Ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xanh, bền vững ở tỉnh Hà Giang
Vai trò của ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng, các quốc gia trên thế giới coi khoa học và công nghệ là một biến số chiến lược quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Có thể khẳng định rằng, phát triển kinh tế - xã hội trên thế giới hiện nay thực chất là cuộc đua về khoa học và công nghệ, về nâng cao chất lượng và hiệu quả lao động trên cơ sở hiện đại hoá nguồn nhân lực.
Với tư cách là thành tố cơ bản của nền văn hoá, khoa học - công nghệ có một vị trí đặc biệt trong chiến lược phát triển đất nước; có vai trò to lớn trong việc hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin trong sản xuất, dịch vụ và quản lý.
Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế ”.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) về phát triển khoa học và công nghệ xác định rõ quan điểm: “Phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp”.
Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp, hoạt động khoa học và công nghệ đã có bước phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều kết quả đáng tự hào.
Ngày 1-11-2012, Nghị quyết số 20-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đưa ra quan điểm: phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp.
Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định thành công của sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ.
Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của tiến bộ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo”.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 được thông qua tại Đại hội XIII cũng nhấn mạnh: phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính để tăng trưởng kinh tế.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước phải dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, tận dụng tốt cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để có sự bứt phá, vươn lên trong một số ngành, lĩnh vực.
Trong đó: một là, làm rõ mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa bằng các biện pháp cụ thể, như về cơ chế, chính sách phát triển, ưu tiên khoa học - công nghệ, gắn nông nghiệp với công nghiệp và thị trường...
Phát triển mạnh khu vực dịch vụ dựa trên nền tảng ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, nhất là các ngành có giá trị gia tăng cao, như du lịch, viễn thông, logistics, ngân hàng - tài chính;
Hai là, nhấn mạnh hơn về hạ tầng kết nối liên vùng. Đại hội XIII của Đảng đặt mục tiêu tới năm 2030, cả nước phải có ít nhất 5.000km cao tốc, trong khi từ năm 2000 tới năm 2021, cả nước mới hoàn thành được gần 1.100km cao tốc; tiếp đến là hạ tầng năng lượng và hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông, phát triển hạ tầng số đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN;
Ba là, phát triển kinh tế biển trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó có phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển và đô thị ven biển, trong đó chú ý phát triển kinh tế biển gắn với an ninh - quốc phòng, phát triển kinh tế gắn với môi trường và phòng, chống thiên tai; phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế và đô thị ven biển;
Bốn là, phát triển đô thị và kinh tế đô thị, nhấn mạnh xây dựng đô thị văn minh, thông minh phù hợp với văn hóa vùng, miền.
Chúng ta đang tiếp cận Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) thông qua các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tế ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động, phân tích dữ liệu lớn (SMAC),... để chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số.
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang mở ra nhiều cơ hội mới cho đất nước, cũng như cho mỗi địa phương. Trong xu thế đó, cần thúc đẩy mạnh mẽ phát triển nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ, nhanh chóng nắm bắt xu thế mới để phát triển nhanh và bền vững.
Nhìn lại chặng đường vừa qua, có thể thấy, vai trò của khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo đã đóng góp tích cực vào sự phát triển toàn diện kinh tế - xã hội. Với quan điểm chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”, theo hướng bền vững, xác định khoa học - công nghệ ngày càng đóng vai trò hết sức quan trọng; khoa học và công nghệ đã hiện diện sâu sắc, đậm nét trên khắp các lĩnh vực tạo nên những thành tựu bứt phá trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Ngày 11-5-2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030. Chiến lược đưa ra 3 quan điểm phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo:
1- Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là quốc sách hàng đầu, đóng vai trò đột phá chiến lược trong giai đoạn mới; là động lực chính để thúc đẩy tăng trưởng, tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả; là nhân tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội, địa phương và doanh nghiệp; là nền tảng để thực hiện chuyển đổi số quốc gia; góp phần quan trọng nâng cao đời sống nhân dân, phát triển bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh;
2- Phát triển đồng bộ, liên ngành, có trọng tâm, trọng điểm khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia và các hệ thống đổi mới sáng tạo ngành, vùng, trong đó lấy doanh nghiệp làm trung tâm, viện nghiên cứu và trường đại học là chủ thể nghiên cứu mạnh, Nhà nước thực hiện định hướng, điều phối, kiến tạo môi trường thể chế, chính sách thuận lợi cho hoạt động hiệu quả của toàn hệ thống;
3- Kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa phát triển năng lực nội sinh với tận dụng tối đa cơ hội, nguồn lực bên ngoài, ưu tiên tiếp thu, hấp thụ, làm chủ và ứng dụng nhanh chóng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới, đặc biệt là chủ động, tích cực tiếp cận và khai thác triệt để cơ hội và thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng phục vụ thiết thực đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội, đồng thời chú trọng nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng để tiến tới sáng tạo, tự chủ và cạnh tranh về công nghệ ở những lĩnh vực then chốt mà Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng và lợi thế.
Chiến lược cũng khẳng định: khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần quan trọng trong xây dựng, phát triển giá trị văn hóa, xã hội, con người Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước; đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII)...
Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Điều này được thể hiện qua các khía cạnh sau:
Thứ nhất, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực cho phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy sự hình thành và phát triển các ngành, nghề, lĩnh vực mới.
Thứ hai, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; làm thay đổi cơ cấu sản xuất của các ngành, nghề cũng như cơ cấu trong nội bộ từng ngành; theo đó phân công lao động ngày càng sâu sắc hơn.
Thứ ba, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo phát triển cùng với sự xuất hiện của các công nghệ mới, hiện đại,... góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào và làm gia tăng các yếu tố của sản xuất, kinh doanh.
Thứ tư, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế. Với chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao, nhiều sản phẩm mới được tạo ra với công nghệ tiết kiệm nguyên liệu,... sẽ tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và khu vực, mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Thứ năm, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo tạo ra việc làm mới và thúc đẩy phân công lao động quốc tế, góp phần tạo ra nền sản xuất chung và thị trường chung của thế giới. Sự thay đổi về công nghệ, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, vận tải đã tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới.

- Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo. Lấy doanh nghiệp, người dân là trung tâm ứng dụng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, là nguồn cầu quan trọng nhất của thị trường khoa học và công nghệ; Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ, định hướng và kết nối.
- Tập trung ứng dụng khoa học và công nghệ vào các khâu: xây dựng quy trình sản xuất; xây dựng thương hiệu sản phẩm; hỗ trợ chuyển giao các công nghệ; thiết kế mẫu mã, nhãn hiệu, bao bì và xúc tiến quảng bá các sản phẩm để nâng cao năng suất, chất lượng cho các sản phẩm nông nghiệp có thế mạnh của tỉnh, đặc biệt là các sản phẩm OCOP (mỗi xã, phường một sản phẩm); các sản phẩm đã được người tiêu dùng tin tưởng, giá bán tăng.
- Chủ động, tích cực đầu tư đổi mới công nghệ theo hướng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, bảo vệ môi trường và tăng năng suất lao động.
- Xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử và giao Sở Công Thương tỉnh Hà Giang chủ trì triển khai thực hiện; duy trì, vận hành và nâng cấp, bổ sung tính năng hoạt động cho sàn giao dịch thương mại điện tử.
- Cung cấp cơ sở dữ liệu cho các cơ quan tham khảo trong hoạch định chính sách và quản lý nhà nước.- Huy động tối đa mọi nguồn lực để phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo từ các chương trình, đề án cấp quốc gia, từ các nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI), nguồn vốn của các tổ chức phi chính phủ (NGO), các nguồn quỹ đầu tư mạo hiểm để thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo của tỉnh.
- Phát triển thị trường khoa học và công nghệ, bao gồm: hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ, thúc đẩy, kích cầu thị trường khoa học và công nghệ; hỗ trợ phát triển hàng hóa, thương mại hóa sản phẩm khoa học và công nghệ, phát triển tài sản trí tuệ; đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến, tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ./.
