Tục “kết chạ” ở Vĩnh Phúc xưa: Khởi nguồn của tinh thần đoàn kết đại đoàn kết
Ở tỉnh Vĩnh Phúc xưa, nay là tỉnh Phú Thọ, có tục “kết chạ” từ lâu đời. Vốn là chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, trên vùng đất Vĩnh Phúc cổ đã có từng tập đoàn người Việt cổ gồm một số dòng họ nào đó đã sớm tụ cư, bám trụ trong một không gian xã hội và môi trường nhất định thành từng đơn vị gọi là Chạ, Trang, Kẻ, Làng...

Các làng, chạ thường sống theo những luật tục, hương ước chung, đồng thời mỗi làng chạ cụ thể lại có những qui định riêng. Dân gian có câu: “Trống làng nào làng ấy đánh/ Thánh làng nào làng ấy thờ”.
Thực vậy, làng, chạ - cái từ thuần Việt với tổ chức nền tảng vững chắc của xã hội người Việt cổ, nước Việt cổ thời Văn Lang ấy - tự nó cùng với các lễ thức truyền thống đã nói lên cái sức mạnh bản địa và tính dân tộc, tính địa phương sâu sắc.
Trong cuốn “Lịch sử Việt Nam” tập I có đoạn viết : “Theo lời thú nhận của Tiết Tống thái thú Giao Chỉ đầu đời Ngô (thế kỷ III) thì dưới thời Hán, tại miền đất Giao Chỉ nhiều nơi Trưởng hạt tuy có cũng như không. Chính quyền đô hộ không khống chế nổi cơ sở bên dưới của xã hội. Các làng xã người Việt vẫn là những bầu trời riêng”.
Xã hội của làng quê Việt cổ là xã hội tiểu nông, người nông dân thỏa mãn với mô hình gia đình: “Trên đồng cạn dưới đồng sâu/ Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”. Ở mỗi làng, qua hội làng với các trò “tứ dân”, “trình nghề”, “sĩ nông công cổ”, “bách nghệ khôi hài”,... đều gồm có 4 giới, 4 thành phần cấu tạo nên làng, chạ: kẻ sĩ, nhà nông, thợ thủ công, người đi buôn.
Vậy là mỗi làng tự nó đã khép kín trong sinh hoạt, sống bằng nền kinh tế tự cấp tự túc tối thiểu, không liên hệ với bên ngoài. Ngay trong mối quan hệ có thể mở rộng nhất là hôn nhân, lệ làng cũng đề ra những điều khắt khe để gái làng không thể lấy chồng ngoài làng.
Về cấu trúc ngoại hình, làng thường được bao bọc bằng một luỹ tre, mà trong rất nhiều trường hợp, luỹ tre, cổng làng chính là thành lũy kiên cố bảo vệ an ninh, an toàn cho làng khi có biến, có trộm cướp hoặc có giặc ngoại xâm. Thêm vào đó, quanh lũy tre là cả cánh đồng rộng lớn bao bọc, làm cho làng nọ thêm xa cách với làng kia về không gian và như vậy sẽ dẫn đến xa cách về tâm lý.
Nhưng cuộc sống diễn biến một cách uyển chuyển và có quy luật tất yếu của nó. Xã hội tiểu nông và thành phần tứ dân của người làng đã tự nó mở ra 2 mối liên hệ trong và ngoài. Trước hết đã là nông nghiệp lúa nước thì việc thủy lợi bao giờ cũng được coi là hàng đầu.
Lẽ nào thửa ruộng này với thửa ruộng kia, cánh đồng này với cánh đồng kia lại không cùng chung một dòng nước, cùng chung một nguồn nước cho nông vụ? Thế là ra đời mối liên hệ thứ nhất giữa các làng ở liền nhau. Mối quan hệ nguồn nước càng dài, sự liên hệ giữa các làng càng mở rộng.
Và nếu như trong tứ dân có người đi buôn, trước hết người ta buôn bán ban đầu là trao đổi sản phẩm dư thừa thông qua các chợ: chợ đình, chợ chùa, chợ đầu đê, chợ làng, chợ tổng, chợ huyện; có chợ họp hằng ngày (chợ hôm), có chợ họp từng ngày ấn định trong một tháng âm lịch (chợ phiên)... Mạng lưới chợ quê đã mặc nhiên tạo ra mối liên kết khác giữa dân các làng với nhau.
Trong một hoàn cảnh nào đó, hoặc do một yêu cầu nào đó, làng quê xưa đã sinh ra một tục lệ: tục kết nghĩa giữa các làng (kết nước nghĩa, kết cha...). Hằng năm có các cuộc “đi nước nghĩa” giao hiếu giữa 2 làng, 3 làng, 4 làng, có khi nhiều làng hơn nữa (ở huyện Vĩnh Tường cũ có một số làng cùng với một số làng bên kia sông Hồng cùng chung một ngày tiệc vì cùng thờ Lý Nhã Lang, gọi là “tiệc 18 xã”. 18 xã này vẫn đi lại với nhau như anh em). Những làng kết nghĩa, kết chạ có mối quan hệ rất thân tình, thậm chí còn rất thiêng liêng.
Thời xưa nhất, người ta quy tụ cộng đồng người theo huyết thống. Khi khối người trong cộng đồ quá đông (có thể so với tương quan đất canh tác, đất thổ cư...), người ta phải tách ra thành 2 cộng đồng. Nhưng vì cùng một cụ tổ, cùng huyết thống nên 2 cộng đồng này vẫn sống theo quy ước với nhau, kết nghĩa ruột già, giữ trọn vẹn bên tình bên nghĩa dòng họ.
Hằng năm người ta vẫn tìm về với nhau trong nhiều dịp, nhất là dịp tết và dịp hội làng. Hai cộng đồng vẫn có hội làng riêng, song thường tổ chức rước thần thánh sang nhau cầu tế. Vì lẽ đó, tục kết chạ, kết nước nghĩa có những biểu hiện cảm động và những quy ước chặt chẽ kèm theo.
Đầu tiên là lối xưng hô với nhau. Cả làng nọ gọi làng kia là anh, hoặc quan anh và tự mình xưng là em, hoặc quan em. Và ngược lại. Mỗi thành viên của làng này cũng xưng hô với thành viên của làng kia như thế (tức là quan hệ hai chiều đồng đẳng).
Làng Thổ Tang (huyện Vĩnh Tường cũ) kết nghĩa với làng Lưỡng Quán (huyện Yên Lạc cũ) gọi Lưỡng Quán là quan anh Lưỡng Quán. Và ngược lại Lưỡng Quán cũng xưng hô như vậy với Thổ Tang.
Có lẽ bởi ban đầu việc chia đôi làng và hình thành “kết chạ” như vậy, nên 2 làng kết chạ với nhau thì trai làng này không được lấy gái làng kia và ngược lại.
Trường hợp tục “kết chạ” liên quan nhiều tỉnh với nhau vẫn giữ những nền nếp tục lệ như vậy. Ví dụ các làng Thổ Tang, Phương Viên (huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc cũ), các làng Cao Xá, Tứ Xá (huyện Phong Châu, Phú Thọ cũ) và làng Đồng Bảng (huyện Tùng Thiện, Sơn Tây cũ) cùng thờ Đức Lân Hổ Đô Thống Đại Vương (quê gốc ở Đồng Bảng, đánh giặc Nguyên Mông ở Vĩnh Phúc, hy sinh ở Phú Thọ). Các làng trên trước đây thuộc 3 tỉnh, nhưng vẫn đi lại với nhau theo tục “nước nghĩa”.
Căn cứ vào yêu cầu, nội dung quan hệ có thể phân loại các kiểu kết chạ như sau:
1) Kết nghĩa do cùng dòng máu (kiểu cổ nhất, và lý do cơ bản nhất, sâu sắc nhất); 2) Kết nghĩa do cùng thờ một vị thần hoặc cùng dòng họ của thần; 3) Kết nghĩa để tăng sức mạnh chống giặc cướp, bảo vệ an ninh chung cho 2 làng; 4) Kết nghĩa để tương trợ nhau trong lao động sản xuất; 5) Kết nghĩa nhằm mục đích nghệ thuật, tín ngưỡng và một phần giải trí (ví như Hội Xoan Phủ Đức, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ cũ kết nghĩa với các làng Đức Bác, Tử Du huyện Lập Thạch, với các làng Hạ Chuế, Hoàng Xá, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc cũ).
Loại trừ yếu tố tiêu cực như chè chén tốn phí quá nhiều, tục kết nghĩa làng chạ với những nội dung đa dạng phong phú như trên, tự nó đem lại những hiệu quả tốt đẹp, trực tiếp và gián tiếp, trước mắt và lâu dài trong sinh hoạt của nhân dân ta trong nhiều thế kỷ qua.
Đó chính là khởi nguồn của nhận thức “Động vi binh Tĩnh vi dân”, của câu tục ngữ “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, của khí thế ngút trời do các bô lão tạo nên trong Hội nghị Diên Hồng thời Trần... Đó cũng là khởi nguồn của tinh thần: “Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết/ Thành công thành công đại thành công” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi đến toàn thể đồng bào ta tại Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II năm 1961./.
