Ứng dụng khoa học, công nghệ để chuyển đổi xanh hướng đến phát triển kinh tế bền vững ở tỉnh Quảng Ninh

ThS. Mai Thị Hương Giang 18/12/2025 17:01

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu tác động ngày càng sâu rộng, chuyển đổi xanh trở thành yêu cầu khách quan và là lựa chọn chiến lược của các quốc gia, địa phương. Với tầm nhìn “từ nâu sang xanh”, tỉnh Quảng Ninh đang đứng trước thời cơ lớn để tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh. Bài tham luận tập trung làm rõ vai trò then chốt của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong chuyển đổi xanh; phân tích thực tiễn ở tỉnh Quảng Ninh; đánh giá kết quả, hạn chế; đồng thời đề xuất nhóm giải pháp trọng tâm nhằm phát huy khoa học, công nghệ, hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững.

1. Vai trò của khoa học và công nghệ trong chuyển đổi xanh

Chuyển đổi xanh là một quá trình mang tính cách mạng, đòi hỏi sự tái cấu trúc toàn diện mô hình tăng trưởng, phương thức sản xuất cũng như lối sống tiêu dùng, nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái, đồng thời bảo đảm công bằng xã hội. 

Đây không chỉ là yêu cầu cấp bách trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng gay gắt, mà còn là định hướng chiến lược đã được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII: “Xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường; phát triển bền vững dựa trên tiến bộ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”[1].

Trên bình diện quốc tế, chuyển đổi xanh gắn liền với Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc, đặc biệt là các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs), như SDG7 về năng lượng sạch, SDG12 về sản xuất và tiêu dùng bền vững, SDG13 về ứng phó biến đổi khí hậu. 

Điều đó cho thấy, khoa học - công nghệ không chỉ là công cụ hỗ trợ mà thực sự là động lực then chốt, giữ vai trò “chìa khóa” quyết định thành công của tiến trình chuyển đổi xanh.

Vai trò này được thể hiện trên bốn trụ cột cơ bản. 

Thứ nhất, phát triển công nghệ năng lượng sạch, bao gồm điện gió, điện mặt trời, sinh khối, năng lượng hydrogen, kết hợp ứng dụng lưới điện thông minh và công nghệ lưu trữ năng lượng, tạo nền tảng cho chuyển dịch năng lượng công bằng, giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. 

Thứ hai, ứng dụng công nghệ môi trường và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, thông qua xử lý chất thải, tái chế, tuần hoàn nước, phát triển vật liệu xanh, từ đó hình thành mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững. 

Thứ ba, triển khai chuyển đổi số trong quản trị xanh, với việc khai thác IoT, trí tuệ nhân tạo, GIS[2]và dữ liệu lớn để quan trắc, dự báo, cảnh báo sớm, tối ưu hóa vận hành trong công nghiệp, đô thị và du lịch, đồng thời số hóa chuỗi giá trị để nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên - môi trường. 

Thứ tư, xây dựng và vận hành công cụ thị trường cùng hệ thống đo lường phát thải hiện đại, như MRV carbon (hay MRV - đo lường, báo cáo và xác minh)[3]cấp quốc gia và địa phương, nền tảng dữ liệu phát thải và thị trường tín chỉ carbon, tạo điều kiện cho Việt Nam và các địa phương, trong đó có tỉnh Quảng Ninh hội nhập sâu rộng vào cơ chế thị trường carbon toàn cầu.

Việc ứng dụng đồng bộ và sáng tạo bốn trụ cột trên không chỉ góp phần giảm cường độ phát thải, nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực mà còn tăng cường năng lực chống chịu của nền kinh tế địa phương, bảo đảm an ninh năng lượng, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Quan trọng hơn, đây là cơ sở để Việt Nam khẳng định vị thế trong việc thực hiện các cam kết quốc tế, nhất là mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Nói cách khác, khoa học, công nghệ chính là “đòn bẩy chiến lược” gắn kết hài hòa giữa ba trụ cột phát triển: kinh tế, xã hội và môi trường; là nhân tố quyết định để quá trình chuyển đổi xanh ở tỉnh Quảng Ninh nói riêng và cả nước nói chung không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu, mà trở thành hiện thực sinh động, hiệu quả, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.

2. Chủ trương, chính sách về tăng trưởng xanh

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định hướng phát triển nhanh và bền vững trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường, gắn kết mục tiêu môi trường trong chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển. 

Trên bình diện quốc tế, Việt Nam cũng đã thể hiện cam kết mạnh mẽ tại Hội nghị COP26 về mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, qua đó đặt ra yêu cầu tất yếu phải tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng xanh hóa dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ.

Trên tinh thần đó, Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050 (Quyết định số 1658/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050) và Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh cùng giai đoạn (Quyết định số 882/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030). 

Các văn bản này đã xác lập mục tiêu giảm cường độ phát thải khí nhà kính, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, xanh hóa các ngành kinh tế chủ lực trên cơ sở đổi mới công nghệ, phát triển thị trường cho sản phẩm - dịch vụ xanh và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số trong quản trị môi trường. 

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 tiếp tục đánh dấu bước ngoặt khi chuyển sang phương thức quản lý theo vòng đời sản phẩm, đổi mới cách tiếp cận trong đánh giá tác động môi trường; đồng thời, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, của Chính phủ: Quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn cùng với Nghị định số 08/2022/NĐ-CP, của Chính phủ: Quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và các thông tư hướng dẫn đã thiết kế lộ trình hình thành thị trường carbon, quy định về kiểm kê, đo đạc, báo cáo, thẩm tra (MRV) phát thải cho doanh nghiệp và địa phương. Đây chính là hạ tầng thể chế quan trọng để khoa học, công nghệ phát huy vai trò trong đo lường, minh bạch và chuẩn hóa dữ liệu phát thải.

Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050 (Quyết định số 896/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050) tiếp tục xác định nhiều nhiệm vụ công nghệ trọng tâm, trong đó có phát triển hệ thống quan trắc và cảnh báo sớm thiên tai, nghiên cứu công nghệ hấp thụ và lưu giữ carbon tự nhiên và nhân tạo, xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu tích hợp phục vụ công tác dự báo, điều hành và ra quyết định. 

Cùng với đó, Đề án phát triển kinh tế tuần hoàn (Quyết định số 687/QĐ-TTg, của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam) nhấn mạnh yêu cầu đổi mới quy trình sản xuất, thiết kế sản phẩm, vật liệu, công nghệ tái chế - tái sử dụng, hướng tới mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững theo nguyên tắc 3R (giảm thiểu - tái sử dụng - tái chế).

Trong lĩnh vực năng lượng, Nghị quyết số 55-NQ/TW, ngày 11-02-2020, của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Quy hoạch điện VIII (Quyết định số 500/QĐ-TTg, của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050) đã đặt trọng tâm vào việc đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng, tăng nhanh tỷ trọng năng lượng tái tạo, nâng cao hiệu suất hệ thống, phát triển lưới điện thông minh, quản lý phụ tải, lưu trữ năng lượng và nghiên cứu, phát triển các dạng năng lượng mới như hydrogen. 

Đây là định hướng mở ra không gian phát triển rộng lớn cho công nghệ sạch. Đồng thời, Chương trình Chuyển đổi số quốc gia (Quyết định số 749/QĐ-TTg, của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”) và các chiến lược khoa học, công nghệ liên quan đã tạo nền tảng quan trọng cho quản trị môi trường số, tích hợp các công nghệ IoT, GIS, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong giám sát tài nguyên - môi trường, xây dựng đô thị thông minh, phát triển du lịch thông minh và kinh tế số xanh.

Bên cạnh đó, Việt Nam còn chủ động huy động nguồn lực quốc tế cho tiến trình chuyển dịch công bằng thông qua các cơ chế hợp tác khí hậu và tài chính xanh, trong đó có Tuyên bố chính trị về Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP[4]). 

Đây là điều kiện quan trọng để Việt Nam tiếp nhận và hấp thụ nguồn vốn, công nghệ, tri thức phục vụ mục tiêu phát thải ròng bằng “0”, đồng thời bảo đảm hội nhập theo các chuẩn mực toàn cầu về MRV, báo cáo phát triển bền vững và vận hành thị trường carbon.

Từ hệ thống chủ trương, chính sách nêu trên có thể khẳng định khoa học, công nghệ giữ vai trò động lực then chốt trong thể chế hóa và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh. Những định hướng chính trị đã và đang được lượng hóa thành các chuẩn mực kỹ thuật cụ thể, như quy chuẩn, tiêu chuẩn phát thải, hiệu suất năng lượng, nhãn sinh thái…, qua đó trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các địa phương và doanh nghiệp. 

Dữ liệu và đo lường trở thành hạ tầng cốt lõi của chính sách, khi hệ thống MRV carbon, kiểm kê phát thải theo ngành, cơ sở dữ liệu môi trường thống nhất cho phép định lượng mục tiêu, giám sát hiệu quả và thiết kế cơ chế khuyến khích, chế tài dựa trên bằng chứng khoa học. 

Cơ chế thị trường gắn với công nghệ, đặc biệt là thị trường tín chỉ carbon, trái phiếu xanh và tín dụng xanh, chỉ có thể vận hành minh bạch, bền vững khi dựa trên nền tảng số, hệ đo đếm và xác nhận công nghệ đáng tin cậy, qua đó củng cố niềm tin của nhà đầu tư. 

Đặc biệt, nhờ đổi mới sáng tạo, nhiều ngành kinh tế xanh mới đang được định hình, từ năng lượng tái tạo, công nghệ lưu trữ, vật liệu xanh, tuần hoàn nước - chất thải, nông nghiệp carbon thấp đến du lịch xanh - thông minh, mở ra không gian phát triển mới cho đất nước. 

Đồng thời, chủ trương về chuyển dịch năng lượng công bằng đã khẳng định rõ nhiệm vụ đào tạo lại, chuyển đổi nghề dựa trên công nghệ nhằm bảo đảm an sinh xã hội trong tiến trình dịch chuyển từ “nâu” sang “xanh”.

Đối với tỉnh Quảng Ninh, việc chuẩn hóa bộ tiêu chí và tiêu chuẩn xanh cấp tỉnh phù hợp với Luật Bảo vệ môi trường 2020 sẽ là căn cứ để địa phương đặt hàng công nghệ và triển khai cơ chế đấu thầu mua sắm công xanh. 

Quảng Ninh cũng cần xây dựng nền tảng MRV carbon cấp tỉnh, thiết lập bản đồ số về nguồn phát thải và bể hấp thụ, tích hợp công nghệ quan trắc tự động, viễn thám, GIS, đồng thời chuẩn hóa cơ chế báo cáo số cho các doanh nghiệp. Song song với đó là việc thí điểm các “sandbox công nghệ xanh” trong các lĩnh vực, như lưu trữ năng lượng, microgrid cho khu công nghiệp và đảo - ven biển, tái chế - tuần hoàn chất thải du lịch, sản xuất vật liệu xây dựng xanh. 

Việc thành lập Trung tâm đổi mới sáng tạo xanh Quảng Ninh có ý nghĩa quan trọng trong việc kết nối viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, ươm tạo các giải pháp công nghệ, liên thông với các nguồn tài chính xanh, như tín chỉ carbon rừng ngập mặn, trái phiếu xanh và mô hình hợp tác công - tư (PPP). 

Cuối cùng, nhiệm vụ chuyển dịch công bằng cho lao động ngành than phải được coi là một trụ cột chính sách, thông qua các chương trình đào tạo lại, nâng cao kỹ năng, bảo đảm sự thích ứng của lực lượng lao động với các ngành kinh tế xanh mới như năng lượng tái tạo, vận hành lưới điện thông minh, xử lý môi trường và du lịch xanh - thông minh.

3. Thực tiễn tỉnh Quảng Ninh: Điểm nhấn ứng dụng khoa học và công nghệ trong chuyển đổi xanh

Một là, về khung chính sách địa phương.

Những năm gần đây, tỉnh Quảng Ninh đã chủ động cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về tăng trưởng xanh thành các chương trình, kế hoạch và quy hoạch phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương. 

Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2023 - 2030 (Quyết định số 1318/QĐ-UBND, ngày 06-5-2024, của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh “Về việc phê duyệt kế hoạch tăng trưởng xanh tỉnh Quảng Ninh giai đoan 2023 - 2030”) đã xác định rõ những mục tiêu trọng tâm, trong đó nhấn mạnh giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và tài nguyên, xanh hóa các ngành kinh tế chủ lực, đồng thời cải thiện chất lượng môi trường sống của nhân dân. 

Đặc biệt, kế hoạch cũng phân công cụ thể trách nhiệm cho từng cơ quan, đơn vị, bảo đảm sự phối hợp đồng bộ trong tổ chức triển khai. Đây là bước đi quan trọng thể hiện sự nhất quán trong quan điểm phát triển, coi chuyển đổi xanh không chỉ là yêu cầu trước mắt mà là định hướng chiến lược mang tính trung và dài hạn.

Cùng với đó, Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã đề ra yêu cầu phát triển công nghiệp năng lượng theo hướng thân thiện với môi trường, từng bước chuyển dịch sang các nguồn năng lượng sạch và tái tạo, phù hợp với xu thế chung của cả nước và thế giới. 

Quy hoạch này không chỉ định hướng phát triển lĩnh vực năng lượng mà còn gắn kết chặt chẽ với xây dựng hạ tầng và tổ chức không gian phát triển theo hướng xanh, thông minh và tuần hoàn. 

Đây chính là nền tảng quan trọng để tỉnh Quảng Ninh ứng dụng khoa học, công nghệ một cách đồng bộ, hiệu quả trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, qua đó hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững.

Hai là, các ứng dụng khoa học, công nghệ nổi bật theo trục chuyển đổi xanh.

Trong lĩnh vực năng lượng, tỉnh Quảng Ninh chú trọng phát triển các nguồn điện gió, điện mặt trời và điện sinh khối phù hợp với tiềm năng tự nhiên sẵn có; đồng thời định hướng phát triển điện khí LNG theo lộ trình thích hợp nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào nhiệt điện than truyền thống. 

Các nghiên cứu và thí điểm áp dụng lưới điện thông minh, hệ thống quản lý phụ tải cũng như công nghệ lưu trữ năng lượng đang được đẩy mạnh, góp phần nâng cao tính ổn định, an toàn và độ tin cậy trong cung ứng điện năng.

Trong lĩnh vực môi trường và hoàn nguyên sinh thái, tỉnh Quảng Ninh đã tăng cường các biện pháp quản lý đối với hoạt động khai thác và sản xuất công nghiệp, đồng thời ứng dụng công nghệ tự động hóa trong quan trắc khí, nước và bụi. 

Các chương trình phục hồi bãi thải, trồng mới và bảo vệ rừng, đặc biệt là mở rộng diện tích rừng ngập mặn ven biển, được triển khai đồng bộ nhằm tái tạo hệ sinh thái, nâng cao khả năng hấp thụ carbon và giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. 

Công nghệ xử lý rác thải và nước thải cũng từng bước được hiện đại hóa, nhất là tại các khu du lịch trọng điểm như Vịnh Hạ Long, góp phần giữ gìn môi trường sinh thái và nâng cao chất lượng dịch vụ.

Đối với hạ tầng xanh và đô thị thông minh, tỉnh Quảng Ninh chú trọng mở rộng hệ thống xe buýt điện, xe điện du lịch, đồng thời gia tăng diện tích không gian công cộng, cây xanh và mặt nước trong các khu đô thị. 

Việc triển khai hệ thống quản lý đô thị thông minh giúp tỉnh Quảng Ninh nâng cao hiệu quả giám sát và điều hành giao thông, năng lượng, môi trường, đồng thời tạo cơ sở để phát triển các khu công nghiệp sinh thái và đô thị tiết kiệm năng lượng, hướng tới sự phát triển đồng bộ, văn minh và hiện đại.

Trong lĩnh vực kinh tế tuần hoàn và du lịch xanh, tỉnh Quảng Ninh đã khuyến khích mạnh mẽ các mô hình sản xuất và tiêu dùng theo nguyên tắc “giảm - tái sử dụng - tái chế” cả trong công nghiệp lẫn đời sống hằng ngày. 

Tập trung phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và du lịch di sản gắn với bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên và giá trị văn hóa bản địa. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý chuỗi dịch vụ du lịch và quản trị điểm đến thông minh đã góp phần định hình hình ảnh một tỉnh Quảng Ninh năng động, bền vững, thân thiện với môi trường, đồng thời gia tăng sức hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Ba là, những kết quả bước đầu.

Thực tiễn triển khai cho thấy tỉnh Quảng Ninh đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng trong tiến trình chuyển đổi xanh dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ. 

Cơ cấu kinh tế của tỉnh đang dịch chuyển theo hướng tích cực: tỷ trọng ngành khai khoáng - vốn là trụ cột truyền thống - đang dần thu hẹp, trong khi tỷ trọng các lĩnh vực dịch vụ, du lịch và công nghiệp chế biến chế tạo có giá trị gia tăng cao không ngừng gia tăng. 

Sự chuyển dịch này không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực mà còn từng bước tạo dựng nền tảng cho mô hình tăng trưởng xanh, bền vững và ít phát thải.

Môi trường sinh thái tại nhiều khu vực được cải thiện rõ rệt nhờ các biện pháp hoàn nguyên, phủ xanh sau khai thác, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của tỉnh trong việc khắc phục những hệ lụy môi trường từ quá khứ công nghiệp nặng. 

Tỷ lệ che phủ rừng duy trì ở mức cao, trở thành “lá chắn sinh thái” quan trọng, góp phần điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường và gia tăng khả năng hấp thụ carbon. 

Song song với đó, các mô hình năng lượng tái tạo quy mô vừa và nhỏ đã bước đầu được hình thành, mở ra triển vọng phát triển các nguồn năng lượng sạch, phù hợp với lộ trình giảm phát thải mà Việt Nam đã cam kết trước cộng đồng quốc tế.

Đáng chú ý, hệ thống hạ tầng xanh và đô thị thông minh cũng từng bước được mở rộng, với nhiều dự án về giao thông sạch, quản lý môi trường số và không gian công cộng xanh đã đi vào vận hành. 

Những kết quả bước đầu này, tuy chưa toàn diện, nhưng đã khẳng định tính đúng đắn của định hướng chiến lược mà Quảng Ninh đang theo đuổi, đồng thời tạo tiền đề quan trọng để tỉnh tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong chuyển đổi xanh và phát triển bền vững của cả nước.

Bốn là, hạn chế và thách thức.

Bên cạnh những kết quả bước đầu đạt được, quá trình chuyển đổi xanh ở tỉnh Quảng Ninh vẫn bộc lộ nhiều hạn chế và đối diện với không ít thách thức. Cơ cấu nguồn thu ngân sách của tỉnh vẫn phụ thuộc lớn vào ngành than và một số lĩnh vực công nghiệp nặng - những ngành có mức phát thải cao, tiềm ẩn nhiều rủi ro môi trường và không còn phù hợp với xu thế phát triển bền vững. 

Điều này cho thấy quá trình tái cấu trúc nền kinh tế xanh tuy đã được khởi động nhưng chưa tạo được bước đột phá căn bản.

Cơ chế và chính sách khuyến khích đầu tư cho các dự án xanh dù đã được quan tâm xây dựng song vẫn chưa đủ mạnh để hấp dẫn các nhà đầu tư chiến lược, đặc biệt là các tập đoàn công nghệ và doanh nghiệp quốc tế có tiềm lực tài chính - công nghệ. 

Nguồn vốn và công nghệ dành cho các dự án xanh còn hạn chế, trong khi nhu cầu đầu tư lại rất lớn, vượt quá khả năng cân đối của ngân sách địa phương.

Một hạn chế khác là hạ tầng dữ liệu và hệ thống đo lường, báo cáo, thẩm tra phát thải (MRV) chưa được xây dựng đồng bộ, gây khó khăn cho công tác giám sát, đánh giá và thực thi các cam kết về giảm phát thải. Đồng thời, nguồn nhân lực có kỹ năng số và năng lực ứng dụng công nghệ xanh còn thiếu hụt, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. 

Đặc biệt, trong nhận thức xã hội vẫn còn một bộ phận doanh nghiệp và người dân chưa coi mục tiêu phát triển xanh là định hướng chiến lược lâu dài, dẫn đến sự chậm trễ trong việc chuyển đổi mô hình sản xuất - tiêu dùng và trong đầu tư đổi mới công nghệ sạch.

4. Những vấn đề đặt ra về mặt chiến lược

Bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi xanh ở tỉnh Quảng Ninh cũng đặt ra nhiều vấn đề mang tính chiến lược cần được nhận diện và xử lý một cách thấu đáo. Trước hết là bài toán cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. 

Tỉnh vừa phải duy trì tốc độ phát triển kinh tế, vừa phải giảm phát thải khí nhà kính và bảo đảm chất lượng môi trường sống cho nhân dân. Nếu quá trình chuyển đổi diễn ra quá nhanh sẽ có nguy cơ gây ra những “cú sốc” đối với nền kinh tế - xã hội; ngược lại, nếu chậm trễ sẽ làm gia tăng rủi ro môi trường, kéo theo chi phí xã hội lớn trong dài hạn.

Một vấn đề đặc biệt quan trọng khác là bảo đảm tính công bằng trong chuyển dịch năng lượng. Với hàng chục nghìn lao động đang làm việc trong ngành than, việc tổ chức đào tạo lại, tạo cơ hội việc làm thay thế và bảo đảm an sinh xã hội cho lực lượng này không chỉ là yêu cầu kinh tế mà còn là nhiệm vụ chính trị - xã hội mang ý nghĩa chiến lược, nhằm tạo sự đồng thuận và ổn định trong tiến trình chuyển đổi từ “nâu” sang “xanh”.

Thách thức lớn tiếp theo là huy động nguồn lực cho phát triển xanh. Nhu cầu vốn để đầu tư vào năng lượng tái tạo, hạ tầng xanh, xử lý chất thải và phát triển giao thông sạch vượt xa khả năng cân đối của ngân sách địa phương. 

Điều này đòi hỏi Quảng Ninh phải có cơ chế linh hoạt, hấp dẫn để thu hút các nguồn lực từ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), các quỹ tín dụng xanh, phát hành trái phiếu xanh cũng như các mô hình hợp tác công - tư (PPP).

Chuyển đổi xanh ở Quảng Ninh không thể tách rời khỏi bối cảnh liên kết vùng. Việc đẩy mạnh hợp tác với các địa phương lân cận, như Hải Phòng, Lạng Sơn, Bắc Ninh trong phát triển logistics xanh, hệ thống cảng biển, du lịch bền vững và bảo vệ môi trường liên vùng sẽ góp phần hình thành chuỗi giá trị và hạ tầng dùng chung, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, đồng thời tạo động lực phát triển mới mang tính lan tỏa cho cả vùng và đất nước.

5. Những giải pháp trọng tâm phát huy khoa học, công nghệ trong chuyển đổi xanh

Một là, hoàn thiện thể chế - tiêu chuẩn xanh dựa trên công nghệ. Bảo đảm việc lồng ghép mục tiêu phát triển xanh vào toàn bộ quá trình xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, coi đây là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tăng trưởng và mức độ bền vững. 

Việc ban hành và áp dụng bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn xanh cho các ngành kinh tế chủ lực, như du lịch, logistics, công nghiệp chế biến chế tạo và năng lượng sẽ tạo căn cứ pháp lý và kỹ thuật để tổ chức giám sát, đánh giá, đồng thời gắn với cơ chế khen thưởng, xử phạt công khai và minh bạch. 

Xây dựng và vận hành đồng bộ các công cụ tài chính xanh, như cơ chế thuế, phí môi trường, tín dụng ưu đãi và hợp đồng mua bán điện (PPA) linh hoạt, qua đó khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mạnh mẽ hơn vào đổi mới công nghệ sạch. 

Đây không chỉ là động lực để quá trình chuyển đổi xanh được triển khai một cách thực chất mà còn góp phần hình thành môi trường kinh doanh cạnh tranh, công bằng, minh bạch, nâng cao trách nhiệm xã hội của cộng đồng doanh nghiệp, hướng tới hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững gắn với cam kết quốc gia về phát thải ròng bằng “0”.

Hai là, xây dựng hệ thống dữ liệu và đo lường phát thải (MRV) cấp tỉnh một cách đồng bộ, hiện đại. Phát triển một nền tảng dữ liệu phát thải dùng chung, bảo đảm tính liên thông, minh bạch và khả năng khai thác hiệu quả giữa các ngành, lĩnh vực và cấp quản lý. 

Chuẩn hóa toàn bộ quy trình kiểm kê, giám sát, báo cáo và thẩm tra phát thải, áp dụng thống nhất cho doanh nghiệp và chính quyền địa phương, coi đây là công cụ pháp lý - kỹ thuật quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành các cam kết về khí hậu. 

Xây dựng bản đồ số carbon phản ánh đầy đủ các nguồn phát thải và bể hấp thụ trên địa bàn, coi đây là cơ sở khoa học phục vụ công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường. Việc tích hợp dữ liệu từ hệ thống quan trắc tự động, ảnh viễn thám và công nghệ GIS không chỉ giúp nâng cao năng lực giám sát theo thời gian thực mà còn hỗ trợ hiệu quả cho công tác dự báo, cảnh báo và quản trị rủi ro môi trường. 

Triển khai đồng bộ các giải pháp này, tỉnh Quảng Ninh sẽ từng bước xây dựng được một hạ tầng dữ liệu vững chắc, bảo đảm tính minh bạch, khách quan trong quản lý phát thải, đồng thời nâng cao năng lực hội nhập với các chuẩn mực quốc tế về thị trường carbon và phát triển bền vững.

Ba là, chuyển dịch năng lượng dựa trên công nghệ. Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch và chuẩn bị đầu tư các dự án điện gió, trong đó có cả điện gió ngoài khơi, phát triển điện mặt trời phù hợp với điều kiện quỹ đất và mái nhà, cũng như điện sinh khối trên cơ sở khai thác hợp lý tiềm năng sinh học của địa phương. 

Việc nghiên cứu và ứng dụng các giải pháp lưu trữ năng lượng, phát triển lưới điện thông minh là điều kiện tiên quyết để bảo đảm khả năng tích hợp hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo vào hệ thống điện, qua đó nâng cao độ tin cậy, ổn định và an toàn trong cung ứng. 

Triển khai thí điểm các mô hình microgrid tại các khu công nghiệp, đảo và khu vực ven biển, coi đây là hướng đi tiên phong để thử nghiệm và nhân rộng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến, góp phần giảm áp lực cho hệ thống điện quốc gia. 

Đồng thời, việc rà sóat và áp dụng các phương án kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu suất, giảm phát thải tại các cơ sở năng lượng hiện hữu là hết sức cần thiết, vừa bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có, vừa tạo điều kiện cho tiến trình chuyển dịch năng lượng diễn ra công bằng, tuần tự và bền vững.

Bốn là, công nghệ môi trường và kinh tế tuần hoàn. Tập trung đầu tư các trung tâm xử lý chất thải hiện đại, đạt chuẩn quốc tế, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ việc phân loại rác thải tại nguồn, qua đó giảm áp lực cho khâu xử lý cuối cùng và nâng cao hiệu quả quản lý chất thải. 

Trong các khu công nghiệp, việc mở rộng áp dụng các giải pháp tuần hoàn nước và năng lượng không chỉ giúp tiết kiệm tài nguyên mà còn góp phần giảm thiểu đáng kể lượng phát thải ra môi trường. 

Khuyến khích hình thành và phát triển các chuỗi giá trị tái chế, coi đây là động lực quan trọng để thúc đẩy ngành công nghiệp tái chế, tạo thêm việc làm xanh và giảm chi phí xã hội. 

Việc nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng các loại vật liệu xây dựng xanh, thân thiện với môi trường sẽ góp phần định hình xu hướng phát triển mới cho ngành xây dựng - một trong những lĩnh vực tiêu thụ nhiều tài nguyên và có mức phát thải lớn. 

Chú trọng công tác phục hồi và bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên, như rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, kết hợp với phát triển du lịch sinh thái và giáo dục môi trường. 

Đây vừa là giải pháp công nghệ - sinh thái, vừa mang tính nhân văn sâu sắc, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường, đồng thời gia tăng sức hấp dẫn và lợi thế cạnh tranh của tỉnh Quảng Ninh như một điểm đến du lịch xanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Năm là, phát triển nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo xanh. Thành lập hoặc kiện toàn Trung tâm đổi mới sáng tạo xanh, coi đây là “đầu mối” kết nối, nghiên cứu, thử nghiệm và lan tỏa các mô hình công nghệ tiên tiến phục vụ phát triển bền vững. 

Việc hình thành Quỹ đổi mới sáng tạo xanh nhằm hỗ trợ các dự án thí điểm sẽ khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân mạnh dạn đầu tư, thử nghiệm và nhân rộng các giải pháp công nghệ mới, có hiệu quả trong giảm phát thải và bảo vệ môi trường. 

Đặc biệt, nhiệm vụ đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho đội ngũ lao động ngành than - lực lượng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu việc làm của tỉnh Quảng Ninh cần được đặt ở vị trí ưu tiên hàng đầu. 

Đẩy mạnh liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp để thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, đồng thời gắn kết công tác đào tạo với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động xanh. 

Thông qua đó, từng bước hình thành đội ngũ nhân lực có tri thức, kỹ năng và bản lĩnh đổi mới sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới, góp phần khẳng định vai trò tiên phong của tỉnh Quảng Ninh trong tiến trình chuyển đổi xanh quốc gia.

Sáu là, phát triển tài chính xanh và cơ chế huy động vốn, đồng thời thiết kế các cơ chế huy động vốn đa dạng và bền vững. Việc phát hành trái phiếu xanh cấp tỉnh không chỉ mở ra kênh huy động vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng xanh, mà còn góp phần nâng cao uy tín, hình ảnh của địa phương trong mắt các nhà đầu tư trong và ngoài nước. 

Việc triển khai mạnh mẽ mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong phát triển hạ tầng xanh sẽ mở rộng không gian thu hút nguồn vốn xã hội, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, đồng thời nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong hoạt động đầu tư. 

Tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng doanh nghiệp tiếp cận các gói tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi và cơ chế linh hoạt, qua đó khuyến khích mạnh mẽ hơn việc đầu tư vào những dự án công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường. 

Một hướng đi quan trọng khác là nghiên cứu và thí điểm cơ chế tín chỉ carbon tự nguyện, gắn với các dự án trồng và bảo vệ rừng ngập mặn cùng các sáng kiến giảm phát thải quy mô địa phương. 

Đây vừa là giải pháp tài chính sáng tạo, vừa góp phần hiện thực hóa cam kết quốc gia về phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, đồng thời khẳng định trách nhiệm và vai trò tiên phong của tỉnh Quảng Ninh trong phát triển kinh tế xanh, bền vững và hội nhập quốc tế.

Bảy là, tăng cường liên kết vùng và hợp tác quốc tế. Chủ động phối hợp với các địa phương lân cận trong công tác bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái liên tỉnh, nhất là các vùng ven biển, rừng ngập mặn và lưu vực sông, nhằm bảo đảm tính gắn kết tự nhiên và duy trì cân bằng sinh thái bền vững. 

Tích cực tham gia các mạng lưới tỉnh, thành phố xanh trong khu vực và trên thế giới để học hỏi kinh nghiệm, tiếp nhận mô hình quản trị tiên tiến, tiêu chuẩn công nghệ hiện đại cũng như chia sẻ những thực tiễn tốt trong tiến trình chuyển đổi xanh. 

Đây sẽ là kênh quan trọng để địa phương hội nhập sâu rộng, tiếp cận các nguồn lực tri thức, đồng thời nâng cao vị thế quốc tế. Tận dụng hiệu quả các quỹ khí hậu toàn cầu, các chương trình hợp tác kỹ thuật song phương và đa phương nhằm bổ sung nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm, tạo động lực mạnh mẽ hơn cho tiến trình hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững. 

Qua đó, tỉnh Quảng Ninh không chỉ khẳng định vai trò tiên phong trong phát triển kinh tế xanh của cả nước, mà còn đóng góp tích cực vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu, vì một tương lai phát triển hài hòa, xanh và bền vững./.



[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 331.

[2] GIS là Hệ thống Thông tin Địa lý, một hệ thống máy tính thu thập, lưu trữ, quản lý, phân tích và hiển thị dữ liệu có tham chiếu đến vị trí trên Trái Đất. Mục tiêu của GIS là hiểu sâu hơn các mối quan hệ không gian thông qua phân tích dữ liệu vị trí, hỗ trợ ra quyết định trong nhiều lĩnh vực như quản lý tài nguyên, quy hoạch đô thị và môi trường.

[3] MRV carbon (MRV - Đo lường, Báo cáo và Xác minh) là một hệ thống quan trọng trong thị trường carbon, bao gồm quy trình đo lường lượng phát thải hoặc hấp thụ carbon, Báo cáo các kết quả đo và Xác minh chúng bởi bên thứ ba độc lập, nhằm đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của các tín chỉ carbon. MRV là nền tảng để chứng minh sự giảm phát thải thực tế, giúp các quốc gia, doanh nghiệp và dự án đáp ứng các mục tiêu khí hậu, tham gia thị trường carbon và tăng cường tính minh bạch

[4] JETP là viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Just Energy Transition Partnership”, nghĩa là “Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng”. Đây là một cơ chế huy động tài chính quy mô lớn được thiết kế để hỗ trợ một số quốc gia đang phát triển đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng sạch một cách công bằng và bền vững

Việt Nam đã tham gia JETP cùng với Nhóm các đối tác quốc tế (IPG) bao gồm Liên minh châu Âu, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Italia, Canada, Pháp, Na Uy và Đan Mạch. Thỏa thuận được công bố vào tháng 12-2022

    Nổi bật
        Mới nhất
        Ứng dụng khoa học, công nghệ để chuyển đổi xanh hướng đến phát triển kinh tế bền vững ở tỉnh Quảng Ninh
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO