Tỉnh Quảng Ninh đổi mới tư duy phát triển kinh tế - xã hội

TS. Nguyễn Văn Ðức - ThS. Phạm Tiến Phúc 18/12/2025 17:03

Phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trung tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền mỗi địa phương. Những năm qua, tỉnh Quảng Ninh có sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy cũng như hành động để phát triển kinh tế - xã hội. Những chủ trương, chính sách của Quảng Ninh mang lại kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đưa Quảng Ninh trở thành cực tăng trưởng kinh tế năng động của cả nước.

Chủ trương đổi mới tư duy phát triển kinh tế - xã hội

Với lợi thế về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, Quảng Ninh đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Nhận thức được vị trí, vai trò của tỉnh trong quá trình phát triển đất nước, những năm qua, Quảng Ninh không ngừng đổi mới tư duy và hành động để xây dựng tỉnh ngày càng giàu mạnh. Những kết quả đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội chính là quá trình đổi mới tư duy cũng như hành động của các cấp lãnh đạo, chính quyền tỉnh Quảng Ninh. Những chủ trương đổi mới tư duy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh được thể hiện trên các phương diện sau:

Phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh phải dựa vào nguồn lực bên trong là yếu tố quyết định, nguồn lực bên ngoài đóng vai trò quan trọng, đột phá. Mục đích phát triển kinh tế - xã hội phải hướng đến con người, bảo đảm và cải thiện đời sống nhân dân. Quảng Ninh phải đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế xanh, nhu cầu thị trường, các ngành mới nổi và tăng năng suất lao động làm định hướng. Chú trọng phát triển hạ tầng, cải cách hành chính đồng bộ, hiện đại làm nền tảng, lấy giáo dục - đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, sáng tạo và ứng dụng khoa học công nghệ làm động lực. Phát triển văn hóa, xây dựng văn minh sinh thái, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường làm trọng điểm.

Quảng Ninh chủ trương chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh” theo hướng bền vững dựa vào 3 trụ cột: thiên nhiên, con người và văn hóa. Cần phải kết hợp giữa hòa bình, hợp tác, hội nhập và tranh thủ những cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Từ đó, đổi mới hệ thống chính trị cũng như xây dựng nền hành chính hiện đại. Quảng Ninh chủ trương phát triển công nghiệp dịch vụ, công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí dựa trên nền tảng công nghiệp sáng tạo được tổ chức sản xuất ở trình độ cao.

Quảng Ninh kiên trì thực hiện tổ chức không gian phát triển “một tâm, hai tuyến đa chiều và hai mũi đột phá” nhằm bảo đảm mục tiêu liên kết, đồng bộ để phát huy thế mạnh của từng địa phương trong tỉnh cũng như thế mạnh của tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng và Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Tâm là thành phố Hạ Long, trung tâm chính trị - hành chính - kinh tế - văn hóa của tỉnh; phát triển đô thị theo mô hình đa cực, lấy Vịnh Cửa Lục làm trung tâm kết nối. Tuyến hành lang phía Tây xuất phát từ Hạ Long đến Đông Triều hướng tới đồng bằng sông Hồng và Thủ đô Hà Nội, phát triển chuỗi đô thị - công nghiệp xanh, công nghiệp sạch, công nghệ cao và du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh, trong đó khu kinh tế ven biển Quảng Yên là hạt nhân, động lực tăng trưởng mới của tuyến phía Tây và của tỉnh, phát triển theo mô hình “thành phố thông minh” với các khu đô thị - công nghiệp - dịch vụ - cảng biển thông minh, hiện đại. Tuyến hành lang phía Đông xuất phát từ Hạ Long đến Móng Cái và hướng tới Đông Bắc Á, phát triển chuỗi đô thị sinh thái - dịch vụ, thương mại, du lịch tổng hợp cao cấp, nông nghiệp sạch - công nghệ cao và kinh tế biển, lấy phát triển công nghiệp để dẫn dắt nông nghiệp. Phát triển Khu kinh tế Vân Đồn và Khu kinh tế Cửa khẩu Móng Cái là hai mũi đột phá.

Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Ninh đến năm 2030 trở thành một tỉnh giàu đẹp, văn minh, hiện đại. Quảng Ninh trở thành một trong những trung tâm phát triển năng động, toàn diện, trung tâm du lịch quốc tế, trung tâm kinh tế biển, cửa ngõ của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước, đô thị phát triển bền vững theo mô hình tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu, GRDP bình quân đầu người trên 15.000 USD. Phấn đấu đến năm 2045, Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, vùng đô thị lớn mang tầm khu vực và quốc tế, một trong những đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia với động lực tăng trưởng chính là dịch vụ, du lịch, đổi mới sáng tạo, có cơ sở kinh tế vững chắc, có sức cạnh tranh cao. Thu nhập người dân tương đương các nước phát triển, kinh tế phát triển hài hòa giữa các khu vực đô thị và nông thôn nhằm bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh[1].

Những chủ trương trên về phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Ninh thể hiện rõ sự đột phá trong tư duy cũng như hành động, xác định đúng tiềm năng, thế mạnh, cơ hội cũng như mục tiêu cần hướng đến. Đây chính là cơ sở quan trọng để các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, phấn đấu đạt được những mục tiêu đã đặt ra.

Một số kết quả đạt được và kinh nghiệm trong phát triển kinh tế - xã hội

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, kinh tế - xã hội của tỉnh có những chuyển biến mạnh mẽ, đã đạt được những kết quả quan trọng:

Thứ nhất, kinh tế tăng trưởng cao và ổn định, cơ cấu chuyển dịch tích cực theo hướng bền vững. Giai đoạn 2015 - 2020, kinh tế tỉnh Quảng Ninh tăng trưởng bình quân 10,7%, quy mô nền kinh tế đạt 211.476 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành dịch vụ, công nghiệp còn ngành nông, lâm, thủy sản ngày càng giảm đi. Tổng thu ngân sách đạt 212.492 tỷ đồng, trong đó: thu nội địa đạt 154.936 tỷ đồng; thu xuất nhập khẩu đạt 57.111 tỷ đồng. Năng suất lao động xã hội bình quân tăng 12,1%/năm, năm 2020 đạt 292,9 triệu đồng/người. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội từ năm 2015 đến năm 2020 đạt 341.644 tỷ đồng. GRDP bình quân đầu người tỉnh Quảng Ninh năm 2020 đạt trên 6.700 USD/người/năm, gấp hơn 2 lần bình quân chung cả nước. Những kết quả trên cho thấy, những chủ trương đột phá tư duy về phát triển kinh tế - xã hội là đúng đắn, phù hợp với thực tiễn, yêu cầu của tỉnh Quảng Ninh. Những kết quả đạt được chính là cơ sở quan trọng để Quảng Ninh tiếp tục đổi mới tuy duy cũng như hành động để đưa kinh tế - xã hội của tỉnh ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn[2].

Thứ hai, dịch vụ, du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thực hiện chủ trương chuyển đổi mô hình phát triển từ “nâu” sang “xanh”, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Quảng Ninh đã đề xuất và tái lập Sở Du lịch, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch, thu hút được nhiều nhà đầu tư chiến lược có uy tín, thương hiệu đầu tư vào lĩnh vực du lịch, dịch vụ. Hạ tầng du lịch có bước phát triển đột phá, ngày càng đồng bộ, hiện đại, tạo ra các sản phẩm du lịch đa dạng, đặc sắc, nâng cao chất lượng dịch vụ như Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, Cảng tàu khách quốc tế Hòn Gai, Khu nghỉ dưỡng Vinpearl Hạ Long, Công viên Đại dương, quần thể du lịch nghỉ dưỡng và sân golf FLC, Khu nghỉ dưỡng Yên Tử Legacy, Khu nghỉ dưỡng cao cấp suối khoáng nóng Quang Hanh... Di sản - Kỳ quan thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long được tăng cường hiệu quả quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị với mô hình quản lý mới gắn trách nhiệm trực tiếp của Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long. Các di tích quốc gia đặc biệt và trên 600 di tích khác của tỉnh được quan tâm đầu tư, bảo tồn, phát huy bền vững giá trị gắn với phát triển du lịch. Quảng Ninh, Hạ Long trở thành điểm đến có uy tín cho nhiều sự kiện cấp quốc gia, quốc tế. Năm 2022, Quảng Ninh đón được 11,6 triệu lượt khách du lịch đến thăm quan, nghỉ dưỡng. Tổng doanh thu ngành du lịch của tỉnh đạt 25.172 tỷ đồng.

Thương mại phát triển tích cực, hệ thống các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại được hình thành và hoạt động có hiệu quả. Dịch vụ vận tải, cảng biển và hậu cần cảng biển có bước phát triển nhanh chóng, trong đó chú trọng phát triển dịch vụ logistics. Hệ thống kết cấu hạ tầng, giao thông vận tải đường bộ, đường thủy, đường hàng không ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng từ năm 2015 đến năm 2020 đạt 435.781 tỷ đồng. Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 đạt 158.000 tỷ đồng.

Thứ ba, hệ thống giao thông được đồng bộ, góp phần kết nối, thúc đẩy kinh tế phát triển cũng như liên kết giữa các địa phương, vùng, miền. Những năm qua, Quảng Ninh luôn chú trọng phát triển hệ thống giao thông đường bộ, đường biển cũng như đường hàng không để kết nối địa phương với các vùng, miền trong cả nước cũng như đối với quốc tế. Việc khánh thành tuyến đường cao tốc Hạ Long - Hải Phòng, Hạ Long - Vân Đồn, Vân Đồn - Móng Cái và đưa vào hoạt động Sân bay quốc tế Vân Đồn và Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long tạo ra động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, thu hút được nhiều nguồn đầu tư của các công ty, doanh nghiệp, tập đoàn trong và ngoài nước hợp tác làm ăn với Quảng Ninh. Cùng với đó, hệ thống đường bộ Hà Nội - Quảng Ninh, Sân bây Vân Đồn, Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long, Cảng Cái Lân kết hợp với các cảng biển, sân bay của Hà Nội, Hải Phòng tạo thành một chuỗi liên kết đồng bộ, thống nhất thúc đẩy kinh tế - xã hội Quảng Ninh, tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh ngày càng phát triển, trở thành cực tăng trưởng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Việc hệ thống giao thông được đồng bộ, không chỉ có ý nghĩa phục vụ đi lại, mà còn có ý nghĩa to lớn về phát triển kinh tế trong toàn vùng, nhằm khai thác triệt để những lợi thế, tiềm năng du lịch biển, đảo của các địa phương. Từ đó, ngày càng thúc đẩy cực tăng trưởng năng động Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh phát triển, kết nối sâu rộng với các vùng, miền trong cả nước cũng như hợp tác quốc tế.

Thứ tư, hoạt động kinh tế biển được chú trọng phát triển đưa Quảng Ninh dần trở thành trung tâm kinh tế biển. Những năm qua, các trung tâm kinh tế biển Vân Đồn, Hải Hà được hình thành và hoạt động có hiệu quả. Kinh tế biển Vân Đồn dần trở thành khu du lịch sinh thái biển chất lượng cao, trung tâm dịch vụ cao cấp và đầu mối giao thương quốc tế. Khu công nghiệp cảng biển Hải Hà được đầu tư phát triển trở thành đầu mối vận tải cho cả miền Bắc và vùng Biển Đông. Cô Tô, Hải Hà, Tiên Yên, Quảng Yên, Móng Cái được xây dựng trở thành những trung tâm dịch vụ hậu cần đánh bắt xa bờ, thăm dò, khai thác tài nguyên biển, khu neo đậu tàu thuyền tránh bão, các trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá tại các huyện, thị xã ven biển... Cảng Cái Lân được trang bị công nghệ tiên tiến, hiện đại, đồng bộ cung cấp dịch vụ tốt nhất cho hàng hóa vận tải đường biển. Ngoài ra, Quảng Ninh cũng đang đẩy mạnh phát triển tổ hợp cảng biển - khu công nghiệp với 2 dự án quan trọng là Khu công nghiệp Bắc Tiền Phong và Khu công nghiệp Nam Tiền Phong (DEEP C Quảng Ninh) tại Khu kinh tế ven biển Quảng Yên. Các cảng biển xây dựng trong DEEP C Quảng Ninh sẽ kết nối trực tiếp với cảng biển nước sâu Lạch Huyện tại Hải Phòng, thông qua sông Chanh với dự án nạo vét sông Chanh. Những tổ hợp cảng biển, khu công nghiệp trên sẽ góp phần giảm chi phí vận chuyển nội địa, thúc đẩy phát triển logistics cũng như liên kết vùng. Đây được coi là “chìa khóa” để nâng cao năng lực cạnh tranh của Quảng Ninh đối với nhà đầu tư, cũng như khẳng định vị trí, vai trò cực tăng trưởng kinh tế năng động của cả nước (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh)[3].

Thứ năm, khoa học và công nghệ được chú trọng phát triển, ứng dụng gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Với mục tiêu đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cũng như quản lý xã hội, Quảng Ninh đã ban hành chủ trương phát triển khoa học và công nghệ, xây dựng nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển khoa học công nghệ. Tỉnh đã dành nguồn lực thỏa đáng để đầu tư, hỗ trợ, khuyến khích đẩy mạnh đổi mới công nghệ, ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính quyền điện tử, thành phố thông minh chiếm khoảng 5,3% tổng chi thường xuyên ngân sách của tỉnh. Tổng vốn đầu tư xã hội cho khoa học công nghệ chiếm khoảng 2,8% GRDP. Đến nay, Quảng Ninh đã xây dựng được khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại thị xã Đông Triều và huyện Đầm Hà. Đến năm 2020, số lượng cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp áp dụng thành công hệ thống quản lý và công cụ quản lý chất lượng tiên tiến tăng 1,7 lần so với năm 2015. 100% số cơ quan hành chính nhà nước từ cấp tỉnh đến xã đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng TCVN ISO 9001:2015, hướng tới quản lý chất lượng TCVN ISO điện tử. Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2020 đạt 45,24%; 100% số sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 trên địa bàn tỉnh được quản lý bằng quy chuẩn kỹ thuật. Năng lực phân tích, kiểm định và thử nghiệm được nâng cao. Xác lập quyền sở hữu công nghiệp cho các đối tượng, sáng chế, giải pháp hữu ích. Quản lý quy chuẩn đối với 100% số sản phẩm hàng hóa có khả năng gây mất an toàn vệ sinh, ô nhiễm môi trường và bảo đảm an toàn bức xạ.

Đạt được những kết quả trên là cả quá trình Đảng bộ, chính quyên, nhân dân tỉnh Quảng Ninh không ngừng lao động, sản xuất, đổi mới, đột phá trong tư duy cũng như hành động để phát huy những tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, khắc phục những khó khăn, thách thức để hoàn thành xuất sắc những mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra. Trên cơ sở những kết quả đạt được, tỉnh Quảng Ninh đã rút ra kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, đó là: cần phải đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển, bám sát thực tiễn Quảng Ninh; năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện; nắm chắc đường lối chung, xuất phát từ bối cảnh và thực tế để đánh giá nhận diện đúng tình hình; chủ động, kịp thời vận dụng sáng tạo chủ trương, nghị quyết của Đảng, có những quyết sách và hành động phù hợp theo quy luật khách quan; lựa chọn đúng trọng tâm, khâu đột phá, tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo, nguồn lực, tổ chức thực hiện dứt điểm, đo lường được kết quả, hiệu quả[4].

Những giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội

Một là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chú trọng đến sự phát triển bền vững, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên, nâng cao thu nhập, đời sống nhân dân. Tập trung thực hiện 3 đột phá chiến lược gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển bền vững và chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”.

Hai là, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của du lịch gắn với phát triển công nghiệp dịch vụ, công nghiệp văn hóa, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu GRDP của tỉnh. Xây dựng tỉnh Quảng Ninh trở thành một trong những trung tâm du lịch quốc tế phát triển theo chiều sâu có trọng tâm, trọng điểm. Chú trọng phát triển Hạ Long, Cẩm Phả, Vân Đồn, Móng Cái, Uông Bí, Cô Tô trở thành trung tâm du lịch, động lực phát triển dịch vụ của tỉnh Quảng Ninh. Xây dựng thành phố Hạ Long trở thành trung tâm du lịch quốc gia mang tầm quốc tế gắn với bảo tồn và phát huy bền vững di sản kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long và Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng. Tập trung phát triển Khu kinh tế Vân Đồn và vùng biển đảo Vân Đồn, Cô Tô kết nối với Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long tạo thành chuỗi sản phẩm du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng đặc sắc, cao cấp. Phát triển đi đôi với tăng cường quản lý khu vực Uông Bí - Đông Triều - Quảng Yên trở thành trung tâm du lịch văn hóa - lịch sử - tâm linh, sinh thái có sức hấp dẫn cao. Khu vực Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà kết nối với thành phố Móng Cái phát triển du lịch sinh thái khám phá, trải nghiệm gắn với cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa dân tộc. Tăng cường đầu tư, phát triển du lịch, dịch vụ đẳng cấp, bền vững trên các đảo thuộc vùng biển Vân Đồn - Cô Tô, đảo Cái Chiên (Hải Hà), Vĩnh Trung, Vĩnh Thực gắn với khu du lịch quốc gia Trà Cổ (Móng Cái).

Ba là, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu công nghiệp nhằm đem lại hiệu quả, giá trị cao, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo, nhất là lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao thân thiện với môi trường, công nghiệp thông minh có giá trị gia tăng lớn, quản trị hiện đại tạo đột phá đóng góp vào GRDP và thu ngân sách. Phát triển nhanh, bền vững Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, Khu kinh tế Vân Đồn, Khu kinh tế Quảng Yên, Khu công nghiệp dịch vụ - cảng biển Hải Hà, các khu công nghiệp Đông Mai, Hải Yên, Sông Khoai, Việt Hưng. Tiến hành quy hoạch và cơ cấu lại ngành nghề Khu công nghiệp Cái Lân trở thành khu công nghiệp thông minh, công nghệ cao.

Bốn là, phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển. Quảng Ninh phải tập trung phát triển bền vững các hành lang kinh tế, đô thị ven biển gắn với các hành lang giao thông đồng bộ, hiện đại ngày càng hoàn thiện của tuyến phía Tây và tuyến phía Đông của tỉnh. Xây dựng, khai thác có hiệu quả các cảng biển và dịch vụ vận tải cảng biển có quy mô lớn, dịch vụ logistics chuyên nghiệp, trọng điểm là cảng Hòn Nét - Con Ong, Nam Tiền Phong, Hải Hà. Thúc đẩy liên kết vùng, xây dựng Quảng Ninh - Hải Phòng trở thành trung tâm kinh tế biển, là cửa ngõ, động lực phát triển của vùng và cả nước. Chú trọng bảo vệ môi trường, quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững các loại tài nguyên biển và hải đảo theo quy định của pháp luật. Tiến hành quy hoạch phát triển các vùng nuôi trồng, nhân giống, bảo tồn nguồn gene các loài thủy, hải sản có giá trị kinh tế cao.

Năm là, mở rộng và đẩy nhanh tốc độ ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, thúc đẩy sản xuất thông minh, du lịch, y tế, giáo dục, thông tin truyền thông, xây dựng chính quyền điện tử hướng tới chính quyền số và xây dựng đô thị thông minh. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, công khai minh bạch, hấp dẫn, tạo thuận lợi nhất cho khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo phát triển doanh nghiệp mới. Huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, thu hút tối đa nguồn vốn bên ngoài, nhất là vốn đầu tư nước ngoài nhằm đem lại giá trị, hiệu quả kinh tế cao, đóng góp ngày càng nhiều vào ngân sách nhà nước(5)./.


[1] Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2020), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020 - 2025.

[2] Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2020), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020 - 2025.

[3] Tỉnh ủy Quảng Ninh - Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản (2023), Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quảng Ninh nhận diện và phát huy các giá trị văn hóa, con người, tạo nguồn lực cho phát triển nhanh, bền vững.

[4] Nguyễn Xuân Ký, Tỉnh Quảng Ninh - đột phá bắt đầu từ tư duy lãnh đạo, tầm nhìn và khát vọng phát triển,https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thuc-tien-kinh-nghiem1/-/2018/823972/tinh-quang-ninh---do..., đăng ngày 28-8-2021.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Tỉnh Quảng Ninh đổi mới tư duy phát triển kinh tế - xã hội
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO