Thực tiễn và bài học kinh nghiệm trong triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới ở Thanh Hóa
Trong 5 năm qua, chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) ở Thanh Hóa đã đạt những thành quả ấn tượng, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Dù phải triển khai trong bối cảnh nhiều thách thức, Thanh Hóa vẫn giữ vững vị trí nhóm dẫn đầu cả nước về phong trào xây dựng NTM. Đến giữa năm 2025, toàn tỉnh đã cơ bản hoàn thành các mục tiêu đề ra cho giai đoạn.

Kết quả nổi bật trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2020 - 2025
Đến ngày 8-6-2025, Thanh Hóa có 15/26 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn hoặc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM. Như vậy, hơn một nửa số địa phương cấp huyện của tỉnh đã đạt chuẩn - một con số nổi bật trên bình diện cả nước. Về cấp xã, tỉnh đã có 374/449 xã (chiếm khoảng 83% tổng số xã) đạt chuẩn NTM.
Như vậy, so với cuối năm 2020, số xã đạt chuẩn tăng thêm đáng kể, đưa Thanh Hóa nằm trong top các tỉnh có nhiều xã NTM nhất cả nước.
Đặc biệt, huyện Mường Lát (tên gọi cũ) - huyện vùng cao biên giới khó khăn nhất - đã “xóa trắng” xã NTM, tức là đến năm 2025 không còn xã nào của huyện chưa đạt chuẩn.
Đây là bước tiến mang tính biểu tượng, cho thấy tính bao trùm của chương trình khi không bỏ lại địa phương nào phía sau.
Nhờ chương trình NTM, công tác xóa đói, giảm nghèo ở Thanh Hóa đạt kết quả tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn đa chiều) toàn tỉnh giảm mạnh từ 26,96% năm 2010 xuống còn 4,76% năm 2024 (bình quân mỗi năm giảm trên 1 điểm % trong suốt 15 năm).
Đến năm 2025, tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo của tỉnh chỉ còn khoảng 2,02% - con số rất thấp đối với tỉnh có nhiều địa phương miền núi, biên giới. Nhiều huyện trước đây thuộc diện nghèo đặc biệt (huyện 30a) như Bá Thước, Quan Hóa, Mường Lát..., nay tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 10%, đời sống nhân dân cải thiện rõ rệt.
Các chính sách an sinh xã hội, giáo dục, y tế ở nông thôn cũng được quan tâm thực hiện đồng bộ. 100% số xã đạt chuẩn tiêu chí về giáo dục và y tế; mạng lưới trường học, trạm y tế được đầu tư; các thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở được củng cố.
Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng ở nông thôn phát triển phong phú, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người dân.
An ninh trật tự ở khu vực nông thôn tiếp tục được giữ vững, phong trào “Tiếng kẻng bình yên” và tự quản an ninh trật tự được nhân rộng, tạo môi trường ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.
Chương trình OCOP - điểm sáng trong xây dựng NTM: gắn với xây dựng NTM, Thanh Hóa triển khai mạnh mẽ chương trình OCOP nhằm phát triển các sản phẩm đặc trưng của mỗi địa phương.
Đến năm 2025, toàn tỉnh có 645 sản phẩm OCOP được công nhận (xếp hạng 3 sao cấp tỉnh trở lên), nằm trong nhóm 3 tỉnh dẫn đầu cả nước về số lượng sản phẩm OCOP. Trong đó, Thanh Hóa đã có 2 sản phẩm OCOP đạt 5 sao cấp quốc gia (Nước mắm Lê Gia và Mắm tôm Lê Gia) và 59 sản phẩm 4 sao, còn lại là 3 sao.
Các sản phẩm OCOP Thanh Hóa đa dạng, mang đậm bản sắc văn hóa xứ Thanh, từ sản phẩm vùng biển, đồng bằng cho tới miền núi, như các loại nước mắm, mắm tôm, nem chua, miến dong, cà phê, mật ong, rượu cần, thổ cẩm dân tộc...
Chương trình OCOP đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp nông thôn, hình thành các chuỗi giá trị sản phẩm hàng hóa gắn với mỗi địa phương, tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân.
Nhiều sản phẩm OCOP Thanh Hóa hiện đã vươn ra thị trường toàn quốc, khẳng định thương hiệu nông sản thực phẩm địa phương và đóng góp vào phát triển kinh tế nông thôn bền vững.
Việc chú trọng OCOP cũng thúc đẩy bảo tồn các làng nghề truyền thống, nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm theo tiêu chuẩn cao, qua đó nâng tầm hình ảnh nông thôn mới Thanh Hóa.
Nhìn chung, những kết quả đạt được trong giai đoạn 2020 - 2025 đã nâng cao rõ rệt chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và thay đổi diện mạo nông thôn Thanh Hóa một cách rõ nét.
Hạ tầng nông thôn được đầu tư đồng bộ; sản xuất phát triển theo hướng hiện đại, liên kết thị trường; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao; môi trường nông thôn cải thiện; an ninh trật tự được giữ vững.
Từ đồng bằng đến miền núi, những vùng quê xứ Thanh đang chuyển mình mạnh mẽ trên nền tảng nông thôn mới. Thanh Hóa không chỉ là điểm sáng trên bản đồ NTM cả nước về những con số ấn tượng, mà quan trọng hơn, tỉnh đã tạo nên một mô hình xây dựng NTM kiểu mẫu về huy động sức mạnh tổng hợp và tinh thần bền bỉ vươn lên của một địa phương còn nhiều khó khăn.
Những khó khăn, hạn chế
Bên cạnh thành tựu, quá trình triển khai Chương trình NTM ở Thanh Hóa giai đoạn 2020 - 2025 cũng bộc lộ một số khó khăn, hạn chế, đòi hỏi sự nỗ lực khắc phục trong thời gian tới:
Chênh lệch giữa các vùng miền: phát triển NTM ở Thanh Hóa chưa đồng đều, vẫn còn khoảng cách lớn giữa vùng đồng bằng, ven biển với vùng miền núi. Phần lớn các xã chưa đạt chuẩn NTM đến nay tập trung ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Tính đến giữa năm 2025, trong số 75 xã chưa về đích NTM thì có tới trên 90% thuộc 11 huyện miền núi. Những huyện như Mường Lát, Quan Sơn, Bá Thước (tên gọi cũ),... vẫn còn nhiều xã chưa hoàn thành các tiêu chí do xuất phát điểm quá thấp.
Cơ sở hạ tầng ở các xã này còn thiếu thốn; tỷ lệ hộ nghèo còn cao so với mặt bằng chung; việc huy động nguồn lực tại chỗ rất hạn chế. Đây chính là “lực cản” lớn nhất ảnh hưởng đến mục tiêu hoàn thành 100% số xã NTM của tỉnh.
Mặc dù Thanh Hóa đã xóa được “trắng xã NTM” ở Mường Lát, nhưng nhìn chung các tiêu chí ở vùng miền núi biên giới mới đạt mức tối thiểu, chất lượng chưa cao, dễ có nguy cơ tái tụt hậu.
Duy trì và nâng cao chất lượng tiêu chí chưa bền vững: một số địa phương sau khi được công nhận đạt chuẩn có biểu hiện chủ quan, chưa quan tâm đúng mức đến việc duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí.
Kết quả là một số xã tuy đạt chuẩn nhưng các chỉ tiêu về thu nhập, hộ nghèo, môi trường,... cải thiện chậm, thậm chí có nguy cơ không giữ vững chuẩn trong những năm tới nếu không tiếp tục đầu tư.
Đặc biệt, việc xây dựng xã NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu ở một số huyện còn lúng túng, nhiều nơi đạt chuẩn NTM đã lâu nhưng chưa đủ tiêu chí nâng cao.
Tỷ lệ xã NTM nâng cao, kiểu mẫu tuy khá cao về số lượng tuyệt đối nhưng so với tổng số xã đạt chuẩn thì vẫn còn khiêm tốn (125/374 xã, tức khoảng 33%); nhiều huyện đồng bằng mới chỉ có 3 - 4 xã nâng cao.
Điều này cho thấy chất lượng phong trào chưa đồng đều, nguy cơ chạy theo thành tích ở một số nơi nếu không chú trọng chiều sâu.
Một số tiêu chí “mềm” khó thực hiện: các tiêu chí liên quan đến môi trường, nước sạch, cảnh quan ở nhiều địa phương còn là điểm nghẽn. Chẳng hạn, tiêu chí về nước sạch (tỷ lệ hộ dân dùng nước hợp vệ sinh, nước sạch theo quy chuẩn) chưa đạt ở một số xã vùng núi và cả vùng đồng bằng có dân cư phân tán.
Nhiều xã miền núi chưa có nhà máy nước sạch tập trung, người dân dùng chủ yếu nước tự chảy chưa qua xử lý. Tiêu chí môi trường (thu gom, xử lý rác thải, nước thải) cũng gặp khó: việc phân loại rác tại nguồn và xử lý rác tập trung chưa được thực hiện đầy đủ ở các xã vùng sâu; vẫn còn tình trạng rác thải sinh hoạt xử lý thủ công, gây ô nhiễm kênh mương, ao hồ.
Tiêu chí về cảnh quan nông thôn đòi hỏi sáng - xanh - sạch - đẹp, một số nơi triển khai hình thức (trồng hoa ven đường nhưng chưa chăm sóc lâu dài, vệ sinh thôn xóm chưa thường xuyên). Đây đều là những tiêu chí nâng cao, cần sự chuyển biến về nhận thức và kinh phí để thực hiện, nên tiến độ còn chậm.
Thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn chưa tương xứng: nguồn lực xã hội huy động cho NTM tuy lớn nhưng chủ yếu từ đóng góp của người dân địa phương; đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp, nông thôn còn thấp so với tiềm năng.
Nhiều cơ sở hạ tầng kinh tế (cụm công nghiệp nông thôn, chế biến nông sản) chưa thu hút được doanh nghiệp vì lợi nhuận thấp, rủi ro cao. Thiếu vắng doanh nghiệp dẫn dắt khiến tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp còn bấp bênh, nông dân dễ bị ép giá.
Việc kết nối giữa sản xuất và thị trường thiếu vai trò trung gian, giá trị gia tăng chuỗi nông sản chưa cao. Đây cũng là hạn chế chung không chỉ ở Thanh Hóa mà của chương trình NTM nhiều nơi.
Nguồn lực ngân sách còn hạn chế so với nhu cầu: Thanh Hóa là tỉnh đông dân, địa bàn rộng, nhu cầu vốn xây dựng NTM rất lớn. Trong khi đó, ngân sách tỉnh và hỗ trợ Trung ương có hạn, phải ưu tiên cho vùng đặc biệt khó khăn.
Nhiều địa phương phản ánh kinh phí phân bổ còn dàn trải, chưa đáp ứng đủ để hoàn thiện các tiêu chí cần đầu tư lớn (giao thông, trường học chuẩn, trạm y tế chuẩn, nhà văn hóa...).
Đặc biệt, giai đoạn 2021 - 2022 có độ trễ trong phân bổ vốn do thủ tục ban hành khung chương trình NTM quốc gia chậm (Quyết định 263/QĐ-TTg đầu năm 2022 mới ban hành, trong khi kế hoạch trung hạn 2021 - 2025 của tỉnh đã lập theo bộ tiêu chí cũ).
Sự chậm trễ này dẫn đến một số mục tiêu đầu giai đoạn chưa kịp triển khai, phải dồn tiến độ về cuối giai đoạn, gây áp lực giải ngân và thực hiện các hạng mục.
Chất lượng sản phẩm OCOP chưa cao: mặc dù số lượng sản phẩm OCOP của Thanh Hóa rất lớn, nhưng chủ yếu tập trung ở hạng 3 sao. Sản phẩm 4 sao còn ít (khoảng 59 sản phẩm), và ngoài 2 sản phẩm 5 sao đã có thì chưa có thêm sản phẩm 5 sao quốc gia mới trong giai đoạn này.
Nhiều sản phẩm OCOP quy mô nhỏ, mẫu mã đơn giản, sức cạnh tranh thị trường chưa thật mạnh, đặc biệt là các mặt hàng từ vùng sâu vùng xa. Việc liên kết tiêu thụ sản phẩm OCOP còn khó khăn, đầu ra chưa ổn định.
Một số chủ thể OCOP (hộ sản xuất, hợp tác xã) thiếu vốn, thiếu công nghệ nên sản phẩm chưa cải tiến lên phân khúc cao hơn. Đây là hạn chế cần khắc phục để OCOP thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế nông thôn.
Tóm lại, những khó khăn, hạn chế chủ yếu của Thanh Hóa trong xây dựng NTM vừa qua tập trung vào yếu tố khách quan lẫn chủ quan: điều kiện tự nhiên - xã hội không đồng đều; nguồn lực đầu tư còn eo hẹp so với yêu cầu; sự tham gia của doanh nghiệp còn mờ nhạt; một bộ phận người dân và cán bộ cơ sở nhận thức chưa đầy đủ, còn tư tưởng trông chờ ỷ lại; cùng với đó là những tiêu chí nâng cao đòi hỏi cao về thời gian và kinh phí thực hiện.
Những hạn chế này đòi hỏi phải phân tích rõ nguyên nhân để rút ra bài học kinh nghiệm, làm cơ sở cho định hướng giai đoạn tiếp theo.
Bài học kinh nghiệm
Từ thực tiễn triển khai chương trình NTM ở Thanh Hóa giai đoạn 2020 - 2025, có thể đúc rút một số bài học kinh nghiệm quan trọng mang tính khái quát như sau:
Thứ nhất, phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ của cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp. Đây là yếu tố tiên quyết quyết định thành công của chương trình.
Thực tiễn Thanh Hóa cho thấy, nhờ sự quan tâm thường xuyên của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh và Ban Chỉ đạo các chương trình Mục tiêu quốc gia tỉnh, phong trào NTM được triển khai thống nhất, thông suốt từ tỉnh xuống cơ sở.
Tỉnh ủy ban hành các nghị quyết, chỉ thị sát sao; Ủy ban nhân dân tỉnh cụ thể hóa bằng kế hoạch, hướng dẫn chi tiết; đồng thời phân công rõ trách nhiệm cho từng sở, ngành, địa phương.
Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả xây dựng NTM trên địa bàn, nhờ đó huy động được cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc.
Bài học là phải đề cao vai trò trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, coi xây dựng NTM là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên. Sự chỉ đạo quyết liệt, sâu sát, “đến nơi đến chốn” sẽ tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc và tạo động lực thúc đẩy phong trào.
Thứ hai,phát huy vai trò chủ thể của người dân, huy động tối đa nội lực trong nhân dân với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân thụ hưởng”.
Xây dựng NTM thực chất là phong trào quần chúng rộng lớn tại nông thôn, nếu thiếu sự tham gia tích cực của người dân thì không thể thành công.
Thanh Hóa đã rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc rằng mọi việc phải dân chủ, công khai, minh bạch để dân đồng thuận và hăng hái thực hiện.
Các phong trào như hiến đất, góp công, góp của,... được phát động và nhân rộng chính là nhờ làm tốt công tác dân vận, phát huy tính tự giác và tinh thần cộng đồng của nhân dân.
Nơi nào cán bộ sát cánh cùng dân, tôn trọng ý kiến nhân dân, biết khơi dậy “sức dân” thì nơi đó phong trào mạnh và bền vững.
Thứ ba,chú trọng xây dựng cơ chế, chính sách linh hoạt, bám sát thực tiễn địa phương. Thanh Hóa thành công một phần nhờ vận dụng sáng tạo các chủ trương của Trung ương vào điều kiện cụ thể của tỉnh.
Bài học là không máy móc áp đặt từ trên xuống mà cần cụ thể hóa linh hoạt ở cấp tỉnh và cơ sở. Bên cạnh đó, kinh nghiệm quý là phải biết lồng ghép, phối hợp hiệu quả các nguồn lực, các chương trình dự án trên cùng địa bàn (ví dụ lồng ghép chương trình giảm nghèo, chương trình phát triển hạ tầng miền núi với xây dựng NTM) để tránh trùng lắp, chồng chéo, phát huy tối đa hiệu quả đồng vốn.
Nhờ cơ chế linh hoạt và huy động tổng hợp nguồn lực, Thanh Hóa đã đạt kết quả toàn diện, cân đối giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường trong xây dựng NTM.
Thứ tư,gắn xây dựng nông thôn mới với phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và đời sống văn hóa, thay vì chạy theo thành tích, chỉ tiêu hình thức.
Đây là bài học về quan điểm chỉ đạo: xây dựng NTM là phương tiện để phục vụ người dân, nâng cao phúc lợi, không phải chỉ để có danh hiệu.
Thanh Hóa luôn quán triệt mục tiêu cuối cùng là làm cho người dân nông thôn “ấm no, hạnh phúc hơn”. Do đó, tỉnh tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tổ chức lại sản xuất, thu hút doanh nghiệp đầu tư, hỗ trợ người dân khởi nghiệp,... nhằm tạo sinh kế bền vững.
Đồng thời, chú trọng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, xây dựng đời sống văn hóa mới lành mạnh, phong phú ở nông thôn.
Thứ năm,tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết và thi đua khen thưởng kịp thời để thúc đẩy phong trào.
Kinh nghiệm cho thấy, Thanh Hóa rất chú trọng khâu theo dõi, đánh giá quá trình thực hiện NTM. Ban Chỉ đạo tỉnh thường xuyên tổ chức các đợt kiểm tra thực tế tại cơ sở, nắm bắt kịp thời những khó khăn để chỉ đạo tháo gỡ.
Định kỳ hằng năm và giữa giai đoạn, tỉnh đều sơ kết, tổng kết, mở rộng diễn đàn để các địa phương báo cáo, học hỏi lẫn nhau, từ đó điều chỉnh giải pháp phù hợp hơn.
Cùng với đó, phong trào thi đua “Thanh Hóa chung sức xây dựng NTM” được phát động sâu rộng, gắn với tiêu chí thi đua của từng ngành, từng cấp.
Những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc được khen thưởng kịp thời (bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh...), tạo động lực và niềm tin cho cộng đồng.
Định hướng và khuyến nghị cho giai đoạn tiếp theo
Giai đoạn 2026 - 2030, Thanh Hóa đứng trước yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng chương trình xây dựng nông thôn mới, hướng tới phát triển nông thôn toàn diện, bền vững. Trên cơ sở những kết quả và bài học kinh nghiệm, tỉnh xác định rõ định hướng và triển khai các giải pháp chủ yếu sau:
Tiếp tục thu hẹp khoảng cách vùng miền, “không để ai bị bỏ lại phía sau”: đây vừa là mục tiêu nhân văn, vừa là yêu cầu để hoàn thành 100% số xã NTM.
Tỉnh cần có giải pháp đặc thù hỗ trợ các xã miền núi, vùng sâu chưa đạt chuẩn. Nguồn lực đầu tư cần ưu tiên mạnh hơn cho 75 xã còn lại (đa số ở miền núi), tập trung vào những tiêu chí khó như giao thông, trường học, cơ sở vật chất văn hóa.
Tiếp tục triển khai các chương trình hỗ trợ giảm nghèo bền vững, bố trí sắp xếp dân cư, phát triển hạ tầng thiết yếu ở vùng đặc biệt khó khăn, gắn kết với xây dựng NTM.
Song song, khuyến khích các địa phương khá giúp đỡ nơi khó, các xã đạt chuẩn hỗ trợ xã chưa đạt thông qua kết nghĩa, chia sẻ kinh nghiệm, huy động nguồn lực xã hội hóa.
Mục tiêu là đến năm 2030, khu vực miền núi cơ bản không còn "xã trắng” NTM, rút ngắn khoảng cách phát triển so với miền xuôi.
Nâng cao chất lượng, tính bền vững của các tiêu chí NTM: giai đoạn tới, nhiệm vụ trọng tâm là củng cố và nâng cao chất lượng trên nền tảng đã đạt được, tránh tư tưởng “xây xong để đấy”.
Tỉnh cần xây dựng kế hoạch duy trì, nâng cao chất lượng các tiêu chí đối với từng xã sau đạt chuẩn, gắn với trách nhiệm cụ thể của cấp ủy, chính quyền địa phương.
Các xã đã đạt NTM phải tiếp tục phấn đấu đạt NTM nâng cao, kiểu mẫu theo lộ trình; trong đó chú trọng các tiêu chí có tác động trực tiếp đến đời sống như thu nhập, môi trường, văn hóa.
Gắn xây dựng nông thôn mới với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác, đặc biệt là cơ cấu lại nông nghiệp và xây dựng nông thôn hiện đại.
Thời gian tới, Thanh Hóa cần tiếp tục thực hiện đồng bộ Nghị quyết 19-NQ/TW (2022) của Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó nhấn mạnh phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh.
Lồng ghép chặt chẽ chương trình xây dựng NTM với chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chương trình giảm nghèo, chương trình đô thị hóa nông thôn...
Thúc đẩy chương trình OCOP lên tầm cao mới: sau giai đoạn phát triển mạnh về số lượng, Thanh Hóa cần chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.
Mục tiêu trong 5 năm tới phải có thêm nhiều sản phẩm OCOP đạt 4 sao, 5 sao cấp quốc gia, khẳng định vị thế top đầu cả nước. Để làm được, tỉnh nên hỗ trợ các chủ thể OCOP về vốn, khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại.
Tiếp tục triển khai các đề án mỗi địa phương một sản phẩm chủ lực, tạo điều kiện để sản phẩm OCOP gắn với phát triển vùng nguyên liệu tập trung và đáp ứng các tiêu chuẩn cao (VietGAP, hữu cơ, ISO...).
Bên cạnh đó, tỉnh cần kết nối các sản phẩm OCOP với hệ thống phân phối, du lịch, thương mại điện tử để mở rộng đầu ra.
Việc phát triển OCOP không chỉ nâng thu nhập cho dân mà còn góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa địa phương, do đó cần lồng ghép mục tiêu OCOP với việc giữ gìn làng nghề truyền thống, tri thức dân gian.
Thanh Hóa có thể đặt mục tiêu đến năm 2030, mỗi xã có ít nhất 1 - 2 sản phẩm OCOP đạt thương hiệu quốc gia, có mặt trong các chuỗi siêu thị lớn, xuất khẩu được ra nước ngoài./.