từ 33.9% của 69.6 nghìn nhà giáo đại học năm 2015 xuống còn 31.9% trong tổng số trên 84 nghìn nhà giáo đại học năm 2023.
Điều này đặt ra vấn đề phát triển số lượng nhà giáo bảo đảm nâng cao chất lượng giáo dục đại học và nhất là bảo đảm đưa Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia của Đảng vào cuộc sống trực tiếp góp phần tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, ĐMST phục vụ phát triển xã hội bền vững.
Điều kiện cần và đủ để thực hiện tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và không lãng phí các giải pháp, nhiệm vụ vừa nêu là dựa trên bộ tứ trụ cột3: Nghị quyết số 57-NQ/TW về tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, ĐMST, chuyển đổi số quốc gia4; Nghị quyết số 59-NQ/TW về chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới toàn diện công tác xây dựng, thi hành pháp luật5 và Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân67.
Cần dựa trên bộ tứ trụ cột này để tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn của điểm nghẽn là thể chế giáo dục và đào tạo gắn liền với thể chế đánh giá, quản lý khoa học của Thủ đô Hà Nội nói riêng và của cả nước nói chung. Thủ đô Hà Nội cần đi đầu cả nước trong việc ban hành và thực thi cơ chế chính sách giáo dục nghề nghiệp sau trung học phổ thông với tinh thần bảo đảm quyền và nghĩa vụ học tập hoàn thành chương trình trung học phổ thông của thanh niên Thủ đô Hà Nội.
Cần tháo gỡ điểm nghẽn của điểm nghẽn của quy định về phân ban, phân luồng trong giáo dục phổ thông: cụ thể là xem xét bỏ tỷ lệ 40% học sinh THCS vào trường nghề8. Để tạo đột phá phát triển khoa học cần tháo gỡ điểm nghẽn của điểm nghẽn: cụ thể là bỏ quy định bắt buộc công bố bài báo trên tạp chí quốc tế có uy tín chung chung, đồng thời thực hiện đồng bộ các giải pháp đưa Nghị quyết 57-NQ/TW/2024 vào cuộc sống: tạo đột phát phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số gắn với ứng dụng và đào tạo trong nước bảo đảm phục vụ phát triển xã hội bền vững của Thủ đô và đất nước trong kỷ nguyên mới.
Như vậy, vai trò cơ bản, quan trọng bậc nhất của Thủ đô Hà Nội là đầu tư phát triển vốn con người cho phát triển xã hội bền vững ở kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
1 World Bank (2021): The Changing Wealth of Nations 2021: Managin assets for the future, World Bank, Washington DC, tr. 28.
2 Mục này dựa vào Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2023), Học viện Chính sách và Phát triển, Viện nghiên cứu Kinh tế - Xã hội và Phát triển bền vững (ISESR): Chỉ số phát triển bền vững cấp tỉnh PSDI 2022, Hà Nội, 2023.
3 Tô Lâm (2025): “Thực hiện “Bộ tứ trụ cột” để tạo động lực mạnh mẽ đưa đất nước phát triển”, Tạp chí Cộng sản (điện tử). Ngày 18 tháng 5 năm 2025. https://www.tapchicongsan.org.vn/en/web/guest/tieu-iem1/-/asset_publisher/s5L7xhQiJeKe/content/doi-moi-khat-vong-hanh-dong-vi-mot-viet-nam-giau-manh-phon-vinh-hung-cuong; Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2025.
4 Bộ Chính trị (2024): Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
5 Bộ Chính trị (2025): Nghị quyết số 66‑NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
6 Bộ Chính trị (2025): Nghị quyết số 68‑NQ/TW ngày 4 tháng 5 năm 2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
7 Bộ Chính trị (2025): Nghị quyết số 59‑NQ/TW ngày 1 tháng 3 năm 2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
8 Sơn Hà (2025): “Bộ trưởng GD&ĐT: Xem xét bỏ tỷ lệ 40% học sinh THCS vào trường nghề”, Báo VietnamExpress. Ngày 20 tháng 6 năm 2025, https://vnexpress.net/bo-truong-gd-dt-xem-xet-bo-ty-le-40-hoc-sinh-thcs-vao-truong-nghe-4904302.html
