Tỉnh Quảng Ninh phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên số - Kết quả bước đầu và những vấn đề đặt ra

TS. Mai Việt Bách 18/12/2025 17:01

Tỉnh Quảng Ninh xây dựng chiến lược, kế hoạch cụ thể để phát triển khoa học, công nghệ, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tỉnh giai đoạn 2025 - 2045, đồng bộ với Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đồng thời, cả hệ thống chính trị đều tập trung quyết tâm thực hiện thành công các chiến lược, kế hoạch, biến tiềm năng thành hiện thực trong thời gian sớm nhất.

Tư duy mới, cách làm mới trong kỷ nguyên số

Khởi nghiệp phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo không còn là phong trào, mà là công cuộc lớn, là con đường ngắn nhất giúp các địa phương bứt phá, kết nối với chuỗi giá trị toàn cầu. 

Tỉnh Quảng Ninh xác định đổi mới sáng tạo, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là động lực cốt lõi cho tăng trưởng nhanh và bền vững; đồng thời, cam kết hoàn thiện các cơ chế, chính sách thúc đẩy mô hình “chính quyền hỗ trợ - doanh nghiệp sáng tạo - cộng đồng đồng hành” cho sự phát triển bền vững của địa phương.

Trong bối cảnh toàn cầu đang chứng kiến làn sóng chuyển đổi mạnh mẽ từ trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, IoT, đến kinh tế xanh và tuần hoàn đang diễn ra nhanh chóng, tạo ra không gian kết nối giữa các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư, chuyên gia quốc tế và các startup để cùng kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thế hệ mới.

Tỉnh Quảng Ninh đưa ra ba thông điệp cốt lõi: Hội tụ nguồn lực toàn cầu, thiết lập các hành lang thử nghiệm chính sách (sandbox), thu hút chuyên gia, công nghệ và tài chính quốc tế đồng hành với đổi mới sáng tạo của địa phương. 

Đồng thời, tỉnh Quảng Ninh tăng tốc chuyển đổi tri thức, thị trường, tăng cường hợp tác giữa viện - trường - doanh nghiệp, hình thành các vườn ươm, trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ startup đưa sản phẩm ra thị trường. Lan tỏa tinh thần khởi nghiệp, phát triển thế hệ doanh nhân công nghệ mang tư duy toàn cầu, hành động tại địa phương; khuyến khích mô hình “doanh nghiệp lớn đặt hàng, startup đồng phát triển”.

Khởi nghiệp sáng tạo không chỉ là xu hướng thời đại, mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy năng suất, tăng trưởng kinh tế và hiện đại hóa quốc gia. Đổi mới sáng tạo chính là “đường cao tốc” để đưa tri thức và mô hình kinh doanh đột phá đi vào thực tiễn.

Tỉnh Quảng Ninh đang đẩy mạnh hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý để triển khai Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025; thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”.

Tập trung phát triển hệ sinh thái chất lượng cao; tăng cường kết nối các chủ thể từ nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, đến quỹ đầu tư và doanh nghiệp. Xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo cấp vùng, mạng lưới chuyên gia, cố vấn và nhà đầu tư chuyên nghiệp. Thay đổi tư duy quản lý; chuyển từ “xin - cho” sang hợp tác cùng phát triển; từ “quản lý rủi ro” sang “chấp nhận rủi ro có kiểm soát”; từ tư duy ngắn hạn sang tư duy kiến tạo dài hạn.

Tỉnh Quảng Ninh với nền tảng vững chắc cho hệ sinh thái mới

Với GRDP bình quân đầu người năm 2024 đạt 10.272 USD, thu ngân sách 6 tháng đầu năm 2025 vượt 30.000 tỷ đồng, tăng trưởng GRDP duy trì hai chữ số, tỉnh Quảng Ninh khẳng định là điểm đến hấp dẫn cho đầu tư đổi mới sáng tạo.

Tỉnh Quảng Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, như: Tổ chức cuộc thi “Ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo tỉnh Quảng Ninh”, đào tạo kỹ năng chuyển đổi số, thành lập Trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và hỗ trợ chuyển đổi số, ưu tiên phát triển các lĩnh vực du lịch thông minh, công nghiệp giải trí, logistics, AI, kinh tế đêm, kinh tế biển và nông nghiệp công nghệ cao.

Tỉnh Quảng Ninh xây dựng chiến lược hành động cụ thể và đề ra một số giải pháp đột phá, như: 1- Triển khai các mô hình thử nghiệm chính sách (sandbox) để startup tiếp cận môi trường thị trường sớm. 2- Tăng cường các chương trình “đặt hàng đồng phát triển” giữa doanh nghiệp lớn và startup. Hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm địa phương, cơ chế vốn mồi và bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp sáng tạo. Mở rộng hợp tác quốc tế, kêu gọi các R&D Lab và trung tâm công nghệ đặt tại Quảng Ninh.

Tỉnh Quảng Ninh thúc đẩy mô hình chính quyền số, doanh nghiệp số và xã hội số, từng bước hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn diện, góp phần vào hiện thực hóa tầm nhìn, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Là biểu tượng cho tầm nhìn chiến lược, tư duy toàn cầu và hành động địa phương. 

Trong kỷ nguyên kinh tế số, hội tụ nguồn lực quốc tế và phát triển hệ sinh thái sáng tạo là điều kiện tiên quyết để tỉnh Quảng Ninh không chỉ bắt kịp, mà còn dẫn đầu trong cuộc cách mạng đổi mới toàn diện trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình cùng dân tộc Việt Nam.

Theo báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2025, kết quả GII 2025 cho thấy tỉnh Quảng Ninh tiếp tục tận dụng hiệu quả các nguồn lực trong xã hội để tạo ra kết quả đổi mới sáng tạo vượt mức phát triển; đồng thời, khẳng định vai trò quan trọng của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong tăng trưởng kinh tế của địa phương.

Trong bối cảnh đổi mới sáng tạo toàn cầu đang đứng trước nhiều ngã rẽ, việc duy trì và cải thiện thứ hạng là cơ sở quan trọng để tỉnh Quảng Ninh tiếp tục hoàn thiện chính sách, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh cùng quốc gia trong giai đoạn tới.

Nghị quyết số 05/NQ-TW, ngày 1-11-2016, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) “Về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế”, khẳng định: “Đổi mới mô hình tăng trưởng của nước ta theo hướng “chuyển dần từ dựa vào gia tăng số lượng các yếu tố đầu vào của sản xuất sang dựa vào tăng năng suất, chất lượng lao động, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”. Nghị quyết Đại hội Đại XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) và Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030”.

Theo kết quả phân tích, đánh giá PII 2024, tỉnh Quảng Ninh là một trong 10 địa phương dẫn đầu PII 2024. Xếp theo nhóm thu nhập, nhìn chung điểm số PII 2024 của tỉnh Quảng Ninh tương quan với mức thu nhập bình quân đầu người ở mức cao. đạt điểm trung bình cao nhất, 44.55 điểm. 

Kết quả đánh giá từ thực tiễn địa phương tỉnh Quảng Ninh cho thấy sự phù hợp, tương đồng giữa kết quả PII 2024 với thực trạng phát triển kinh tế -xã hội của các địa phương thuộc nhóm dẫn đầu là các địa phương có điều kiện tự nhiên và địa lý thuận lợi, có ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế, tập trung nhiều khu công nghiệp, có cơ sở hạ tầng phát triển và có hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo mạnh mẽ. Chính là để thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” để đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.

Theo đó, tỉnh Quảng Ninh có điểm số trụ cột trong PII 2024, cụ thể các điểm mạnh là: Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đạt 97,20 điểm, cải cách hành chính đạt 100,00 điểm, chi ngân sách địa phương cho khoa học và công nghệ/GRDP (%) đạt 100,00 điểm, tỷ lệ chi đào tạo lao động trong tổng chi của doanh nghiệp (%) đạt 81,31 điểm, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo (%) chiếm 76,94 điểm. 

Tuy nhiên, có các chỉ số điểm yếu như: Tỉ lệ đất công nghiệp đã được xây dựng kết cấu hạ tầng (%) là 30,74 điểm, số dự án đầu tư đang hoạt động trong các khu công nghiệp/ 1,000 doanh nghiêp, chiếm 10,52 điểm, đơn đăng kí giống cây trồng/10,000 dân chiếm 4,03 điểm, tỷ lệ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong tổng số doanh nghiệp mới thành lập (%) chiếm 0,63 điểm, tốc độ giảm nghèo là 5,62 điểm.

Kết quả Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương: 1- Về thể chế đạt 77,59 điểm; 2- Vốn con người và nghiên cứu đạt 62,64 điểm; 3- Cơ sở hạ tầng đạt 84,54 điểm; 4- Trình độ phát triển của thị trường đạt 80,15 điểm; 5- Trình độ phát triển của doanh nghiệp đạt 51,97 điểm; 6- Sản phẩm tri thức, sáng tạo và công nghệ đạt 65,40 điểm; 7- Tác động đạt 59,42 điểm. Xếp thứ 6, là địa phương có điểm đổi mới sáng tạo 2024 cao nhất, với điểm số 48.03, tỉnh Quảng Ninh nổi trội mạnh mẽ về các chỉ số thể chế môi trường kinh doanh như cải cách hành chính, cùng cơ sở hạ tầng, quản trị điện tử. Có các chỉ số về tính năng động của chính quyền địa phương, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo, tốc độ tăng năng suất lao động cùng đóng góp trong GDP cả nước.

Những vấn đề đặt ra

Trong xu thế phát triển hiện nay, đổi mới sáng tạo đã trở thành động lực của sự tăng trưởng, là tiền đề phát triển ổn định cho doanh nghiệp và tổ chức. Những quan niệm và cách tiếp cận về đổi mới đã liên tục phát triển trong nỗ lực tìm hiểu mối quan hệ của đổi mới với sư thay đổi của thị trường.

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo là một thành tố quan trọng của hệ thống đổi mới, có quá trình chuyển biến liên tục từ đổi mới 2.0 qua đổi mới 3.0, 4.0 đến 5.0. Mô hình đổi mới 2.0 bao gồm tất cả các bên liên quan thúc đẩy các kết nối thông suốt và sự kết hợp ý tưởng trong hệ sinh thái đổi mới. 

Hệ thống này cho phép các bên tham gia cùng sáng tạo và thúc đẩy những thay đổi căn bản nằm ngoài phạm vi của công ty (Curley & Salmelin, 2014), các mô hình đổi mới hướng tới người tiêu dùng, tận dụng sự kết hợp chéo các ý tưởng để thử nghiệm và tạo mẫu sản phẩm dịch vụ mới trong môi trường thực tế (Curley & Salmelin, 2018). 

Với sự phát triển của công nghệ internet, mô hình đổi mới 3.0 đã kết nối sự đóng góp của cộng đồng trực tuyến vào việc sáng tạo, chia sẻ và chuyển giao kiến thức (Hafkesbrink & Schroll, 2011) và đổi mới 4.0 là sự kết hợp chuyển đổi số với việc theo đuổi khả năng thích ứng của các doanh nghiệp thông qua việc tạo giá trị gia tăng từ hệ sinh thái đổi mới bền vững (Costa & Matias, 2020). 

Dựa trên nền tảng cốt lõi là đồng sáng tạo giá trị, đổi mới 5.0 được định vị để phát triển mạnh hơn nữa, tập trung vào việc giải quyết các vấn đề xã hội, hỗ trợ quá trình chuyển sang đổi mới xã hội 5.0 (Aquilani et. al., 2020), ưu tiên khuyến khích các đổi mới đồng sáng tạo trong bối cảnh nền kinh tế tuần hoàn.

Tại Việt Nam và thực tiễn tỉnh Quảng Ninh cho thấy, Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam (2013), xác định đổi mới sáng tạo là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa. 

Do đó, đổi mới sáng tạo đã được nghiên cứu triển khai rộng và mạnh mẽ trong quá trình sản xuất, cung cấp sản phẩm dịch vụ, cùng với sự phát triển có tính cách mạng của khoa học, công nghệ, những cách tiếp cận về đổi mới, mô hình đổi mới sáng tạo đã có những thay đổi đáng kể. Từ cách tiếp cận có tính tuần tự đến cách tiếp cận có tính hệ thống trong hệ sinh thái đổi mới.

Một là, đổi mới - thế hệ thứ nhất (1G) - Cú hích công nghệ: Sự thúc đẩy công nghệ trong mô hình Đổi mới thế hệ đầu tiên là kết quả của sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng từ năm 1950, mô hình này được sử dụng như một công cụ quản lý vào những năm 1960, còn được gọi là “Giai đoạn - Đánh giá - Quá trình” (Phase – review - processes). 

Mô hình đổi mới thế hệ đầu tiên, ngụ ý việc giám sát nhất quán từng giai đoạn của quá trình đổi mới theo tuần tự tuyến tính: tập trung vào việc thúc đẩy đổi mới công nghệ thông qua nghiên cứu và phát triển sâu rộng ở từng giai đoạn từ nghiên cứu sản phẩm, các yêu cầu kỹ thuật, sản xuất và marketing để phát minh ra một sản phẩm thành công. Giai đoạn này đặt trọng tâm vào R&D phát triển ý tưởng, ít quan tâm đến phản hồi và mong đợi của khách hàng, thường bỏ qua hoạt động marketing.

Hai là, đổi mới - thế hệ thứ hai (2G) - Sức hút thị trường: Vào giữa những năm 1960, cách tiếp cận chuyển từ cú hích công nghệ sang cú hút thị trường. Trọng tâm bắt đầu là đáp ứng nhu cầu thị trường. Các yếu tố bị bỏ qua ở thế hệ đầu tiên, gồm: phân tích chi phí - lợi ích của từng dự án và phân bổ nguồn lực một cách có hệ thống, được quan tâm xem xét ở thế hệ thứ hai. 

Quá trình này tương tự hoặc tuần tự tuyến tính, nhưng nhấn mạnh nhu cầu thị trường, nên có thể giảm thời gian nghiên cứu. Tuy nhiên, do nhu cầu của thị trường rất năng động, các dự án sẽ kéo dài trong thời gian ngắn; do đó, việc triển khai đổi mới sáng tạo được thực hiện qua nhiều dự án nhỏ.

Ba là, đổi mới - thế hệ thứ ba (3G) - Phương pháp ghép nối: Mô hình thế hệ thứ ba khắc phục được những hạn chế của hai mô hình tuyến tính trước đó. Nó đã được chấp nhận rộng rãi trong giai đoạn lạm phát và đình trệ của nền kinh tế, có sự kết hợp chặt chẽ với nghiên cứu và phát triển (R&D) và marketing, đổi mới kết hợp giữa đổi mới công nghệ với nhu cầu thị trường. 

Mô hình này dựa trên sự kết hợp cân bằng giữa cú hích công nghệ và sức hút thị trường. Yếu tố cốt lõi thúc đẩy đổi mới sáng tạo là giảm chi phí hoạt động trong giai đoạn nền kinh tế suy giảm. Quá trình này đã hình thành một vòng phản hồi phi tuyến tính, nhưng các giai đoạn trong quy trình đổi mới đã làm cho mô hình trở nên tuần tự.

Bốn là, mô hình đổi mới thế hệ thứ tư (4G) - Mô hình tích hợp: Mô hình thế hệ thứ tư tuân theo mô hình tích hợp cho quy trình kinh doanh. Nó chuyển từ quy trình tuần tự sang quy trình song song. được áp dụng trong quá trình phát triển, giao tiếp nội bộ trong công ty, các nhà cung cấp chính ở cấp trên và khách hàng ở cấp dưới.

Năm là, mô hình đổi mới thế hệ thứ năm (5G) - Mô hình mạng, tiếp cận có tính hệ thống: Mô hình mạng tập trung vào việc phân phối hiệu quả các quy trình đổi mới theo hình thức liên kết mạng, nhấn mạnh đến việc đạt được tính linh hoạt và tăng tốc độ phát triển, nhờ có hệ thống mạng tích hợp để củng cố các yếu tố bên ngoài và bên trong.

Kết luận

Đổi mới sáng tạo ở tỉnh Quảng Ninh là yêu cầu cấp bách và tất yếu trong sự phát triển của doanh nghiệp. Để thực hiện thành công đổi mới sáng tạo, tỉnh Quảng Ninh xác định rõ, cần có tư duy chiến lược, lựa chọn mô hình, phương thức đổi mới phù hợp với năng lực của doanh nghiệp; đồng thời, kết nối với môi trường khoa học, công nghệ bên ngoài, tham gia vào hệ sinh thái đổi mới để có thể tận dụng và cộng hưởng được những thảnh tựu mới của Cách mạng công nghiệp 4.0 - 5.0 của quá trình chuyển đổi số nhằm đáp ứng sớm nhu cầu của khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh và góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế - xã hội địa phương./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Tỉnh Quảng Ninh phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên số - Kết quả bước đầu và những vấn đề đặt ra
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO