Từ nghị quyết đến kết quả - năng lực thực thi trong kỷ nguyên phát triển mới
Đại hội XIV của Đảng mở ra một giai đoạn phát triển mới với mục tiêu cao hơn, tầm nhìn xa hơn và khát vọng lớn hơn. Những định hướng chiến lược về mô hình tăng trưởng, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, hoàn thiện thể chế, phát triển doanh nghiệp, hội nhập quốc tế, văn hóa và con người đã tạo nên một khuôn khổ phát triển ngày càng rõ nét.
.jpg)
TS Nguyễn Sĩ Dũng
Đại hội XIV của Đảng mở ra một giai đoạn phát triển mới với mục tiêu cao hơn, tầm nhìn xa hơn và khát vọng lớn hơn. Những định hướng chiến lược về mô hình tăng trưởng, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, hoàn thiện thể chế, phát triển doanh nghiệp, hội nhập quốc tế, văn hóa và con người đã tạo nên một khuôn khổ phát triển ngày càng rõ nét.
Có thể nói, câu hỏi đất nước cần đi về đâu đã cơ bản được trả lời. Nhưng chính khi phương hướng đã rõ, một câu hỏi khác lại trở nên cấp bách hơn: điều gì bảo đảm những tư tưởng lớn và những quyết sách lớn ấy trở thành hiện thực?
Nếu trước đây, thách thức chủ yếu là xây dựng được nghị quyết đúng, thì trong giai đoạn mới, thách thức quyết định là biến nghị quyết đúng thành kết quả phát triển. Bởi chủ trương, dù đúng đắn đến đâu, cũng mới chỉ tạo ra khả năng.
Khả năng ấy có trở thành tăng trưởng, sức cạnh tranh, dịch vụ công tốt hơn và đời sống nhân dân được nâng cao hay không phụ thuộc vào năng lực tổ chức thực hiện.
Khoảng cách từ nghị quyết đến kết quả, xét đến cùng, chính là khoảng cách của năng lực thực thi.

Đại hội XIV đã trả lời câu hỏi: “Đi đâu?”
Mỗi giai đoạn phát triển đều đặt ra một câu hỏi trung tâm. Khi đất nước còn nhiều khó khăn, câu hỏi chủ yếu là làm thế nào thoát khỏi trì trệ, duy trì ổn định và tạo lập nền tảng phát triển.
Khi quy mô và vị thế quốc gia được nâng lên, câu hỏi không còn chỉ là tăng trưởng nhanh hơn, mà là phát triển theo mô hình nào để đi xa hơn, bền vững hơn và tự chủ hơn.
Đại hội XIV đã đặt câu hỏi phát triển ở tầm cao đó.
Điểm nổi bật trước hết là sự chuyển dịch từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng nguồn lực sang phát triển dựa nhiều hơn vào chất lượng, năng suất, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực nội sinh.
Đất đai, vốn, tài nguyên và lao động vẫn quan trọng, nhưng không còn đủ để tạo ra lợi thế dài hạn. Giá trị mới phải được hình thành từ tri thức, công nghệ, chất lượng thể chế, năng lực doanh nghiệp và trình độ tổ chức của toàn xã hội.
Cùng với đó là sự chuyển từ tư duy quản lý phát triển sang tư duy kiến tạo phát triển. Nhà nước không chỉ kiểm soát và phân bổ, mà phải tạo lập môi trường để các chủ thể đầu tư, sáng tạo và cạnh tranh.
Thể chế không chỉ phòng ngừa rủi ro, mà còn phải mở đường cho cái mới, giải phóng nguồn lực và khuyến khích những hành vi tạo ra giá trị.
Đại hội XIV cũng xác lập cách tiếp cận phát triển mang tính hệ thống hơn. Kinh tế không thể tách rời văn hóa; công nghiệp hóa không thể thành công nếu thiếu khoa học, công nghệ và nhân lực chất lượng cao; hội nhập không thể tạo ra sức mạnh nếu năng lực nội tại yếu; tăng trưởng cũng không thể đánh đổi bằng môi trường, công bằng xã hội hay niềm tin.
Có thể nói, câu hỏi chiến lược “Việt Nam phải phát triển theo con đường nào?” đã cơ bản có lời giải: phát triển nhanh nhưng bền vững; hiện đại nhưng tự chủ; hội nhập sâu nhưng giữ vững lợi ích quốc gia; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và con người làm động lực; lấy thể chế và năng lực quản trị làm điều kiện bảo đảm.
Mỗi bước chuyển hóa đều đòi hỏi năng lực tương ứng. Từ nghị quyết đến thể chế cần khả năng cụ thể hóa đúng tinh thần chính trị thành quy tắc pháp lý. Từ thể chế đến chính sách cần công cụ phù hợp. Từ chính sách đến hành động cần nguồn lực, tổ chức, cán bộ và sự phối hợp. Từ hành động đến kết quả lại cần giám sát, đo lường, điều chỉnh và trách nhiệm.
TS Nguyễn Sĩ Dũng
Câu hỏi còn lại là: “Đi bằng cách nào?”
Trong tư duy chính sách truyền thống, thực thi thường được xem là khâu sau cùng. Đường lối được hoạch định, chính sách được ban hành, sau đó bộ máy có trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Cách hiểu này dễ dẫn đến một ngộ nhận: chỉ cần chủ trương đúng, chính sách tốt và quyết tâm đủ mạnh thì kết quả sẽ tự nhiên xuất hiện.
Thực tế phức tạp hơn nhiều.
Nghị quyết không đi trực tiếp vào cuộc sống. Nó phải được chuyển hóa qua một chuỗi mắt xích: nghị quyết → thể chế → chính sách → nguồn lực → hành động → kết quả.
Mỗi bước chuyển hóa đều đòi hỏi năng lực tương ứng. Từ nghị quyết đến thể chế cần khả năng cụ thể hóa đúng tinh thần chính trị thành quy tắc pháp lý.
Từ thể chế đến chính sách cần công cụ phù hợp. Từ chính sách đến hành động cần nguồn lực, tổ chức, cán bộ và sự phối hợp. Từ hành động đến kết quả lại cần giám sát, đo lường, điều chỉnh và trách nhiệm.
Chỉ cần một mắt xích vận hành yếu, toàn bộ chuỗi có thể chậm lại hoặc sai lệch. Một nghị quyết có thể đúng nhưng chậm được thể chế hóa; một chính sách có thể tốt nhưng thiếu nguồn lực; một nhiệm vụ có thể được giao cho nhiều cơ quan nhưng không xác định ai chịu trách nhiệm cuối cùng; một chương trình có thể hoàn thành thủ tục nhưng không tạo ra tác động mong muốn.

Năng lực thực thi quốc gia là khả năng của toàn bộ hệ thống trong việc biến mục tiêu chiến lược thành kết quả phát triển thông qua thể chế rõ ràng, tổ chức hiệu quả, đội ngũ có năng lực, nguồn lực được bảo đảm và trách nhiệm được xác lập.
TS Nguyễn Sĩ Dũng
Vấn đề khi ấy không còn nằm ở ý tưởng ban đầu, mà ở năng lực chuyển hóa ý tưởng thành kết quả. Bởi vậy, thực thi không nên chỉ được hiểu là khâu cuối của quá trình chính sách.
Thực thi chính là năng lực chuyển hóa: chuyển hóa ý chí chính trị thành thể chế, thể chế thành hành động và hành động thành những thay đổi có thể đo lường trong thực tiễn.
Từ góc nhìn đó, năng lực thực thi quốc gia là khả năng của toàn bộ hệ thống trong việc biến mục tiêu chiến lược thành kết quả phát triển thông qua thể chế rõ ràng, tổ chức hiệu quả, đội ngũ có năng lực, nguồn lực được bảo đảm và trách nhiệm được xác lập.
Quyết tâm là cần thiết, nhưng chưa đủ. Không thể yêu cầu cán bộ hành động nhanh nếu thẩm quyền không rõ; không thể đòi hỏi địa phương chịu trách nhiệm nếu quyền quyết định và nguồn lực vẫn tập trung ở nơi khác; không thể khuyến khích đổi mới nếu cơ chế đánh giá chỉ ưu tiên sự an toàn; cũng không thể quản trị theo kết quả nếu mục tiêu không được lượng hóa và dữ liệu không đầy đủ.
Thực thi, vì thế, không chỉ là vấn đề của ý chí, mà trước hết là vấn đề của thiết kế hệ thống.
Điều này càng quan trọng khi các mục tiêu phát triển ngày nay đều mang tính liên ngành. Nếu mỗi cơ quan chỉ hoàn thành phần việc riêng của mình, mục tiêu chung rất dễ bị chia cắt. Khi đó, có thể xuất hiện một nghịch lý: từng bộ phận đều đúng quy trình, nhưng toàn hệ thống vẫn không đạt kết quả.
Khắc phục nghịch lý ấy đòi hỏi chuyển từ quản lý công việc sang quản trị kết quả; từ phân công theo chức năng sang phối hợp theo mục tiêu; từ trách nhiệm tập thể chung chung sang trách nhiệm cá nhân rõ ràng; từ báo cáo những việc đã làm sang đo lường những thay đổi đã tạo ra.

Quốc gia cạnh tranh bằng năng lực thực thi
Trong kỷ nguyên phát triển mới, cạnh tranh giữa các quốc gia không còn chủ yếu là cạnh tranh về tài nguyên hay lao động giá rẻ. Điều ngày càng tạo nên khác biệt là năng lực biến ý tưởng thành hành động, biến chính sách thành kết quả và biến cơ hội thành động lực phát triển.
Trước hết, năng lực thực thi quyết định tốc độ phát triển. Trong một thế giới biến động nhanh, cơ hội đầu tư, công nghệ hay thị trường đều có “tuổi thọ” rất ngắn.
Một dự án chậm vài tháng có thể đồng nghĩa với mất lợi thế cạnh tranh; một chính sách chậm vài năm có thể khiến cả một ngành kinh tế bỏ lỡ cơ hội bứt phá. Vì vậy, tốc độ thực thi đang trở thành một yếu tố của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ hai, năng lực thực thi quyết định hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đất đai, vốn đầu tư, khoa học - công nghệ hay nguồn nhân lực chỉ là tiềm năng. Chúng chỉ trở thành của cải khi được tổ chức và vận hành hiệu quả.
Cùng một nguồn lực, quốc gia có năng lực thực thi tốt sẽ tạo ra nhiều giá trị hơn, chi phí thấp hơn và tăng trưởng bền vững hơn. Xét đến cùng, chênh lệch về trình độ phát triển giữa các quốc gia ngày nay phần lớn là chênh lệch về năng lực chuyển hóa nguồn lực thành kết quả.

Quan trọng hơn, năng lực thực thi quyết định niềm tin của nhân dân. Người dân không đánh giá một chủ trương qua những lời hứa hay những văn bản được ban hành, mà qua những thay đổi họ cảm nhận trong cuộc sống hằng ngày.
Một nền hành chính minh bạch hơn, thủ tục thuận tiện hơn, môi trường kinh doanh tốt hơn hay một dự án hoàn thành đúng tiến độ đều là những minh chứng cụ thể cho hiệu quả của sự lãnh đạo. Chính kết quả thực tiễn là nền tảng bền vững nhất của niềm tin xã hội.
Bởi vậy, trong kỷ nguyên phát triển mới, năng lực thực thi không chỉ là một yêu cầu của quản trị nhà nước, mà đang trở thành một dạng năng lực cạnh tranh quốc gia.
Khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển chất lượng cao, yêu cầu đặt ra không chỉ là đề ra đúng, mà còn phải thực hiện thành công. Một nghị quyết chỉ thật sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành những thay đổi cụ thể trong đời sống kinh tế - xã hội.
TS Nguyễn Sĩ Dũng
Từ năng lực thực thi đến năng lực cầm quyền hiện đại
Điều đáng chú ý là yêu cầu nâng cao năng lực thực thi không chỉ đặt ra đối với bộ máy hành chính, mà còn phản ánh một bước phát triển mới trong nhận thức về năng lực cầm quyền của Đảng.
Trong các giai đoạn trước, năng lực lãnh đạo thường được thể hiện trước hết ở khả năng hoạch định đường lối, đề ra chủ trương đúng và tập hợp sức mạnh toàn dân tộc. Đó vẫn là nền tảng không thể thay thế.
Tuy nhiên, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển chất lượng cao, yêu cầu đặt ra không chỉ là đề ra đúng, mà còn phải thực hiện thành công. Một nghị quyết chỉ thật sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành những thay đổi cụ thể trong đời sống kinh tế - xã hội.
Vì vậy, năng lực cầm quyền ngày nay cần được nhìn nhận đầy đủ hơn: không chỉ là năng lực hoạch định, mà còn là năng lực tổ chức thực hiện; không chỉ là năng lực ban hành quyết sách, mà còn là năng lực tạo ra kết quả.
Đó cũng chính là tinh thần xuyên suốt trong nhiều chủ trương lớn gần đây của Đảng: lấy hiệu quả thực hiện làm thước đo, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm, đổi mới phương thức lãnh đạo, hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ.
Tóm lại, lịch sử phát triển của mỗi quốc gia luôn được quyết định bởi 2 năng lực: năng lực lựa chọn đúng con đường và năng lực đi đến đích.
Đại hội XIV đã xác lập ngày càng rõ con đường phát triển của đất nước. Việc còn lại là xây dựng một năng lực thực thi đủ mạnh để biến khát vọng phát triển thành hiện thực.
Đó không chỉ là yêu cầu của cải cách hành chính hay nâng cao hiệu lực quản trị nhà nước. Sâu xa hơn, đó là yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới./.
