“Thợ mỏ vào ca cũng là chiến sĩ”
Ở nơi những mạch than đen nuôi dưỡng sự phát triển công nghiệp của đất nước, có những người thợ lò âm thầm lao động trong điều kiện khắc nghiệt nhất. Đó chính là lực lượng lao động mang trong mình phẩm chất đặc biệt: dũng cảm, kỷ luật và đoàn kết phẩm chất của người chiến sĩ.
Mô hình “Người thợ mỏ - Người chiến sĩ” ra đời không chỉ là khẩu hiệu thi đua mà còn là sự đúc kết từ thực tiễn lao động, chiến đấu và xây dựng của hàng vạn công nhân vùng mỏ trong hơn 1 thế kỷ qua.

Công việc khai thác than luôn gắn với hiểm nguy: hầm lò chật hẹp, nhiệt độ cao, khí độc, nước ngầm, đất đá sụt lở... Mỗi bước chân xuống mỏ là mỗi lần đối diện thử thách. Người thợ mỏ phải có bản lĩnh như người lính, luôn sẵn sàng trong tư thế chiến đấu với thiên nhiên để hoàn thành nhiệm vụ.
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, phong trào thi đua trong các mỏ được đẩy mạnh với tinh thần “Thợ mỏ đã đi là thắng”. Từ đó, mô hình “Người thợ mỏ - Người chiến sĩ” được khẳng định và trở thành phương châm hành động cho đến tận hôm nay.
Người thợ mỏ luôn coi nhau như đồng đội, sẵn sàng chia sẻ khó khăn trong công việc cũng như đời sống. Chính sự sẻ chia ấy tạo nên văn hóa rất đặc trưng của vùng mỏ. Người thợ lò làm việc trong môi trường nặng nhọc nhất, nhưng lại có tinh thần trách nhiệm cao. Họ luôn tuân thủ quy trình an toàn, phối hợp đội ngũ nhịp nhàng và không bao giờ rời bỏ vị trí khi nhiệm vụ chưa hoàn thành.
Ông Đoàn Văn Kiển - nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị, nguyên Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), cho rằng, ở ngành than, khổ mấy có đói ăn đến mấy thì thợ mỏ vẫn hát, vẫn lạc quan tin tưởng vào ngày mai, càng yêu hơn cuộc đời này. Đó là tính cách vượt lên gian khổ của người thợ.
Người ngành than yêu thương nhau, đùm bọc nhau, sướng khổ có nhau, sống chết vì nhau để vượt qua mọi gian khó. Người thợ mỏ cực kỳ thẳng thắn và trung thực. Nói là nói thẳng, ngắn mà đúng, chẳng bao giờ sai.
Chính điều kiện làm việc đặc biệt cùng với những phẩm chất cũng rất đặc biệt nên trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hàng nghìn thanh niên Quảng Ninh lên đường chi viện vào Nam nhưng riêng thanh niên ngành than không phải ra trận.
Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Làm than cũng như quân đội đánh giặc” nên thợ mỏ được ưu tiên không phải tòng quân. Chỉ đến khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt nhất, cả nước chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, ngành than mới được Trung ương cho phép tuyển quân. Cuối năm 1967, ngành than huy động hơn 2 nghìn thợ mỏ, hình thành 3 tiểu đoàn được đặt tên là Binh đoàn Than để chi viện cho chiến trường miền Nam.
Vào chiến trường miền Nam, chiến sĩ Binh đoàn Than được chia ra bổ sung cho các đơn vị góp phần xây dựng những sư đoàn thiện chiến. Ở hậu phương, người thợ mỏ vừa sản xuất vừa tham gia chiến đấu trong các đơn vị tự vệ của ngành than.
Nhiều thợ mỏ còn là chỉ huy các đơn vị tự vệ. Có người anh dũng chiến đấu hy sinh hoạt để lại một phần thân thể trên khai trường, trận địa phòng không. Có người được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân như thợ mỏ Đặng Bá Hát, Đại đội trưởng tự vệ Xí nghiệp tuyển than Hòn Gai.
Dù ở chiến trường hay trên khai trường, người thợ mỏ cũng đều chiến đấu gan dạ, kiên cường như chiến sĩ thực thụ. Trong bài hát “Tình ca thợ mỏ”, nhạc sĩ Hoàng Vân viết: “Thợ mỏ và ca cũng là chiến sĩ/ Binh đoàn năm xưa nay đã thành sư đoàn”.
Tại thành đồng miền Nam, chiến sĩ xuất thân từ công nhân mỏ là những người vượt qua nhiều khó khăn gian khổ nên vào chiến trường đã chiến đấu góp phần lập nhiều chiến công vang dội. Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Binh đoàn Than có 1 đơn vị và 1 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, hàng trăm dũng sĩ diệt Mỹ, diệt xe tăng, xe cơ giới, hơn 1 nghìn liệt sĩ, hàng trăm thương bệnh binh, nạn nhân chất độc da cam.
Sau khi đất nước thống nhất, gần 1 nghìn cựu chiến binh Binh đoàn Than trở lại Quảng Ninh về làm việc tại các mỏ than nơi trước đây mình xung phong nhập ngũ. Lúc này, nhiều người đã đứng tuổi không thể trở lại với hầm lò mà chuyển sang các công trường lộ thiên hoặc làm việc phụ trợ.
Dù điều kiện đỡ khắc nghiệt hơn hầm lò, nhưng công việc khai thác lộ thiên trên khai trường cũng nặng nhọc không kém. Tinh thần chiến sĩ thể hiện qua việc sẵn sàng làm việc 3 ca liên tục, ứng phó với mưa bão, sạt lở để bảo đảm sản xuất không gián đoạn.
Không chỉ công nhân trực tiếp sản xuất, đội ngũ quản lý cũng mang tinh thần “người chiến sĩ”, thể hiện qua quyết đoán, bám sát hiện trường và xử lý sự cố kịp thời. Tinh thần “Người thợ mỏ - Người chiến sĩ” đã trở thành thương hiệu văn hóa của ngành. Các giá trị như kỷ luật, đồng tâm, đoàn kết, sáng tạo luôn được đề cao.
Những năm gần đây, thực hiện lời dạy của Bác Hồ về tinh thần “Sản xuất than cũng như quân đội đánh giặc”, ngành than đã triển khai phong trào “Học và làm theo Bác” gắn với xây dựng hình ảnh “Người thợ mỏ - Người chiến sĩ”.Nếu trước đây “chiến sĩ” chỉ gắn với sự dũng cảm, nay còn mang nghĩa làm chủ khoa học công nghệ.
Người thợ mỏ thế hệ mới vận hành máy móc hiện đại, robot đào lò, hệ thống điều khiển tự động, khai thác cơ giới hóa đồng bộ. Hàng năm, trong các đơn vị thuộc TKV, phong trào thi đua lao động sản xuất luôn gắn với mô hình này, khích lệ hàng nghìn sáng kiến, cải tiến kỹ thuật.
Các phong trào như “Thợ mỏ giỏi”, “Lao động sáng tạo”, “Tổ đội tự quản an toàn” gắn liền với mô hình “Người thợ mỏ - Người chiến sĩ”. Nhờ tinh thần chiến sĩ, người lao động cảm thấy có trách nhiệm hơn với đồng nghiệp và tập thể.

Trên nền tảng những kết quả thiết thực trong sản xuất và đời sống, công tác tuyên truyền về Học tập và làm theo Bác được triển khai đồng bộ, góp phần lan tỏa các giá trị tốt đẹp và xây dựng những mô hình điển hình trong toàn Đảng bộ.
5 năm qua, toàn Đảng bộ Than Quảng Ninh có 2.177 lượt tập thể, cá nhân đăng ký thực hiện mô hình “Học và làm theo Bác”. Riêng năm 2025, các đơn vị đăng ký 435 mô hình, trong đó 165 mô hình được lựa chọn cấp Đảng bộ Than Quảng Ninh và 10 mô hình đăng ký cấp tỉnh.
Nhiều mô hình có tính sáng tạo, mang lại hiệu quả rõ rệt như: “Tổ xe mẫu mực - kỷ luật - sáng tạo” của Công ty CP Than Cao Sơn; “3 trách nhiệm - năng suất, an toàn, hiệu quả” và công tác an ninh trật tự, tái cơ cấu doanh nghiệp, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất,... tại các đơn vị khai thác than.
Ông Nguyễn Huy Nam - Bí thư Đảng ủy Than Quảng Ninh, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn TKV cho biết: để tiếp tục thực hiện lời Bác Hồ căn dặn “Sản xuất thật nhiều than cho Tổ quốc”, thời gian tới, phong trào “Học và làm theo Bác” được xác định là nhiệm vụ trọng tâm.
Đảng bộ đặc biệt chú trọng nâng cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu; xây dựng thêm nhiều mô hình điển hình mới gắn với hình tượng “Người thợ mỏ - Người chiến sĩ”; tăng cường kiểm tra, giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên; đồng thời phát huy giá trị văn hóa và nguồn lực con người Quảng Ninh.
Công đoàn các cấp đã phát huy vai trò quan trọng trong xây dựng môi trường làm việc nhân văn. Thông qua tham quan mỏ lịch sử, giao lưu nhân chứng, chiếu phim tư liệu,... để giáo dục truyền thống cho công nhân trẻ.
Việc xây dựng và nhân rộng các điển hình lao động gắn với hình ảnh “Người thợ mỏ - Người chiến sĩ” đã trở thành động lực thúc đẩy toàn ngành, từ việc nâng cao năng suất, bảo đảm an toàn lao động đến đổi mới công nghệ và quản lý sản xuất.
Phong trào không chỉ ghi nhận những công nhân tận tụy mà còn là động lực thúc đẩy nâng cao năng suất, cải tiến kỹ thuật và phát triển bền vững ngành than trong bối cảnh đổi mới và hiện đại hóa.
Nhiều đơn vị trong Tập đoàn, thuộc các lĩnh vực sản xuất khác nhau, đã triển khai xây dựng hình ảnh “Người thợ mỏ - Người chiến sĩ” gắn chặt với các hoạt động thực tiễn, từ lao động sản xuất đến công tác chuyên môn.
Người thợ mỏ được vinh danh và khen thưởng hằng tháng, quý và năm, tạo động lực mạnh mẽ cho đội ngũ cán bộ, công nhân lao động. Trong 3 năm qua, các đơn vị ngành than tại Quảng Ninh đã xây dựng 12.032 hình ảnh điển hình, tạo động lực thúc đẩy phong trào “Lao động giỏi, thu nhập cao” và các phong trào cải tiến kỹ thuật.
Những người thợ ngày nay thành thục trong vận hành giàn chống thủy lực, thiết bị “khấu” than tiên tiến cùng nhiều máy móc cơ giới hiện đại. Nhiều thợ mỏ có thu nhập trên 300 triệu đồng/năm, trong đó không ít người được trao tặng Huân chương Dũng cảm hay được phong Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.
Trong bối cảnh hiện nay, mô hình tiếp tục chứng minh giá trị, đồng thời truyền cảm hứng cho thế hệ thợ mỏ mới, những con người đang và sẽ tiếp tục góp phần quan trọng vào sự phát triển của đất nước.
Tinh thần ấy đã hình thành, phát triển và lan tỏa mạnh mẽ, trở thành nét đặc trưng riêng của ngành than. Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, mô hình này càng được củng cố với những nội dung hiện đại hơn, phù hợp với yêu cầu sản xuất, quản trị và công nghệ./.