Tư duy đột phá trong phát triển giáo dục - đào tạo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh

ThS. Nguyễn Thị Phương* - TS. Lê Thị Thanh Tâm** 18/12/2025 17:04

Những năm qua, tỉnh Quảng Ninh luôn quan tâm, chú trọng phát triển giáo dục - đào tạo, coi đây là động lực để phát triển nhanh, bền vững kinh tế xã hội toàn tỉnh. Quán triệt những định hướng, chỉ đạo của Hội nghị Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Quảng Ninh đã ban hành hàng loạt cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ giáo dục - đào tạo từ bậc mầm non đến đại học, tạo động lực cho thi đua học tốt, dạy tốt, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Những điểm mới về phát triển giáo dục - đào tạo trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Trải qua gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, hệ thống các quan điểm của Đảng về phát triển giáo dục - đào tạo được ban hành, thể hiện sự tiếp nối, kế thừa các nghị quyết trước đây. Những quan điểm chỉ đạo, đường lối phát triển giáo dục - đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, là cơ sở, tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, được Đảng ta xác định là một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, được thể hiện qua một số điểm nhấn sau:

Thứ nhất, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Đẩy nhanh thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, trọng tâm là hiện đại hóa và thay đổi phương thức giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài; có chính sách vượt trội để thu hút, trọng dụng nhân tải, chuyên gia cả trong và ngoài nước. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức có phẩm chất tốt, chuyên nghiệp, tận tụy, phục vụ Nhân dân”[1]. Đại hội XIII yêu cầu đẩy nhanh và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, trọng tâm là hiện đại hóa và thay đổi phương thức giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Nghĩa là vừa phải tăng tốc, vừa phải bảo đảm chất lượng, tập trung vào hiện đại hóa và đổi mới phương thức giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. “Các quan điểm trên không chỉ thể hiện sự phát triển về tư duy, nhận thức, kế thừa chủ trương nhất quán của Đảng ta qua các giai đoạn lịch sử, coi trọng sự nghiệp giáo dục và đào tạo, mà còn là vấn đề mang tính chiến lược xuyên suốt, bám sát xu thế phát triển của nhân loại, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, luôn đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”[2].

Sau gần 40 năm đổi mới, nền giáo dục - đào tạo nước ta đã có những chuyển biến tích cực. Chất lượng từng bước được nâng lên, hệ thống giáo dục quốc dân tiếp tục được hoàn thiện, mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo tiếp tục được mở rộng ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học. Vai trò, vị trí các cơ sở giáo dục, nhất là giáo dục đại học trong hệ thống dần được khẳng định, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm được đề cao; chất lượng đào tạo từng bước được cải thiện, hệ thống chương trình đã được đổi mới, chú trọng phát triển các phẩm chất, năng lực cho học sinh; phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực cũng được chú trọng. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên được đẩy mạnh. Hợp tác quốc tế được tăng cường theo hướng chủ động, tích cực đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành giáo dục, cũng như yêu cầu phát triển bền vững, hội nhập quốc tế của đất nước.

Thứ hai, phát triển giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trong Báo cáo chính trị tập trung đề cập đến giáo dục và đào tạo ở mục V, so với Đại hội XII, tên đề mục đã thay cụm từ “phát triển” bằng cụm từ “nâng cao” chất lượng nguồn nhân lực và thêm cụm từ “phát triển con người”[3]. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, vấn đề này được đề cập ở tiểu mục 3, phần V, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, với tiêu đề: phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế. Điểm mới lần này, trực tiếp đề cập đến giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế, trước đây chỉ nhấn mạnh “phát triển nhanh giáo dục và đào tạo”[4].

Văn kiện Đại hội XIII tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo, yêu cầu phải “Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước”[5]. Trước đây chỉ đề cập phương hướng chung: giáo dục là quốc sách hàng đầu. Văn kiện Đại hội XIII yêu cầu xác định rõ mục tiêu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn tới, nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc và “Chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc,... khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[6]. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế, do vậy phải đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người. Trước đây chỉ đề cập: “chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức”[7], Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh: Đổi mới chế độ tuyển dụng, sử dụng, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, chú ý phát hiện, bồi dưỡng, đãi ngộ, thu hút nhân tài cho phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt; bảo đảm thống nhất với chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo. Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, nhất là ở nông thôn; giảm tỷ lệ lao động khu vực phi chính thức. Hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng lao động.

Đại hội XIII xác định: “Tiếp tục phát triển toàn diện nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, lỏng tự hào dân tộc, ý chí tự cường và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam”[8]. Điểm mới được chỉ ra, đó là: (i) Nếu Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh phát triển nhanh nguồn nhân lực, Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh chất lượng nguồn nhân lực thì Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phát triển toàn diện nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ. Tức là gắn phát triển nguồn nhân lực không chỉ với giáo dục, đào tạo mà còn với khoa học, công nghệ; (ii) Gắn phát triển nguồn nhân lực với khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự cường và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam. Đây là điểm mới hoàn toàn, lần đầu tiên được ghi nhận trong văn kiện. Điều này hoàn toàn đúng, bởi lẽ, nguồn nhân lực là quan trọng chi khi nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu và khơi dậy được khát vọng phát triển đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự cường và phát huy giá trị văn hóa của chính nguồn nhân lực.

Một điểm mới tiếp theo đó là việc chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài. Nếu như các đại hội trước chỉ chú trọng nhân tài, chưa chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao, Đại hội XIII đã chú ý tới xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức có phẩm chất tốt, chuyên nghiệp, tận tụy, phục vụ nhân dân, đồng thời đưa đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức vào nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là điểm mới hoàn toàn về cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao và phù hợp thực tế Việt Nam.

Thứ ba, chuyển từ quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học

Một trong những điểm nhấn được đặc biệt chú trọng trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về phát triển giáo dục đó là “chuyển từ quá trình giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất người học”[9]. Điều này khẳng định tính kế thừa, sự nhất quán trong quan điểm của Đảng ta coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; đồng thời thể hiện sự nhanh nhạy của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc thích ứng với xu thế thời đại, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, thành tựu của giáo dục và đào tạo trên thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Có thể nói, đây là bước chuyển đụng tới những vấn đề cốt lõi của giáo dục, đó là sứ mệnh, mục tiêu giáo dục và chương trình, cách dạy, cách học, cách đánh giá giáo dục nhằm xây dựng một nền giáo dục phát triển năng lực sẵn có của người học.

Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động đến hầu hết các lĩnh vực đời sống xã hội của các quốc gia trên thế giới, trong đó có ngành giáo dục. Với ý nghĩa là yếu tố hàng đầu tạo nên chất lượng nguồn nhân lực - nguồn lực quan trọng nhất trong các nguồn lực, tài nguyên quý báu nhất trong các nguồn tài nguyên, giáo dục và đào tạo chính là “chìa khóa” gia tăng sức mạnh của các quốc gia. Trong khi đó, thế giới xuất hiện hàng loạt vấn đề có tính chất toàn cầu, từ biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, đến những biến động địa - chính trị, quân sự..., đòi hỏi các quốc gia muốn tồn tại và phát triển phải đào tạo thế hệ tương lai không chỉ có tri thức, mà còn phải có năng lực, kỹ năng xử lý hàng loạt vấn đề liên tục phát sinh, đặc biệt là khả năng thích ứng cao trước mọi biến động của thời cuộc với trách nhiệm của những công dân toàn cầu. Do vậy, phải xây dựng nền giáo dục Việt Nam nhân bản, phát huy cao nhất mọi năng lực, phẩm chất vốn có của con người, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trong khu vực và tiến dần ra thế giới.

Đối với việc chuyển quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, mục tiêu giáo dục được chú trọng cả yêu cầu đối với xã hội và cá nhân. Mục tiêu hàng đầu là đạt được những chuẩn mực cao nhất về kết quả học tập thông qua các chương trình giáo dục sao cho mọi học sinh, sinh viên phát huy được đầy đủ các tiềm năng cá nhân, đồng thời có được những giá trị cần thiết để trở thành các thành viên trọn vẹn của xã hội. Con người, với tư cách là sản phẩm của giáo dục, phải vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội. Yêu cầu phát triển nhân cách người học phải được đề cao. Yêu cầu này buộc giáo dục phải chuyển từ mô hình tiếp cận nội dung sang mô hình tiếp cận năng lực. “Đây là mô hình giáo dục trong đó việc dạy, học, đánh giá và giải trình dựa trên những kết quả học tập đầu ra của chương trình giáo dục, tức là dựa trên những thứ mà người học biết, hiểu và có thể thực hiện sau khi kết thúc một giai đoạn học tập hoặc một đơn vị học tập. Những thay đổi trên, cùng với việc nhận thức lại sứ mệnh và mục tiêu giáo dục đã chuyển người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy và học”[10]. Với môi trường giáo dục thay đổi nhanh chóng và khó lường, kiến thức là việc phải theo đuổi và cập nhật suốt đời, người học cần năng lực để ứng phó với sự thay đổi. Do đó, cần chuyển từ “học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý dạy và học trực tuyến, qua internet, truyền hình, các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế”[11].

Thứ tư, xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển giáo dục Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Giáo dục là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt nhằm bảo tồn và phát triển những giá trị của xã hội, của dân tộc. Do đó, giáo dục trước hết là lợi ích công, không thể xem giáo dục là dịch vụ thương mại như các lĩnh vực dịch vụ hàng hóa thông thường, không thể có “thị trường giáo dục”; không thể “thị trường hóa”, “thương mại hóa” giáo dục một cách thuần túy. Nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo trong việc định hướng phát triển giáo dục, bảo đảm điều kiện hoạt động cho giáo dục, vừa tạo ra những động lực tiềm tàng cho giáo dục phát triển đồng thời làm cho sự phát triển ấy bảo đảm mục tiêu vì con người, vì xã hội. Hoạt động của những người làm công tác giáo dục là vì lợi ích của người học và lợi ích của xã hội. Giá trị sử dụng của sản phẩm giáo dục là vì người học, vì cộng đồng. Tuy nhiên cũng cần phải tính đến các yếu tố “cung cầu”, “cạnh tranh”, “hiệu quả kinh tế” trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tổ chức hoạt động giáo dục cho phù hợp với cơ chế thị trường. Phát triển giáo dục - đào tạo trong quá trình hội nhập quốc tế và nhằm đạt mục tiêu nước ta có một nền giáo dục tiên tiến, lành mạnh, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.

Tư duy đột phá trong phát triển giáo dục - đào tạo: thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh

Cùng với phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, Quảng Ninh luôn dành sự quan tâm, nguồn lực chăm lo đặc biệt cho giáo dục với quan điểm “coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”. Tỉnh Quảng Ninh đã chủ động, tích cực, phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đột phá trong phát triển giáo dục - đào tạo bằng sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ thông qua các chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch và chương trình hành động cụ thể, thể hiện ở những nội dung sau:

Một là, cải cách toàn diện giáo dục - đào tạo, thực hiện các bước đột phá về phát triển nguồn nhân lực

Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XV (nhiệm kỳ 2020 - 2025) xác định: đến năm 2045, Quảng Ninh là tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, vùng đô thị lớn mang tầm khu vực và quốc tế, trong đó nhấn mạnh một trong những khâu đột phá, đó là “phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với tăng nhanh quy mô và nâng cao chất lượng dân số”[12]. Trước những yêu cầu mới về nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo, tỉnh Quảng Ninh xây dựng Đề án “Phát triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến 2030” nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XV. Ngày 16-3-2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định số 799/QĐ-UBND, phê duyệt điều chỉnh đề cương Đề án “Phát triển giáo dục, đào tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến 2030”. Mục tiêu là hướng đến sự phát triển toàn diện năng lực cho người học, đáp ứng nhu cầu học tập của người dân và yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh; xây dựng hệ thống giáo dục bảo đảm tính mở và liên thông, theo hướng chuẩn hóa, dân chủ hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, hội nhập quốc tế; phấn đấu đến năm 2030, tỉnh Quảng Ninh là một trung tâm giáo dục và đào tạo có uy tín ở khu vực đồng bằng sông Hồng, đứng trong nhóm đầu của cả nước...

Hai là, áp dụng chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh

Nhằm tạo đột phá trong giáo dục - đào tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU, ngày 5-2-2022, Về chuyển đổi số toàn bộ tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU, ngành giáo dục Quảng Ninh đã đẩy mạnh áp dụng công nghệ vào quá trình dạy và học, mở ra nhiều phương thức giáo dục mới, thông minh và hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các nhà trường được tăng cường, nhất là các thiết bị ứng dụng công nghệ thông tin, hệ thống vận động thông minh của các trường mầm non, thiết bị đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Mục tiêu của ngành giáo dục Quảng Ninh đến năm 2025 là đưa việc dạy và học trên môi trường số trở thành hoạt động giáo dục thường xuyên, liên tục, trong đó tỷ trọng nội dung chương trình giáo dục phổ thông được triển khai dưới hình thức trực tuyến đạt trên 5% ở bậc tiểu học, trên 10% ở bậc trung học; đổi mới mạnh mẽ phương thức quản lý giáo dục dựa trên công nghệ số và dữ liệu, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Để thực hiện mục tiêu này, các địa phương, các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh đang triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong toàn ngành. Hiện, ngành giáo dục Quảng Ninh cơ bản đã triển khai xong bước 1 (số hóa), đang ở giai đoạn 2 (ứng dụng số hóa). Toàn bộ thông tin của 22.000 cán bộ giáo viên, 352.000 học sinh trên toàn tỉnh đã được cập nhật lên phần mềm trực tuyến (có nghĩa là toàn bộ học sinh theo học các trường mầm non, phổ thông đã được quản lý bằng phần mềm). Dữ liệu này đã được chuyển tự động sang cơ sở dữ liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm điều hành thông minh của tỉnh. Toàn bộ các trường tiểu học, trung học trên toàn tỉnh đã sử dụng sổ điểm, học bạ điện tử thay thế hoàn toàn văn bản giấy. Đây là tiền đề rất quan trọng để chuyển sang bước tiếp theo, giai đoạn chuyển đổi số. Nhằm đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục - đào tạo nghề nghiệp, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ninh ban hành kế hoạch thực hiện “Chương trình chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”, trong đó, đặt ra mục tiêu triển khai các hoạt động giáo dục nghề nghiệp trên môi trường số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, hoạt động và phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá, tăng cường hiệu quả công tác quản lý, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục nghề nghiệp, tạo đột phá về chất lượng, từ đó góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có kỹ năng nghề, tăng năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của tỉnh.

Ba là, lấy người học làm trung tâm, phát huy năng lực và phẩm chất của người học

Những năm gần đây, giáo dục STEM (chương trình giảng dạy được thiết kế để trang bị cho người học các kiến thức và kỹ năng tổng hợp liên quan đến lĩnh vực khoa học (Science), công nghệ (Technology), kỹ thuật (Engineering), toán học (Math), được Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh tích cực đưa vào áp dụng trong các trường học. Đây là phương pháp giáo dục tiên tiến, là cơ hội khuyến khích khả năng sáng tạo, vận dụng tổng hợp kiến thức, tự học, tự nghiên cứu của học sinh, là cơ sở quan trọng để các địa phương, cơ sở giáo dục thực hiện thành công Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Giáo dục STEM góp phần hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh, thông qua đó có những tác động tích cực, làm chuyển biến công tác dạy và học tại các nhà trường, học sinh được thực hành, trải nghiệm, học tập gắn với cuộc sống thực tế; tăng cường mở rộng không gian lớp học cho học sinh với phương pháp thực học, trải nghiệm, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất, đạo đức người học, tạo sự tương tác hiệu quả giữa gia đình - nhà trường, giáo viên - phụ huynh - học sinh trong việc xây dựng môi trường giáo dục toàn diện cho các em học sinh. Kế hoạch tổ chức học tập trải nghiệm sáng tạo của các nhà trường nhận được sự đồng thuận của đông đảo các bậc phụ huynh và học sinh. 

Bốn là, xây dựng xã hội học tập, bảo đảm quyền được học tập đối với mọi người dân

Quảng Ninh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời. Nổi bật là Nghị quyết số 01-NQ/TV, ngày 12-11-2010, về Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2010 - 2015, định hướng đến năm 2020; Chỉ thị số 04-CT/TU, ngày 27-4-2016, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, về Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay. Hội đồng nhân dân Tỉnh ban hành nhiều cơ chế chính sách đặc thù trong giáo dục - đào tạo, khuyến học, khuyến tài: Nghị quyết số 35/2021/NQ-HĐND, ngày 27-8-2021 quy định chính sách thu hút đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại trường Đại học Hạ Long, trường Cao đẳng Việt Hàn Quảng Ninh và trường Cao đẳng y tế Quảng Ninh giai đoạn 2021 - 2026. Theo đó, hàng năm Tỉnh dành bình quân 28,1 tỷ đồng để hỗ trợ cho học sinh, sinh viên học tập tại các trường này; Nghị quyết số 63/2021/NQ-HĐND, ngày 9-12-2021 quy định chính sách đặc thù cho giáo dục và đào tạo như chính sách ưu đãi với học sinh trường THPT Chuyên Hạ Long đến hết năm học 2025 - 2026, trong đó tăng mức thưởng lên nhiều lần cho học sinh đạt giải, giáo viên có học sinh đạt giải cấp Tỉnh, cấp quốc gia, cấp khu vực quốc tế và cấp quốc tế; Nghị quyết số 65/2021/NQ-HĐND, ngày 9-12-2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quy định mức học phí đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập của tỉnh Quảng Ninh, trong đó tỉnh Quảng Ninh quy định mức thu học phí chỉ bằng mức thấp nhất trong khung học phí do Chính phủ quy định; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐND, ngày 31-8-2022 tiếp tục hỗ trợ 100% học phí cho trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, học viên giáo dục thường xuyên đang học tập tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh năm học 2022 - 2023. Những chủ trương đúng đắn, kịp thời, những chính sách ưu đãi đặc biệt này đã khích lệ, thúc đẩy phong trào khuyến học, khuyến tài trong học sinh và sinh viên toàn tỉnh. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định 3111/2012/QĐ-UBND, ngày 26-11-2012 quy định danh hiệu gia đình, dòng họ, đơn vị, khu dân cư hiếu học trên địa bàn tỉnh, Kế hoạch 252/KH-UBND, ngày 29-12-2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh về xây dựng xã hội học tập tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021-2030... thúc đẩy phong trào xây dựng các mô hình học tập, học tập suốt đời phát triển mạnh mẽ. Phong trào thi đua xây dựng gia đình, dòng họ, cộng đồng, đơn vị học tập được chú trọng và thực sự đi vào cuộc sống.

Một số khuyến nghị

Từ những chính sách vượt trội, ngành giáo dục và đào tạo Quảng Ninh đã có những bước tiến không ngừng. Các năm học từ năm 2021 đến 2023 diễn ra trong bối cảnh đại dịch COVID-19 tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, những tác động tiêu cực từ bệnh dịch rất lớn, tuy nhiên, ngành giáo dục tỉnh Quảng Ninh đã không ngừng đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng dạy và học để đạt được những thành tích cao. Những thành tích nổi trội trong giáo dục tiếp tục được ghi nhận, nhiều học sinh giành được huy chương, giải cao tại các cuộc thi, kỳ thi ở tầm cỡ quốc gia, khu vực và quốc tế. Chất lượng giáo dục của tỉnh Quảng Ninh không ngừng được nâng cao ở cả giáo dục đại trà và giáo dục mũi nhọn. Kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở được duy trì, giữ vững và nâng cao chất lượng. Bên cạnh đó, ngoài các chính sách theo quy định chung nhằm phát triển và đổi mới giáo dục - đào tạo, tỉnh đã ban hành nhiều chính sách riêng để hỗ trợ giáo viên, học sinh theo hướng mở rộng đối tượng thụ hưởng, nâng mức hỗ trợ..., góp phần bảo đảm an sinh xã hội, từng bước bảo đảm công bằng trong giáo dục.

Giai đoạn 2021 - 2030 là giai đoạn phát triển mới, mang tính bứt phá, nhất là trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra nhanh chóng. Mục tiêu chung của hệ thống giáo dục - đào tạo ở nước ta luôn hướng đến là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Để vận dụng một cách hiệu quả các quan điểm mới của Đại hội XIII của Đảng trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, tỉnh Quảng Ninh có thể tham khảo một số giải pháp sau:

Một là, thấm nhuần quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, tích cực triển khai chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trên thực tế và trên mọi mặt, từ nội dung, chương trình, cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, xây dựng đội ngũ giáo viên, đội ngũ quản lý giáo dục có phẩm chất, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ... đồng bộ, hiệu quả. Cần phát động mạnh mẽ phong trào tự học trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động làm nòng cốt và tạo sức lan tỏa về học tập suốt đời ra xã hội. Quá trình học tập suốt đời phải được gắn liền với quá trình đánh giá năng lực của mỗi người một cách thường xuyên. Vấn đề đặt ra là phải xây dựng một quy trình, có thể gồm các bước: (i) xác định tri thức chung hay nghề nghiệp (toán, tin học, ngôn ngữ, kế toán, tài chính, quản lý,...); (ii) thiết kế một hệ thống hợp thức hóa đối với từng tri thức mà mỗi cá nhân có được trong quá trình lao động và làm việc sau này; (iii) đưa ra các cách đánh giá mới linh hoạt để thừa nhận những năng lực đó. Ngoài hệ thống chính quy ra, hệ thống này cho phép mang lại tính độc lập cho từng cá nhân trong việc xây dựng trình độ cho mình. Gắn việc tự học với phong trào xây dựng xã hội học tập thành một tiêu chí đánh giá thi đua của tổ chức Đảng và cán bộ Đảng viên hằng năm.

Hai là, có cơ chế chính sách bố trí tỷ lệ ngân sách phù hợp cho công tác xây dựng xã hội học tập. Tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân được tiếp cận hoặc tạo ra những cơ hội học tập cho mọi người dân. Đẩy nhanh tốc độ chuyển đổi số trong giáo dục - đào tạo làm cơ sở thúc đẩy chuyển đổi số trong xã hội và học tập suốt đời. Tăng cường đầu tư cho giáo dục và xã hội hóa giáo dục, từng bước hiện thực hóa cơ chế cung ứng dịch vụ công trong giáo dục và đào tạo. Mở rộng và nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học ngoại ngữ, coi trọng dạy, học và sử dụng tiếng Anh. Đây là chìa khóa để hướng ra thế giới và kéo thế giới đến với Quảng Ninh, do vị trí địa - chính trị của Quảng Ninh đòi hỏi mọi công dân phải trở thành “công dân toàn cầu”.

Ba là, đổi mới chính sách đào tạo trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đào tạo - sử dụng phải được gắn kết với nhau thông qua chức năng kế hoạch hóa phân bổ nguồn nhân lực của Nhà nước. Xây dựng chính sách đầu tư hợp lý nguồn lực kể cả tài chính, nhân lực cho cả hệ thống đào tạo. Cần nhanh chóng chuẩn hóa tiêu chuẩn, trình độ giáo viên; chương trình, nội dung giảng dạy; phương pháp đào tạo trên cơ sở tăng cường điều kiện vật chất (trường, lớp, giáo viên, các phương tiện giảng dạy và học tập). Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan từ tỉnh tới cơ sở trong vấn đề đào tạo nguồn nhân lực.

Bốn là, để xây dựng năng lực tự học của từng người dân, từng cộng đồng dân cư, cần quan tâm, dành nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng Internet cho các cơ sở giáo dục, trung tâm học tập cộng đồng, hệ thống thư viện... Cùng với đó là tận dụng các nền tảng công nghệ để xây dựng, cung ứng đa dạng các kênh và công cụ học tập suốt đời; tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn về kỹ năng tìm kiếm, khai thác sử dụng thông tin trên Internet một cách hiệu quả, an toàn, phù hợp cho các đối tượng. Tiếp tục phát huy tốt các mô hình gia đình, dòng họ, cộng đồng, đơn vị, công dân học tập; tham gia mạng lưới Thành phố học tập toàn cầu của UNESCO; phấn đấu xây dựng tỉnh Quảng Ninh trở thành tỉnh học tập, sớm đưa Quảng Ninh trở thành một trong những địa phương có chất lượng giáo dục và đào tạo tốt nhất cả nước./.


[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 221.

[2] Hội đồng lý luận Trung ương: Những điểm mới trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 143.

[3]Hội đồng lý luận Trung ương: Những điểm mới trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Sđd, tr. 146.

[4] Hội đồng lý luận Trung ương: Những điểm mới trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Sđd, tr. 146.

[5] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr. 136.

[6] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.136 - 137.

[7] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.130.

[8] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 220.

[9] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr. 232.

[10] Phạm Văn Linh: Định hướng chiến lược, giải pháp đột phá nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tr. 30.

[11] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 232 - 233.

[12] Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020-2025, ngày 27-9-2020, https://www.quangninh.gov.vn/chuyen-de/DH-Dang/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=94007.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Tư duy đột phá trong phát triển giáo dục - đào tạo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO