Tỉnh lỵ giành chính quyền đầu tiên trong cả nước - đặc sắc Cách mạng Tháng Tám ở Quảng Ninh
81 năm đã trôi qua, nhưng bài ca mang tên "Mười chín Tháng Tám" vang vọng trên đường Hà Nội trong mùa thu năm ấy vẫn còn được hát mãi cho đến ngày hôm nay. Đó là bài ca ngợi ca độc lập, bài ca của những người làm chủ từ phố phường đông vui đến biển xanh sóng vỗ, từ hầm mỏ nhà máy đến bát ngát những cánh đồng.

1. Chiến khu Đông Triều được thành lập ngay từ ngày 8-6-1945 đã huy động được sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân, thu hút được đông đảo tầng lớp; ngoài công nhân mỏ, nông dân, tăng ni còn có học sinh, công chức tiểu thương, tiểu chủ, binh lính, thậm chí là cả những người bên kia chiến tuyến.
Tất cả, dù có thành phần xuất thân khác nhau, nhưng họ đã đoàn kết chặt chẽ dưới ngọn cờ yêu nước của Mặt trận Việt Minh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, tạo nên sức mạnh to lớn của chiến khu cách mạng.
Những người nổi lên khởi nghĩa ở Vùng mỏ lúc bấy giờ là những người đã thay mặt cho những người công nhân cần lao lam lũ vùng dậy đứng lên. Không một thế lực phản động nào dám chống lại và đủ sức ngăn cản được sức mạnh của họ.
PGS, TS Nguyễn Mạnh Hà - nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - đánh giá: Cách mạng Tháng Tám ở Quảng Ninh có nhiều điểm đặc biệt, vì nơi đây là một trong những cái nôi hình thành giai cấp công nhân Việt Nam.
Phải nói ngay rằng, mỗi khi nhắc đến giai cấp công nhân Việt Nam là người ta nhớ ngay đến Vùng mỏ Quảng Ninh, đến công nhân mỏ. Đội ngũ công nhân mỏ, dưới sự lãnh đạo của lớp đảng viên ưu tú đã được Đảng đào tạo, rèn luyện đưa về vô sản hoá đã đứng lên tổng bãi công năm 1936, trong cao trào Cách mạng 1936 - 1939 và tiến tới Cách mạng Tháng Tám giành chính quyền sau này.
Trong khi vận động cách mạng Tháng Tám, Quảng Ninh cũng là địa bàn được Đảng tập trung để mà chỉ đạo phát triển phong trào cách mạng. Chính vì thế, trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, Quảng Ninh là địa phương nổi lên khởi nghĩa rất sớm, đó là Quảng Yên ngay từ từ tháng 7-1945 đã khởi nghĩa giành chính quyền.
Trước đó, căn cứ vào quyết nghị của Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ tháng 4-1945 thành lập các chiến khu, Quảng Ninh cũng đã thành lập được Đệ tứ chiến khu chiến khu Đông Triều - 1 trong 7 chiến khu của cả nước.
Ngày 9-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật. Quân đội Nhật ở Đông Dương mất tinh thần, chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim rệu rã. Thời cơ cách mạng nghìn năm có một đã đến.
Tại Tân Trào (Tuyên Quang), Đảng ta đã triệu tập Hội nghị toàn quốc, quyết định phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa. Ngày 18-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi "Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa" tới toàn thể quốc dân Việt Nam. Lệnh Tổng khởi nghĩa phát đi tới nhiều địa phương. Toàn dân tộc nắm đúng thời cơ lịch sử nghìn năm có một nhất tề đứng dậy.
Những ngày mùa thu Tháng Tám, tin tức từ các chiến khu Cao Bắc Lạng và những hoạt động của Việt Minh ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hà Nội bắt đầu dội về Vùng mỏ. Người Vùng mỏ bàn tán về những chiến công phá kho thóc của Nhật chia cho dân. Những chuyện đánh Nhật của Việt Minh được truyền miệng lan đi nhanh chóng.
Từ ngày 14 đến 18-8, khởi nghĩa thắng lợi ở nhiều vùng nông thôn và đô thị. Tại Hà Nội, vào ngày 19-8, hàng chục vạn người dân đã tham gia cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà hát Lớn, sau đó biến thành cuộc biểu tình vũ trang, chiếm giữ các cơ quan đầu não của địch và giành chính quyền.

2. Quảng Ninh vô cùng tự hào khi có một người con tham gia xuống đường đúng ngày 19-8 tiến về Nhà hát Lớn, đó là nhạc sĩ Đỗ Xuân Oanh, sinh năm 1923, nhà ở phố Lê Lợi, phường Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Vào thời đó, để đủ tuổi đi làm và theo cách mạng, đồng chí Đỗ Xuân Oanh đã khai sớm lên 2 tuổi. Đồng chí lần lượt làm công nhân Nhà máy kẽm Quảng Yên, trong hầm mỏ than ở Hòn Gai rồi sang cảng Hải Phòng.
Tại đây, đồng chí quen biết nhà thơ - nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi, nhạc sĩ Văn Cao và tiếp xúc với nhiều chiến sĩ cách mạng trẻ ở Hải Phòng và bắt đầu ủng hộ Việt Minh.
Năm 19 tuổi, đồng chí lên Hà Nội học thêm nghề đóng giày, bán giày. Năm 1944, đồng chí Xuân Oanh gia nhập Mặt trận Việt Minh, được phân công làm công tác tuyên truyền tại khu vực Nam Hà Nội.
Những ngày khởi nghĩa sắp diễn ra, Xuân Oanh đã nung nấu sáng tác một bài hát về sự kiện vô cùng to lớn này. Ngày 18-8-1945, đồng chí đắm mình trong các hoạt động chuẩn bị cho cuộc tuần hành vào sáng hôm sau.
Đồng chí Xuân Oanh sáng tác ca khúc “Mười chín Tháng Tám” một cách xuất thần trên đường phố Hà Nội cùng đoàn quân cách mạng tiến về Bắc Bộ phủ giành chính quyền.
Nhạc sĩ Xuân Oanh đi đầu đoàn tuần hành bắt đầu từ ga Giáp Bát. Xuân Oanh thấy đồng điệu với những bước chân rầm rập của khối quần chúng sục sôi. Đồng chí đã đi với cả bước chân của người cha và ông nội sinh bất phùng thời ly tán, lưu lạc; đi với tuổi thơ cơ cực ở nhà máy kẽm ở bến phà Rừng, ở hầm sâu lem luốc than đen. Xuân Oanh đồng hành cùng những người thợ lam lũ, nô lệ, những người đang căm hờn không cam chịu thân phận mất nước.
Cũng từ đây, giai điệu và những ca từ đầu tiên đã vang lên trong đầu ông. Được câu nào, ông lại phổ biến ngay cho đoàn biểu tình. Tới khu vực chợ Mơ thì bài hát đã đến được câu cuối.
Xuân Oanh bắt nhịp cho mọi người hát lại từ câu đầu, vừa tuần hành vừa hát rất khí thế. Bài hát được mọi người truyền tai nhau, đồng thanh hát và phổ biến rất nhanh sau đó. Khi tới Nhà hát Lớn, mọi người đều thuộc lòng ca khúc này.

Tại Bắc Giang (nay là Bắc Ninh), đồng chí Nguyễn Ngọc Đàm, sau này là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, tham gia hoạt động giành chính quyền.
Ngay từ thuở còn thiếu niên, lúc mới 14 - 15 tuổi, ông đã theo anh trai (đồng chí Nguyễn Văn Luận, tức Trần Danh Tuyên - Xứ ủy viên Bắc Kỳ, sau làm Bí thư Tỉnh ủy Nam Định, Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính Hà Nội, Bí thư Thành ủy Hà Nội) ra Quảng Yên làm liên lạc cho Việt Minh.
Đến năm 1939, khi người anh trai bị Pháp bắt, đồng chí về làm công nhân tại Nhà máy đúc gang Bạc Sơn ở Bắc Giang và tham gia hoạt động Việt Minh.
Đồng chí Nguyễn Ngọc Đàm tham gia vào phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, với lực lượng nòng cốt là công nhân lao động trong các nhà máy, hầm mỏ, trong đó có tỉnh Bắc Giang.
Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng Nhà máy Bạc Sơn, tổ chức công đoàn cứu quốc, người thợ Nguyễn Ngọc Đàm và các đồng chí của mình đã cùng nhân dân trong tỉnh, dưới sự lãnh đạo của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh, đã giành chính quyền và giải phóng tỉnh Bắc Giang ngày 18-8.
Sau khi giành chính quyền ở tỉnh Bắc Giang, đồng chí được giao chức vụ Thư ký Công đoàn của Nhà máy Bạc Sơn, vinh dự được về Hà Nội dự Hội nghị đại biểu công nhân toàn miền Bắc. Sau đó, đồng chí trở về Khu Hồng Quảng.
Tại miền duyên hải Đông Bắc, lệnh Tổng khởi nghĩa và Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền đi nhanh chóng. Trừ Quảng Yên là nơi quân ta đã chiếm được tỉnh lỵ, tuy vẫn chưa thành lập chính quyền cách mạng, các địa phương khác trong Vùng mỏ, công nhân, nông dân, học sinh,... sôi sục khí thế cách mạng, nhiều người đã tự may cờ đỏ sao vàng, tự sắm vũ khí thô sơ, sẵn sàng vùng lên giành chính quyền.
Ngày 19-8, tin Hà Nội đã giành được chính quyền lan nhanh về Vùng mỏ, nhân dân và thanh niên hết sức phấn khởi. Công nhân mỏ hò reo xuống bến tàu đón một đơn vị giải phóng quân do đồng chí Nguyễn Văn Thiện chỉ huy về Cẩm Phả để lập chính quyền cách mạng.
Đội giải phóng quân chỉ có vài chục người, nhưng đã được sự hậu thuẫn của hàng trăm thanh niên và công nhân mỏ. Khởi nghĩa ở Khu mỏ được gọi là khởi nghĩa tự quản, nghĩa là nghĩa quân Đệ tứ chiến khu về hỗ trợ giành chính quyền, sau đó bàn giao lại cho địa phương tự quản lý.
Ngày 22-8, khi lệnh khởi nghĩa được ban bố, cả thành phố Hải Phòng náo nức chuẩn bị. Lực lượng vũ trang của Chiến khu Trần Hưng Đạo chia làm 2 cánh tiến về Hải Phòng. Cánh thứ nhất gồm Đại đội Hoàng Văn Thụ, Đại đội Đề Thám cùng 2 tiểu đội của Trung đội Ký Con do Hải Thanh chỉ huy, xuất phát từ sông Đạm Thủy về chiếm Sở Dầu, trấn giữ vị trí đầu cầu ven thành phố.
Cánh quân thứ hai gồm Đại đội Phạm Hồng Thái và 1 tiểu đội của Trung đội Ký Con do đồng chí Nguyễn Bình chỉ huy, sang Thủy Nguyên qua Bến Bính tiến vào Nhà hát Lớn thành phố.
Đúng 10 giờ ngày 23-8, cuộc mít tinh trọng thể diễn ra tại Nhà hát Lớn, tuyên bố xóa bỏ chính quyền tay sai của phát xít Nhật, thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Hải Phòng.

Trung đội Ký Con (lúc này đã có quân phục thống nhất từ sau chiến thắng Bí Chợ) do đồng chí Lê Phú, Trung đội trưởng chỉ huy đã tham gia xuống đường tuần hành biểu dương lực lượng.
Sau đó, Trung đội về đóng tại trại lính bảo an; ít ngày sau được chuyển về trại Bu-ê (nay là Bộ Tư lệnh Hải quân), bổ sung quân là tự vệ chiến đấu và thanh niên cứu quốc, được Ủy ban Quân sự cách mạng Chiến khu xây dựng thành Đại đội Ký Con. Đại đội có 3 trung đội, trong đó có 1 trung đội toàn nữ. Lê Phú tiếp tục được cử là Đại đội trưởng.
Ở khu mỏ Cẩm Phả, ngày 22-8, thanh, thiếu niên mỏ hồ hởi đón Đại đội Nguyễn Trãi nhanh chóng cập bến tàu về, bảo vệ thành quả cách mạng vừa giành được. Ngày 27-8-1945, ta tiếp tục lập chính quyền Cách mạng lâm thời ở Cẩm Phả, Cửa Ông và hầu hết các đảo ở Cẩm Phả huyện (nay là Đặc khu Vân Đồn). Ở Cẩm Phả và một số xã thuộc khu vực miền Đông của tỉnh gọi là khởi nghĩa tự quản, dưới ảnh hưởng của Việt Minh.
Ngày 24-8, tại thị xã Quảng Yên, Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời của tỉnh Quảng Yên đã ra mắt nhân dân. Lực lượng vũ trang cách mạng của tỉnh được tăng cường, được bổ sung thêm nhiều đoàn viên, thanh niên hăng hái, nhiệt tình cách mạng, sẵn sàng làm nhiệm vụ bảo vệ chính quyền non trẻ.
Cách mạng Tháng Tám 1945 đã chặn đứng được nạn diệt chủng mà phát xít Nhật và thực dân Pháp gây ra cho nhân dân ta và là tín hiệu mở đầu cho sự tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc.
Đặc biệt, tại duyên hải Đông Bắc, tổng khởi nghĩa thắng lợi, lực lượng vũ trang Chiến khu Trần Hưng Đạo đã làm nòng cốt để bảo vệ chính quyền cách mạng tiếp tục lập nhiều chiến công trong sự nghiệp giữ vững chính quyền nhân dân còn non trẻ.
Chiến khu đã hoàn thành sứ mệnh của mình: ra đời trong thời kỳ tiền khởi nghĩa và phát triển nhanh chóng, liên tục tiến công, đẩy cao phong trào kháng Nhật cứu quốc, góp phần quan trọng vào cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở một vùng rộng lớn và hết sức quan trọng là Đông Bắc và duyên hải Bắc bộ trong những ngày Tháng Tám lịch sử.
3. Đặc biệt, Quảng Ninh vinh dự có nhiều nhân chứng lịch sử tham gia vào cao trào cách mạng giành chính quyền trong cả nước như đồng chí Lê Phú - Trung đội trưởng Ký Con, đồng chí Nguyễn Ngọc Đàm - công nhân nhà máy Bạc Sơn, đặc biệt là nhạc sĩ Xuân Oanh - cán bộ Việt Minh nội thành Hà Nội với ca khúc để đời.
Có thể nói, nhạc sĩ Xuân Oanh đã đến với cách mạng bằng tất cả sự cuồng nhiệt, say mê, trong trẻo của một thanh niên yêu nước chân thành, một nghệ sĩ, dịch giả, nhà khoa học bẩm sinh.
Nhạc sĩ Xuân Oanh bằng cảm hứng xuất thần của mình ngay trong ngày lịch sử khởi nghĩa ở Hà Nội đã viết ca khúc độc đáo với tựa đề là những con số ngày tháng như một tiếng nổ hân hoan của toàn dân tộc đón chào cuộc đời tự do.
Là một trong những hội viên đầu tiên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam, nhưng Xuân Oanh không khi nào tự coi mình là một nhạc sĩ. Sinh thời, nhạc sĩ Xuân Oanh rất khiêm tốn khi nhắc đến ca khúc này: "mình chỉ là người may mắn được lịch sử chọn để ghi lại bằng âm nhạc khí thế cách mạng long trời lở đất của dân tộc ta trong ngày đứng lên lật đổ chế độ thực dân, phong kiến đã bao đời đè nặng để lập nên nhà nước và chính quyền nhân dân đầu tiên ở châu Á".
Bài hát đầu tiên của ông đã đặc biệt gây ấn tượng trong phong trào cách mạng và khắp cả nước hầu như đâu đâu cũng vang lên những câu hát: "Mười chín tháng Tám chớ quên là ngày khởi nghĩa/ Cờ bay nơi nơi, muôn ánh sao vàng...".

81 năm đã trôi qua, nhớ về bài hát "Mười chín Tháng Tám" của Xuân Oanh, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân - Chủ tịch Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, nguyên Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam - nhận xét: "khi nói đến nhạc sĩ Xuân Oanh là mọi người nghĩ ngay đến ca khúc “Mười chín tháng Tám”, một bài hát có thể thay cho tiếng lòng của toàn dân tộc, là sự hào hứng của toàn dân tộc. Khí thế của Cách mạng Tháng Tám lúc đó gần như được kết tinh trong ca khúc “Mười chín Tháng Tám".
Đúng như nhận xét của nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, ca khúc của nhạc sĩ Xuân Oanh là khúc ca, là tiếng lòng của những người con yêu Tổ quốc thiết tha, yêu tự do và hoà bình. Khúc ca của độc lập tự do ấy đã và sẽ còn vang vọng trong hành trình của chúng ta trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc./.
