Tỉnh Quảng Ninh: Đổi mới tư duy phát triển đặc khu kinh tế để tăng trưởng nhanh, bền vững

Quá trình phát triển đất nước là quá trình không ngừng đổi mới toàn diện về thể chế, tổ chức bộ máy hành chính và cơ cấu của nền kinh tế để phù hợp yêu cầu của từng thời kỳ. Trên cơ sở đánh giá toàn diện, khách quan về các mặt đạt được và yêu cầu thực tiễn, năm 2025, Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã thông qua nhiều chủ trương và văn bản pháp quy quan trọng để xây dựng một nhà nước pháp quyền phục vụ tăng trưởng kinh tế.
Trên thế giới, mô hình đặc khu kinh tế được triển khai ở nhiều khu vực và đã diễn ra từ rất lâu. Ở thế kỷ 19, có thể nói Hồng Kông hay Ma Cao cũng mang dáng dấp của một đặc khu kinh tế nhưng không gắn liền với quốc gia sở tại. Sang thế kỷ 20, nhiều quốc gia đã tự xây dựng mô hình một quốc gia - một đặc khu kinh tế như Singapore hoặc các quốc gia là các quần đảo được mệnh danh là thiên đường thuế.
Cuối thế kỷ 20, Trung Quốc là một quốc gia áp dụng tương đối thành công mô hình đặc khu kinh tế và đặc khu kinh tế nâng cao để thu hút vốn đầu tư, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần trong vòng 30 năm đưa Trung Quốc vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới.
Ở Việt Nam, ngay từ khi bắt đầu đổi mới, Đảng, Nhà nước cũng đã có những lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện những bước đi ban đầu trong việc xây dựng các đặc khu kinh tế ở dạng sơ khai, như khu chế xuất, khu công nghiệp. Sang đến thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21, Việt Nam mới quyết định xây dựng hành lang pháp lý cho mô hình đặc khu hoạt động nhưng kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà quản lý ở thời điểm đó chưa được áp dụng.
Từ sau cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và sau Tuyên bố Paris về chống biến đổi khi hậu, yêu cầu của các nước đang phát triển đòi hỏi phải áp dụng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh được coi là động lực quan trọng nhất trong quá trình chuyển đổi kinh tế xã hội của thế giới.
Đặc biệt, các nước đang phát triển và ngay cả các nước phát triển với mong muốn có tốc độ phát triển cao cũng đã xây dựng các mô hình đặc khu kinh tế kiểu mới dựa vào khoa học, công nghệ, lấy mục tiêu phát triển vì lợi ích của người dân, lợi ích của doanh nghiệp.
Trong quá trình phát triển, các đặc khu nổi lên 3 thách thức: 1) Sự phụ thuộc của phát triển đặc khu kinh tế vào phát triển cơ sở hạ tầng và ranh giới hành chính. 2) Mô hình phát triển đặc khu kinh tế xanh, bền vững thách thức các cấu trúc quy hoạch hiện tại và tổ chức chính quyền hiện hành. 3) Hình thành một mô hình đặc khu kinh tế phát triển bền vững, xanh, có trật tự, giám sát được.
Vấn đề lớn nhất hiện nay là quá trình xây dựng đặc khu kinh tế có xu hướng tách đặc khu ra khỏi các yếu tố đời sống xã hội và phát triển bền vững. Các đặc khu kinh tế công nghiệp quy mô lớn phát triển nhanh và có xu hướng hợp nhất, có sức hấp thụ tăng dân số cơ học để hình thành thị trường lao động.
Quy mô của đặc khu kinh tế ngày càng lớn, luôn gắn với các thành phố vệ tinh hình thành theo sự phát triển của đặc khu nên giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động là một vấn đề nan giải. Việc hình thành các đặc khu kinh tế vừa đáp ứng yêu cầu là một trung tâm sản xuất, trung tâm vốn tài chính kết hợp với tiến bộ công nghệ, đáp ứng được yêu cầu cuộc sống, như chỗ ở, giải trí, tiêu dùng đan xen nhau là một thách thức về quản lý sự phát triển bền vững.
Các yêu cầu về quản lý mới rất đa dạng bao gồm quy mô, sự phân bổ không gian, phạm vi và tính tích hợp của các vấn đề mà cuộc sống đặt ra. Chính mô hình phát triển này tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau về phát triển kinh tế và hệ sinh thái, hình thành mô hình quản trị hành chính mới, phát triển kinh tế xanh, vì quyền lợi của cư dân và lợi ích của doanh nghiệp.
Khi phát triển đặc khu kinh tế, những vấn đề, như người lao động không vượt được ngưỡng thu nhập trung bình do vòng xoáy của sự tăng nguồn lao động, hạn chế về cung ứng nhà ở, suy thoái về cơ sở hạ tầng và môi trường sống bền vững.
Khi triển khai xây dựng đặc khu kinh tế, ngay từ đầu phải đề cập đến vấn đề phát triển xanh, hạ tầng số, bảo vệ môi trường sống hoặc một vấn đề rất đơn giản là xử lý chất thải bao gồm xử lý chất thải rắn, lỏng và khí. Giải pháp cho những vấn đề nêu trên là phải hình thành một chương trình xây dựng đặc khu kinh tế xanh, số, bền vững từ các nguồn lực tham gia đầu tư vào đặc khu.
Mô hình phát triển đặc khu xanh liên quan chủ yếu đến cơ sở hạ tầng, như nhà ở cho người lao động, giao thông trong khu vực và kết nối logistics, trường học cho trẻ em và giáo dục nghề cho người lao động cũng như sự hội nhập của người lao động nhập cư làm việc trong khu vực đặc khu kinh tế. Quá trình phát triển này nếu tư nhân hóa thường sẽ tách khỏi sự tham gia của cư dân mà chỉ hướng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Do các đặc khu kinh tế được xây dựng mới nên trong kế hoạch phải đặt yêu cầu toàn bộ quan hệ kinh tế - xã hội trong khu vực phải là kinh tế số trên tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội, định hình lại cách chúng ta sống, làm việc và liên hệ với nhau, trong đó đặc biệt lưu ý việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho chính quyền số, văn hóa số và công dân số.
Lâu nay, nhiều người thường quan niệm kinh tế số chỉ là quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp. Tuy nhiên, kinh tế số bao gồm hạ tầng số, như internet, điện toán đám mây, internet vạn vật, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, lực lượng lao động số,… nên cần bảo đảm có một đội ngũ nguồn nhân lực đáp ứng được việc vận hành doanh nghiệp số và tương thích với chính quyền số.
Một vấn đề quan trọng là phải hình thành được môi trường pháp lý cho kinh tế số và xã hội số vận hành theo đúng quy định của Hiến pháp, bảo đảm bí mật cá nhân nhưng không cản trở hoạt động nghiên cứu công nghệ số.
Để các đặc khu kinh tế hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ngay từ lúc hình thành đã là mô hình đặc khu kinh tế số, cần thực hiện một số việc quan trọng sau đây:
Thứ nhất, nâng cao năng lực chính quyền số.
Thứ hai, nguồn lực kinh tế của địa phương cần được ưu tiên sử dụng vào xây dựng hạ tầng số của các cơ quan quản lý nhà nước trong các đặc khu, trước hết là nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp, xây dựng nền hành chính khoa học, hiệu quả, xây dựng đặc khu kinh tế thông minh, xanh, có hệ thống cơ sở dữ liệu mở có tính kế nối cao để tạo điều kiện phát triển kinh tế số, xã hội số.
Thứ ba, phát huy tốt hơn vai trò của doanh nghiệp. Doanh nghiệp là một bộ phận trọng yếu của đặc khu kinh tế, tham gia tích cực vào vận hành nền kinh tế số.
Với nguồn lực của mình, các doanh nghiệp hoạt động trong đặc khu phải kết hợp với chính quyền đặc khu phát triển hạ tầng số trong phạm vi doanh nghiệp, liên kết với y tế số, giáo dục số để phục vụ cho người lao động, đóng vai trò dẫn dắt các ngành công nghệ trọng điểm của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4.
Với các định hướng ưu tiên trong phát triển kinh tế số, cần đặt ra những mục tiêu rõ ràng cho các doanh nghiệp tham gia vào đặc khu kinh tế thuộc các lĩnh vực tương ứng thực hiện chuyển giao làm chủ, từng bước nghiên cứu phát triển, nâng tầm công nghệ để tạo ra các sản phẩm công nghệ phù hợp nhất với thị trường.
Thứ tư, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên quan trọng. Sự thay đổi liên tục của thiết bị công nghệ số đang làm cho nhu cầu về các loại nguyên liệu, khoáng sản phục vụ hạ tầng số như sản xuất chip tăng vọt. Theo dự báo của nhiều tổ chức quốc tế, nhu cầu về coban, than chì và một số loại đất hiếm dự kiến sẽ tăng từ 4 - 5 lần vào năm 2050.
Quá trình vận hành nền kinh tế số, xã hội số cũng đòi hỏi mức độ tiêu thụ năng lượng tăng rất cao, việc bảo đảm quyền tiếp cận các nguồn khoáng sản và năng lượng bình đẳng, hiệu quả phải là chiến lược phát triển của đặc khu kinh tế. Cơ quan quản lý nhà nước tại đặc khu phải có kế hoạch sử dụng các nguồn lực theo hướng dài hạn, có hiệu quả, tính đến cả khả năng cạnh tranh với các quốc gia trong kỷ nguyên số.
Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: “Tập trung xây dựng xã hội số, số hóa toàn diện hoạt động quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao. Kết nối đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, doanh nghiệp, tạo nền tảng tinh gọn bộ máy, cải cách thủ tục hành chính thực chất… Phát triển công dân số, trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết để người dân tham gia hiệu quả vào nền kinh tế số và xã hội số, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau”.
Chỉ có thực hiện đồng bộ chiến lược phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, lấy người dân làm trung tâm, các đặc khu kinh tế nói riêng, nền kinh tế Việt Nam nói chung mới phát triển nhanh và bền vững, đạt được hai mốc mục tiêu quan trọng tới 2030 và 2045 như Tổng Bí thư Tô Lâm đã phát biểu./.
