Hồ sơ

Tự chủ chiến lược

Khôi Nguyên - Tiến Thắng - Thành Nam - Công Minh - Duy Anh 03/03/2026 11:28

Rất nhiều diễn biến trên toàn cầu trong năm 2025 đã phát đi những tín hiệu cho thấy trật tự thế giới đang phân mảnh theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng. Dù hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, song cạnh tranh địa - chính trị, địa - kinh tế đang ngày càng trở nên gay gắt hơn...

Trong bối cảnh đó, “tự chủ chiến lược” là cụm từ được nhắc đến nhiều, nhất là trong thời gian gần đây, như quan điểm “không ràng buộc” của nhiều quốc gia Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tại Đối thoại Shangri-La tổ chức ở Singapore hồi giữa năm 2025, hay tuyên bố của Chủ tịch Liên minh châu Âu (EU) vào tháng 9 về “cuộc đấu tranh vì khả năng tự quyết định vận mệnh của chính mình” của EU.

Chưa hết, Chương trình thường niên năm 2026 của Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ cũng nhấn mạnh việc coi trí tuệ nhân tạo (AI) là yếu tố cốt lõi của quyền tự chủ chiến lược; trong khi vào đầu năm nay, Thủ tướng Malaysia đã kêu gọi các quốc gia đang phát triển không nên “bị ràng buộc bởi sự áp đặt của các cường quốc”... Những diễn biến này không chỉ cho thấy tự chủ chiến lược không còn là quan điểm cá biệt, mà từng bước định hình một xu thế quan trọng có thể giúp các quốc gia, khu vực đủ sức đối mặt với những thách thức ngày càng phức tạp đang đặt ra trong tiến trình phát triển.

I. TỪ ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ ĐẾN TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC

Những thiếu nữ Lô Lô trong trang phục truyền thống, phía sau là Cột cờ quốc gia Lũng Cú - điểm cực Bắc thiêng liêng, biểu tượng hào hùng của chủ quyền quốc gia_Ảnh: happy.vietnam.vn
Những thiếu nữ Lô Lô trong trang phục truyền thống, phía sau là Cột cờ quốc gia Lũng Cú - điểm cực Bắc thiêng liêng, biểu tượng hào hùng của chủ quyền quốc gia_Ảnh: happy.vietnam.vn

Để thích ứng với những biến chuyển của cục diện thế giới cũng như vượt qua rất nhiều thách thức toàn cầu, những năm gần đây, xu hướng “tự chủ chiến lược” ngày càng được các quốc gia, khu vực quan tâm.

Từ độc lập, tự chủ...

Ý tưởng về sự tự chủ đã xuất hiện từ rất sớm, trong triết học Hy Lạp cổ đại. Nhiều nhà tư tưởng thời kỳ đó cho rằng, lý tưởng của nhân loại gắn liền với sự tự túc và không phụ thuộc vào người khác. Về mặt ngữ nghĩa, tự chủ (autonomy) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “autos” (tự mình) và “nomos” (luật lệ, quy tắc), có nghĩa là tự đặt ra luật lệ, quy tắc cho chính mình.

Khác với sự quan tâm của các nhà triết học, nhà tư tưởng về quyền tự chủ ở khía cạnh đạo đức, tâm lý cá nhân, C. Mác và Ph. Ăngghen - những nhà lý luận vĩ đại của giai cấp vô sản - đã dành sự quan tâm đặc biệt tới vấn đề quyền tự chủ của các quốc gia, dân tộc.

Hai ông khẳng định, mọi quốc gia, dân tộc đều có quyền độc lập, tự chủ, quyền tự quyết định vận mệnh và con đường phát triển của mình, nhưng các quyền này chỉ có thể được bảo đảm khi cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản giành thắng lợi, trước hết là ở phạm vi từng quốc gia, sau đó là phạm vi toàn nhân loại.

Không chỉ kế thừa quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen, V. I. Lênin đã có sự sáng tạo, đưa lý luận về độc lập, tự chủ của các quốc gia, dân tộc lên tầm cao mới thông qua tư tưởng về quyền dân tộc tự quyết. Theo Lênin, “quyền dân tộc tự quyết hoàn toàn chỉ có nghĩa là các dân tộc có quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ”.

Tiếp thu những giá trị mang tính cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như những giá trị tinh thần quý báu của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi độc lập và tự chủ là những giá trị thiêng liêng, là biểu hiện cao nhất của quyền làm chủ vận mệnh dân tộc.

... đến tự chủ chiến lược

Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, tự chủ phản ánh khả năng tự quản trị, sự độc lập, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài. Trong khi đó, chiến lược (strategic) liên quan đến việc nhận diện các mục tiêu hay lợi ích lâu dài và những công cụ để đạt được các mục tiêu đó.

Vì vậy, có thể hiểu tự chủ chiến lược (strategic autonomy) là sự độc lập, tự lực, chủ động ở cấp độ cao của một chủ thể trong việc xác định và thực hiện các mục tiêu, lợi ích quan trọng, dài hạn.

Tuy nhiên, khi nói đến tự chủ chiến lược nói chung, tự chủ chiến lược của các quốc gia, khu vực nói riêng, nhiều nhà phân tích cũng lưu ý rằng, đây không phải là thuật ngữ đồng nghĩa với chủ nghĩa biệt lập, tự cung tự cấp, xa rời quan hệ với các nước khác, khu vực khác, mà là sự độc lập trong việc lựa chọn các đối tác, tham gia các thỏa thuận hợp tác để bảo vệ và thực hiện các mục tiêu/lợi ích của quốc gia/khu vực một cách nhanh chóng, hiệu quả hơn.

Một số cách diễn giải trong thực tế

Mặc dù tự chủ chiến lược ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách và chính trị gia quan tâm, nhưng thực tế cũng cho thấy, đây là một khái niệm có nhiều biến đổi.

Ngay tại EU - khu vực được xem là tiên phong trong định hướng chính sách này - những người theo chủ nghĩa bảo hộ nhấn mạnh sự độc lập về chính trị, coi tự chủ chiến lược như một phản ứng trước những lo ngại về an ninh nguồn cung và tầm quan trọng trong vấn đề cạnh tranh của các tập đoàn đa quốc gia, đồng thời ủng hộ những biện pháp trừng phạt để răn đe các cường quốc ngoài khu vực.

Trong khi đó, những người theo chủ nghĩa thị trường nhấn mạnh tầm quan trọng của thương mại tự do và việc bảo đảm một sân chơi bình đẳng trong thị trường nội khối cũng như lợi ích của sự phân công lao động trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Còn những người theo chủ nghĩa liên chính phủ thì ủng hộ vai trò của các quốc gia đối với chính sách an ninh và quốc phòng và phản đối những thay đổi thể chế có thể chuyển giao thêm thẩm quyền cho các cơ quan ở cấp độ khu vực.

Ngược lại, những người theo chủ nghĩa siêu quốc gia nhấn mạnh vai trò của EU như một tác nhân địa - chính trị toàn cầu và ủng hộ sự tập trung hóa lớn hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh.

Ở phạm vi khu vực, EU cho rằng tự chủ chiến lược của Liên minh là “giảm sự phụ thuộc vào các nước khác, ví dụ như về vật liệu và công nghệ thiết yếu, lương thực, cơ sở hạ tầng và an ninh”; đồng thời coi đây là “cơ hội để phát triển thị trường, sản phẩm và dịch vụ, thúc đẩy khả năng cạnh tranh” của các quốc gia thành viên. Ngoài ra, EU cũng đặc biệt đề cao yêu cầu tự chủ chiến lược về an ninh, quốc phòng.

Trong khi đó, Mỹ muốn thông qua việc tái phát triển nền sản xuất nội địa, đa dạng hóa chuỗi cung ứng thực hiện chính sách thương mại bất đối xứng để tránh khả năng bị lệ thuộc vào nguồn cung, đồng thời hạn chế khả năng của Trung Quốc.

Hiện chính quyền của Tổng thống Donal Trump cũng thực hiện những chính sách đầy bất ngờ trong mối quan hệ với đồng minh truyền thống EU và dần cắt giảm sự hợp tác, ủng hộ với các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ vốn được xem là “sức mạnh mềm” của Mỹ trong giai đoạn trước đây.

Ở nhóm các quốc gia tầm trung, Ấn Độ theo đuổi sự tự chủ trong chính sách ngoại giao, đa dạng hóa các mối quan hệ song phương và đa phương nhằm tránh sự phụ thuộc hay bị chi phối bởi các cường quốc; Thổ Nhĩ Kỳ lại coi AI là yếu tố cốt lõi của quyền tự chủ chiến lược.

Với Hàn Quốc, khả năng kinh tế và sức mạnh dân chủ được xem là nền tảng để bảo đảm an ninh trên bán đảo, hòa bình trong khu vực, từ đó bảo đảm tự chủ chiến lược...

Những khía cạnh chính của tự chủ chiến lược

Dù được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu, nhà quản trị và chuyên gia đều cho rằng tự chủ chiến lược bao hàm 2 khía cạnh quan trọng nhất là đối ngoại (tự chủ trong các mối quan hệ quốc tế) và các giá trị, tiềm lực bên trong.

Theo đó, trong quan hệ quốc tế, tự chủ chiến lược phản ánh khả năng một quốc gia, khu vực trong việc theo đuổi, triển khai chính sách đối ngoại, tập hợp lực lượng để phục vụ lợi ích quốc gia và những lợi ích ưu tiên đã xác định mà không bị ràng buộc, tác động bởi bất kỳ quốc gia, mối quan hệ nào khác bên ngoài quốc gia.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng hiện nay, một quốc gia, khu vực có tính tự chủ chiến lược cao nghĩa là quốc gia, khu vực đó có khả năng tự chủ trong thiết lập các mối quan hệ hợp tác song phương, đa phương; điều chỉnh và thực thi các quy tắc/luật chơi quốc tế, thay vì chỉ tuân thủ thụ động luật chơi do người khác đặt ra, để tạo dựng môi trường chiến lược thuận lợi nhất.

Cùng với đó, nhiều quan điểm nhấn mạnh những giá trị, tiềm lực tổng thể về thể chế, chính trị, kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, an ninh - quốc phòng,... của một quốc gia, khu vực trong việc thể hiện ý chí, định hình tầm nhìn và các ưu tiên chiến lược cũng như khả năng thực hiện các tầm nhìn, ưu tiên chiến lược đó mà không bị ảnh hưởng bởi bên thứ ba, qua đó bảo đảm và thúc đẩy lợi ích của mình một cách tối ưu.

II. XU HƯỚNG TẤT YẾU TRONG BỐI CẢNH MỚI?

Tổng thống Mỹ Donald Trump tại lễ ký thành lập Hội đồng Hòa bình Dải Gaza tại Davos, Thụy Sĩ, ngày 22-1-2026_Ảnh: AA/TTXVN
Tổng thống Mỹ Donald Trump tại lễ ký thành lập Hội đồng Hòa bình Dải Gaza tại Davos, Thụy Sĩ, ngày 22-1-2026_Ảnh: AA/TTXVN

Nhiều phân tích cho thấy, chiều hướng phát triển theo hướng ngày càng phức tạp của cục diện quốc tế và những mối đe dọa an ninh phi truyền thống đang trở thành những yếu tố chính thúc đẩy các quốc gia tăng cường tự chủ chiến lược.

Một thế giới đã khác trước

Khác với những kỳ vọng về toàn cầu hóa, hay việc hình thành một “thế giới phẳng” trước đây, những năm gần đây, cục diện thế giới đã có những chuyển biến nhanh chóng, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng, phân mảnh và phân tuyến mạnh.

Mặc dù hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng nhiều thách thức mới đã xuất hiện. Các nước lớn và những trung tâm quyền lực vừa cạnh tranh vừa hợp tác, thỏa hiệp, song sẽ tiếp tục điều chỉnh chiến lược và cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt hơn.

Thực tế những năm qua, đặc biệt là năm 2025 cho thấy, thế giới vẫn đầy bất ổn khi những mâu thuẫn, xung đột, các cuộc chiến vẫn bao trùm nhiều khu vực. Tại châu Âu, chiến sự Nga - Ukraina đã gần bước sang năm thứ năm với tính chất khốc liệt ngày càng tăng, cùng sự can dự của các bên thứ ba khiến con đường hòa bình còn xa vời.

Trung Đông vẫn tiếp tục là một trong những điểm nóng với các cuộc chiến ủy nhiệm và khủng hoảng nhân đạo ở Gaza, sự cứng rắn của chính quyền Israel trong việc thực hiện các biện pháp quân sự đối với các láng giềng trong khu vực,... làm xói mòn lòng tin vào vai trò của các cường quốc cũng như những cam kết nhân quyền toàn cầu.

Tại châu Á, căng thẳng giữa Ấn Độ - Pakistan, giữa Thái Lan - Campuchia, cùng vấn đề Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Đài Loan (Trung Quốc), Biển Đông,... vẫn luôn chứa đựng những nguy cơ.

Trong khi các cuộc xung đột tại châu Phi vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, tại khu vực Nam Mỹ, cuộc tấn công quân sự của Mỹ vào Venezuela, bắt giữ tổng thống đương nhiệm của quốc gia này cũng được đánh giá là bước đi nhiều nguy hiểm đối với cả khu vực, thách thức những chuẩn mực căn bản của luật pháp quốc tế.

Cùng với đó, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra ngày càng gay gắt, toàn diện trên mọi lĩnh vực, từ chính trị đến kinh tế, công nghệ... Trong đó, cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc (Mỹ - Trung Quốc - Nga) đang tạo ra áp lực và thách thức mới đối với các nước vừa và nhỏ trong khu vực. Toàn cầu hóa cũng đang bước vào giai đoạn “phân mảnh”, “chọn lọc”.

Sự trở lại của Tổng thống Mỹ Donal Trump trong nhiệm kỳ thứ hai đã thổi bùng làn sóng chủ nghĩa bảo hộ với các mức thuế quan mới gây sốc. Liên hợp quốc dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu chỉ đạt 2,4% trong năm 2025 do căng thẳng thương mại gia tăng.

Những đòn thuế này không chỉ làm xói mòn nhiều mối quan hệ hợp tác song phương và đa phương, tác động trực tiếp đến nhiều quốc gia, mà còn khoét sâu căng thẳng, đẩy cạnh tranh chiến lược giữa Washington và Bắc Kinh lên một tầm mức cao hơn.

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ (nhất là những công nghệ có tính chất dẫn dắt như AI, công nghệ chip, dữ liệu, 6G...) cũng trở thành sân khấu chính của cạnh tranh địa - chính trị, tạo ra các cuộc đối đầu về tiêu chuẩn, chuỗi cung ứng và kiểm soát dữ liệu, ảnh hưởng sâu sắc đến kinh tế và quân sự...

Đây cũng chính là điều kiện dẫn tới sự hình thành, trỗi dậy của các trung tâm quyền lực chính trị - kinh tế - công nghệ theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc. Bên cạnh việc mở rộng Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), củng cố quan hệ Đối tác an ninh Australia - Anh - Mỹ (AUKUS) và nhóm Bộ tứ Kim cương (QUAD) Mỹ - Australia - Nhật Bản - Ấn Độ..., các nước như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Indonesia, Ai Cập, Iran, Saudi Arabia, Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất,... cũng tiếp tục củng cố các liên minh như khối BRICS+ để thách thức trật tự do phương Tây lãnh đạo, tạo ra một thế giới đa cực phức tạp hơn với nhiều trung tâm ảnh hưởng.

Thách thức ngày càng lớn và phức tạp

Cùng với những thách thức trên, các quốc gia, khu vực phải đối mặt với ngày càng nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống có tính chất xuyên quốc gia như biến đổi khí hậu, dịch bệnh (COVID-19, cúm gia cầm), khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, di cư, an ninh lương thực, khủng hoảng năng lượng, khan hiếm tài nguyên và đứt gãy chuỗi cung ứng...

Những vấn đề này gây ra các thách thức đan xen, phức tạp, tác động đa chiều, tạo áp lực lên sự ổn định, đặt ra yêu cầu mới đối với công tác dự báo và ứng phó, buộc các quốc gia phải hợp tác nhưng cũng làm gia tăng căng thẳng (ví dụ như việc tranh chấp các nguồn tài nguyên hay việc thực thi trách nhiệm môi trường).

hs-3.jpg
Các vũ khí được tích hợp, sử dụng các công nghệ tiên phong tạo ra thách thức trong việc nhận diện và ứng phó với bất ngờ chiến lược_Ảnh minh họa

Với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội cũng phải chịu tác động sâu sắc. Bên cạnh việc hình thành “lực lượng sản xuất mới”, “phương thức sản xuất mới”, các công nghệ tiên phong như AI, dữ liệu lớn (Big data), chuỗi khối (Blockchain), Internet vạn vật (IoT),... cũng đang tạo ra những nguy cơ không nhỏ về an ninh.

Việc tích hợp, sử dụng ngày càng nhiều các công nghệ này trong hoạt động sản xuất các loại vũ khí mới như các thiết bị bay không người lái (UAV), robot chiến đấu, phát triển năng lực tác chiến trên không gian mạng,... không chỉ kiến các cuộc chiến tranh, xung đột gây nhiều thiệt hại hơn mà còn tạo ra thách thức mới trong việc nhận diện và ứng phó với bất ngờ chiến lược.

Có thể nói, những cạnh tranh, xung đột, thách thức hiện nay cùng với khát vọng phát triển của từng quốc gia, khu vực đã trở thành những nhân tố chính thúc đẩy xu hướng tự chủ chiến lược trên thế giới.

III. TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC: TỪ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN HÀNH ĐỘNG

hs-4.jpg
Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen phát biểu tại Nghị viện châu Âu ở Strasbourg, Pháp, ngày 10-9-2025_Ảnh: Getty

Cho đến thời điểm này, tự chủ chiến lược đã được thể hiện khá rõ nét qua những định hướng, hành động của nhiều quốc gia, khu vực.

Châu Âu

Cuối tháng 12-2025, EU chính thức thông qua Chương trình Công nghiệp quốc phòng (EDIP). Đây là công cụ được thiết kế để tăng cường khả năng tự chủ chiến lược về quốc phòng của Liên minh thông qua việc bảo đảm sự sẵn có, củng cố khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp quốc phòng, giúp các quốc gia thành viên chủ động đối phó với các mối đe dọa an ninh hiện tại cũng như trong tương lai.

Đây không phải lần đầu tiên EU theo đuổi mục tiêu chính sách này. Từ năm 2013 đến năm 2016, vấn đề tự chủ chiến lược của EU (EU-SA) đã được đưa ra khi thảo luận về sự phát triển năng lực quốc phòng của EU tách biệt với NATO.

Từ năm 2017 đến năm 2019, EU-SA được coi là một cách để bảo vệ lợi ích của châu Âu trong môi trường địa - chính trị thù địch, được đánh dấu bởi Chiến lược toàn cầu về Chính sách đối ngoại và An ninh (năm 2016), trong bối cảnh Brexit, nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Mỹ D. Trump và sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc. Năm 2020, đại dịch COVID-19 thúc đẩy EU chuyển trọng tâm sang việc giảm thiểu sự phụ thuộc kinh tế vào chuỗi cung ứng nước ngoài.

Từ năm 2021, phạm vi của EU-SA đã được mở rộng đến hầu hết các lĩnh vực chính sách, như thương mại và công nghệ số. Bên cạnh tự chủ chiến lược, Liên minh còn phát triển nhiều khái niệm tương tự như “tự chủ chiến lược mở”, “chủ quyền chiến lược”, “năng lực hành động” và “khả năng phục hồi”.

Trong giai đoạn này, ý chí chính trị của EU đã được thể hiện rất rõ trong Tuyên bố Versailles năm 2022, nhằm mục tiêu tăng cường quyền tự chủ chiến lược trong lĩnh vực quốc phòng, cung cấp năng lượng và kinh tế.

Đây được coi là những điều kiện tiên quyết để EU đạt được mục tiêu thúc đẩy hòa bình và an ninh; đồng thời là thông điệp gửi tới thế giới bên ngoài về quyết tâm của EU trong việc bảo đảm quyền tự chủ chiến lược của mình.

Ngày 10-9-2025, trong Thông điệp năm 2025, Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen đã kêu gọi về “thời khắc độc lập của châu Âu”. Thông điệp này làm rõ tính cấp bách của việc EU phải bảo đảm tự chủ chiến lược về quốc phòng và an ninh, kiểm soát các công nghệ nguồn, năng lượng và bảo đảm vai trò địa - chính trị của mình. “Tóm lại, điều quan trọng là có được sự tự do và quyền lực để tự quyết định vận mệnh của mình”, bà von der Leyen nhấn mạnh.
hs-5.jpg
Từ trái sang: Ngoại trưởng Ấn Độ Subrahmanyam Jaishankar, Ngoại trưởng Australia Penny Wong, Ngoại trưởng Nhật Bản Takeshi Iwaya và Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio trong cuộc họp của nhóm Bộ tứ (QUAD) tại Thủ đô Washington, ngày 1-7-2025_Ảnh: Reuters/TTXVN

Ấn Độ

Từ việc thực hiện chính sách không liên kết, giúp tranh thủ được sự ủng hộ của cả Nga và Mỹ trong giai đoạn trước và sau Chiến tranh lạnh, những năm gần đây, Ấn Độ đã xác định rõ mục tiêu trong chính sách đối ngoại, đó là bảo đảm cân bằng với các cường quốc thông qua cách áp dụng chính sách đa liên kết và tự chủ chiến lược của riêng mình.

Theo nhiều nhà phân tích, New Delhi đang thực hiện chiến lược phòng ngừa rủi ro trước những bất ổn của trật tự toàn cầu phân mảnh bằng cách đồng thời hợp tác với các trung tâm quyền lực lớn đang cạnh tranh: phương Tây do Mỹ dẫn đầu, một Trung Quốc đang trỗi dậy và đối tác truyền thống của mình là Nga, mà không trở thành đồng minh hay lệ thuộc vào bất kỳ bên nào.

Theo đó, khoảng cách giữa tuyên bố và thực thi tự chủ chiến lược của Ấn Độ đã được thực hiện khá linh hoạt, để thoát khỏi sự ảnh hưởng từ áp lực của các cường quốc. Chẳng hạn, về vấn đề Nga - Ukraina, Delhi đã dũng cảm từ chối các lệnh trừng phạt của phương Tây và vẫn duy trì dòng chảy dầu mỏ, nhưng nước này đã giảm dần dần lập trường công khai bảo vệ Moscow - sự nhượng bộ thầm lặng - trước sự thuyết phục liên tục của Mỹ và châu Âu.

Với Trung Quốc, Ấn Độ đã áp dụng chiến lược cạnh tranh có kiểm soát thay vì đối đầu, do khoảng cách quyền lực đáng kể giữa 2 nước. Ấn Độ và Trung Quốc tham gia vào nhiều diễn đàn khu vực và đa phương khác nhau, như BRICS và SCO (Tổ chức Hợp tác Thượng Hải), cho phép cả 2 quốc gia giải quyết các vấn đề dài hạn hoặc ít nhất là giảm thiểu xung đột trong ngắn hạn.

Trong khi đó, dù mối quan hệ với Mỹ và các nước Tây Âu phần lớn mang tính chất giao dịch nhưng lại có ý nghĩa chiến lược đối với Ấn Độ, qua những lợi ích thu được về công nghệ cao cấp và an ninh hàng hải.

Thông qua QUAD, Ấn Độ bảo vệ được lợi ích của mình ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, từ đó có được đối trọng với Trung Quốc. Tương tự, Sáng kiến về Công nghệ quan trọng và mới nổi mà Ấn Độ tham gia cùng Mỹ và các cuộc đàm phán thương mại tự do đang diễn ra với EU, được thiết kế để hiện đại hóa, thúc đẩy tham gia chuỗi cung ứng toàn cần của ngành công nghiệp quốc phòng Ấn Độ.

Thổ Nhĩ Kỳ

Sự phát triển công nghệ của Thổ Nhĩ Kỳ, đặc biệt là công nghệ liên quan đến lĩnh vực quốc phòng, là vấn đề đã được thảo luận trong nhiều thập niên. Tuy nhiên, việc mới đây Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ công bố Chương trình thường niên năm 2026 đã báo hiệu một sự chuyển đổi sâu sắc hơn trong chính sách của quốc gia này.

Thay vì coi AI như một công cụ đổi mới trong lĩnh vực khoa học - công nghệ hay kinh tế, Chương trình năm 2026 đặt công nghệ này vào trung tâm của quản lý nhà nước, quyền tự chủ chiến lược, kế hoạch quốc phòng và nhiều lĩnh vực khác.

Sự chuyển đổi này không chỉ quan trọng đối với Thổ Nhĩ Kỳ trong việc duy trì quyền tự chủ, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thể chế, mà còn được nhận định là có ảnh hưởng đến cách các cường quốc tầm trung ứng phó với những vấn đề đang nổi lên trong trật tự toàn cầu.

Trong Chương trình thường niên 2026, AI không chỉ giới hạn trong các mục tiêu công nghệ hay đổi mới như trước đây, mà được Thổ Nhĩ kỳ coi là một năng lực toàn diện, được tích hợp trong quản lý tài chính, hải quan, quốc phòng và quản lý rủi ro, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, quy hoạch nông nghiệp, hệ thống an sinh xã hội, nền tảng truyền thông công cộng và đào tạo lực lượng lao động... Những ứng dụng này nhằm bảo đảm nhà nước có thể tiếp tục hoạt động hiệu quả ngay cả trong điều kiện áp lực cao.

Nhìn chung, Chương trình 2026 của Thổ Nhĩ Kỳ phản ánh sự chuyển dịch từ thích ứng thụ động sang thiết kế chủ động. Thay vì cạnh tranh để giành vị trí dẫn đầu về công nghệ, chiến lược này đặt trọng tâm vào khả năng phục hồi, tính tự chủ và hiệu quả của các thể chế.

Trên cơ sở xác định AI là yếu tố nền tảng của hiện đại hóa quốc phòng, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ tập trung hỗ trợ các dự án nghiên cứu và phát triển các nền tảng tự hành, UAV phối hợp, khả năng tình báo, giám sát, trinh sát tiên tiến và các hệ thống tác chiến điện tử. Chương trình cũng nhấn mạnh vào việc phát triển các công nghệ lưỡng dụng và ứng dụng AI trong dân sự, quân sự. Theo đó, những đổi mới trong lĩnh vực AI quân sự có thể được chuyển giao sang các lĩnh vực dân sự để nâng cao năng lực hậu cần, tối ưu hóa năng lượng và sản xuất thông minh. Ngược lại, những tiến bộ trong ứng dụng AI dân sự cũng có thể được nhanh chóng điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu quốc phòng.

IV. BƯỚC ĐỘT PHÁ VỀ TƯ DUY TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI

hs-6.jpg
Người dân phường Cửa Nam (Hà Nội) cập nhật các thông tin về Đại hội XIV của Đảng trên điện thoại thông minh_Ảnh: TTXVN

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, mệnh đề “tự chủ chiến lược” đã lần đầu tiên được Đảng ta đưa vào chủ đề Đại hội và dự thảo các Văn kiện trình Đại hội.

Cội nguồn sức mạnh Việt Nam!

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế giới có những thay đổi nhanh chóng, sâu sắc, khó lường; đất nước đang đứng trước nhiều thuận lợi, thời cơ đan xen với những khó khăn, thách thức rất lớn, nhiều vấn đề mới đặt ra cần phải giải quyết; nhiều quyết sách chiến lược rất quan trọng đang được triển khai mạnh mẽ.

Trên cơ sở đánh giá toàn diện những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ Đại hội XIII cũng như những thành tựu to lớn đã đạt được sau 40 năm đổi mới; nhìn nhận, phân tích rõ những cơ hội, thách thức trong giai đoạn tới, Đại hội XIV đề ra những phương hướng, mục tiêu và giải pháp chiến lược quan trọng nhằm xây dựng đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Để tạo bước đột phá trên con đường phát triển đất nước, mệnh đề “tự chủ chiến lược” đã lần đầu tiên được đưa vào chủ đề Đại hội và dự thảo các Văn kiện trình Đại hội. Đây không chỉ là sự kế thừa, sáng tạo, nâng cao tư duy độc lập, tự chủ - một trong những truyền thống, giá trị làm nên cốt cách, sức mạnh của dân tộc, cũng như quan điểm nhất quán của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về độc lập, tự chủ - mà tự chủ chiến lược còn thể hiện bước phát triển mang tính đột phá về tư duy lý luận, bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong bối cảnh mới, nhằm đáp ứng những yêu cầu đặt ra trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Những nền tảng quan trọng cho định hướng chiến lược

Như nhiều nhà nghiên cứu, học giả đã phân tích, một trong những yếu tố bảo đảm quyền tự chủ chiến lược chính là những giá trị, tiềm lực tổng thể của mỗi quốc gia, khu vực. Nguồn sức mạnh nội sinh đó không thể có được chỉ sau ngày một, ngày hai mà phải được tích lũy, tạo thành nền tảng vững chắc cho những bước phát triển đột phá.

Soi chiếu với thực tiễn Việt Nam, có thể thấy, việc nâng tầm tư duy, lựa chọn “tự chủ chiến lược” của Đảng trong giai đoạn hiện nay vừa nhằm thích ứng với những đòi hỏi khách quan từ xu thế vận động của thế giới, vừa được xây dựng trên cơ sở thực tiễn, từ thế và lực của đất nước sau 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo đó, thành tựu to lớn và nổi bật nhất là từ một nền kinh tế nghèo nàn, có cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu, trình độ thấp, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu.

Tính đến năm 2025, quy mô GDP của Việt Nam đạt trên 510 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới và thứ tư trong khu vực ASEAN; thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người đạt khoảng 4.700 USD, bước vào nhóm các nước có thu nhập trung bình cao. Đến nay, quy mô xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đã xếp thứ 20 thế giới; thặng dư thương mại liên tục ở mức cao.

Chất lượng tăng trưởng có chuyển biến tích cực, năng suất lao động tăng bình quân 5,3%/năm, đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 47%. Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn của nhiều nhà đầu tư nước ngoài; cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt kết quả tích cực, nền kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng số hóa, xanh hóa, nâng cấp chuỗi giá trị dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.

hs-7.jpg
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thống nhất tuyệt đối bầu đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV_Ảnh: TTXVN

Những kết quả đạt được trong lĩnh vực kinh tế cũng là cơ sở để Việt Nam thực hiện tốt hơn các chính sách an sinh xã hội, khẳng định tính ưu việt của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Theo đó, các chỉ tiêu về xã hội liên tục được cải thiện, nhất là về công tác giảm nghèo; đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao; tiến bộ, công bằng xã hội được chú trọng.

Tuổi thọ trung bình của người dân ngày càng tăng; chỉ số hạnh phúc cũng liên tục gia tăng và đã xếp thứ 46/143 quốc gia; chỉ số phát triển con người (HDI) không ngừng được cải thiện và đạt mức cao so với các nước cùng trình độ phát triển.

Cùng với đó, lĩnh vực giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển, đạt được nhiều thành tựu lớn, quan trọng, góp phần bảo đảm nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển mới. Khoa học, công nghệ, hoạt động đổi mới sáng tạo đạt được nhiều kết quả tích cực, tạo nền tảng, động lực thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao giá trị gia tăng của nền kinh tế.

Việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được đẩy mạnh thực hiện trong thực tế; các lĩnh vực văn hóa đều có bước phát triển mới, góp phần vào sự phát triển bền vững đất nước.

Cũng trong 40 năm đổi mới, tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước đã không ngừng được củng cố, tăng cường; độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia được giữ vững; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục đi vào chiều sâu, hiệu quả, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nổi bật.

Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 195 nước, trong đó quan hệ đối tác toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với 38 nước, bao gồm cả 5/5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 17 thành viên G-20...

Đây là những thành tựu có ý nghĩa chiến lược và lâu dài, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; tạo cục diện đối ngoại rộng mở, thuận lợi cho an ninh và phát triển, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo các điều kiện thuận lợi bên ngoài cho phát triển đất nước...

V. CỦNG CỐ, PHÁT HUY NĂNG LỰC TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI

hs-8.jpg
Trình diễn nghệ thuật tại lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ_Ảnh: TTXVN

Việc phát triển tư duy độc lập, tự chủ lên tầm tự chủ chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao tiềm lực và khẳng định vị thế quốc gia trong một thế giới nhiều biến động. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, nhiều định hướng để cụ thể hóa, hiện thực hóa tầm nhìn này đã được làm rõ.

Tự chủ về tư duy chiến lược

Tại Đại hội XIV, quan điểm: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội... tiếp tục được Đảng ta khẳng định.

Đây không chỉ là quan điểm nhất quán, mà còn được xem là nguyên tắc, phương hướng có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho quá trình thực hiện tự chủ chiến lược của Việt Nam luôn được dẫn dắt bởi nền tảng tư tưởng khoa học và cách mạng của Đảng.

Chính tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới đã được minh chứng bằng những thành công của các giai đoạn của cách mạng Việt Nam, tạo nên thế và lực cho đất nước hôm nay.

Sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay cũng là tiền đề để đường lối độc lập, tự chủ được nâng lên tầm cao tự chủ chiến lược, nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước bền vững, hùng cường, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đó cũng chính là nền tảng quan trọng để khẳng định sự độc lập về tư tưởng, về tư duy chiến lược - một trong những yêu cầu tối quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự chủ chiến lược của đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình.

Bên cạnh đó, việc nâng tầm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; bảo đảm hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị cũng được đặt ra. Đây không chỉ là yêu cầu quan trọng trong những năm qua mà còn là đòi hỏi đặc biệt trong việc nâng cao khả năng lãnh đạo, hiệu quả quản trị trong giai đoạn phát triển mới.

hs-9.jpg
Hoạt động đào tạo, nghiên cứu và thực hành công nghệ trong môi trường hiện đại - nền tảng quan trọng để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng mục tiêu trở thành trung tâm tài chính, công nghệ và đổi mới sáng tạo của khu vực_Ảnh: TTXVN

Nâng cao sức mạnh nội sinh

Để hiện thực hóa những mục tiêu chiến lược đã đề ra, vấn đề được đặc biệt quan tâm là việc khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển. Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam là minh chứng sống động cho thấy sức mạnh của những vấn đề đang được Đảng đặt ra hôm nay.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh gay gắt hiện nay, truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực tự cường, khát vọng phát triển,... phải được phát huy ở mức cao nhất, không chỉ nhằm bảo đảm sự chung sức, đồng lòng, mà còn để tạo nên sức mạnh nội sinh cho sự phát triển, nâng cao tiềm lực, năng lực tự chủ của các trụ cột quan trọng.

Về kinh tế

Một trong những định hướng lớn nhằm nâng cao tự chủ về kinh tế được xác định là việc đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, kiên quyết tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông và giải phóng sức sản xuất, mọi nguồn lực, phát huy mọi động lực. Xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Trong mô hình đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là những động lực chính; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất.

Cùng với đó là việc hoàn thiện thể chế phát triển gắn với thực hiện đồng bộ 4 chuyển đổi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để tận dụng cơ hội to lớn từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng như vượt qua thách thức biến đổi khí hậu, bảo đảm phát triển bền vững, bao gồm chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực.

Về năng lực công nghệ

Liên quan đến năng lực cốt yếu này, Văn kiện Đại hội lần thứ XIV đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung khổ pháp lý, tạo dựng và triển khai các cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội để có thể chủ động, tích cực tiếp cận nhanh và khai thác có hiệu quả cơ hội và thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Ưu tiên tiếp thu, chuyển giao, ứng dụng sáng tạo, làm chủ các công nghệ tiên tiến, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, công nghệ số, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghiệp điện tử, chip bán dẫn, AI, công nghệ hạt nhân, năng lượng nguyên tử, năng lượng mới, công nghệ không gian vũ trụ, công nghệ lượng tử. Chú trọng nghiên cứu cơ bản, gắn với định hướng ứng dụng, làm chủ về công nghệ, khẳng định chủ quyền ở những lĩnh vực then chốt mà Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng và lợi thế...

Thông qua đó, nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đạt trình độ tiên tiến ở những lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao. Đây cũng chính là động lực then chốt để nâng cao tiềm lực và khả năng tự chủ của nền kinh tế

Xây dựng vị thế quốc tế và khả năng cân bằng chiến lược

Tự chủ chiến lược đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục nâng cao vị thế quốc tế và khả năng cân bằng chiến lược. Do đó, đối ngoại trong kỷ nguyên mới hướng đến mục tiêu tạo dựng cục diện, môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước; đóng vai trò kiến tạo, động lực, mở ra các cơ hội mới cho đất nước phát triển. Nâng tầm ngoại giao đa phương, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu...

Đặc biệt, công tác đối ngoại được xác định phải tương xứng với tầm vóc; đồng thời phát huy sức mạnh văn hóa, lịch sử, giá trị Việt Nam để tăng ảnh hưởng quốc tế. Là một thành tố quan trọng của tự chủ chiến lược, đối ngoại không chỉ nhằm mục tiêu cùng với quốc phòng bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, mà còn phải chủ động tham gia đóng góp tích cực duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Có thể nói, từ xu thế phát triển của thế giới cũng như thế và lực của đất nước sau 40 năm đổi mới, việc phát triển tư duy độc lập, tự chủ lên tầm tự chủ chiến lược không chỉ là bước đột phá về tư duy lý luận, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng, trên cơ sở thực tiễn khách quan, trong việc nâng cao tiềm lực và khẳng định vị thế quốc gia trong một thế giới nhiều biến động.

Đó sẽ trở thành tiền đề quan trọng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc! ./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Tự chủ chiến lược
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO