Kinh tế và Hội nhập

Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu: Cơ hội và thách thức đối với hàng nông sản Việt Nam

PHẠM VĨNH THẮNG - LINH GIANG 28/01/2026 16:55

Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) là con đường tốt nhất giúp hàng nông sản mở rộng thị trường, gia tăng giá trị, cũng như thúc đẩy nền nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế diễn ra sâu rộng, hàng nông sản Việt Nam có nhiều cơ hội vươn ra thị trường thế giới, song cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức.

k-1.jpg
Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu giúp hàng nông sản mở rộng thị trường, gia tăng giá trị, thúc đẩy nền nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững_Ảnh minh họa

Hàng nông sản Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu

Với vị trí là 1 trong 15 quốc gia xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới, xuất khẩu nông sản được coi là một trong những định hướng chiến lược của ngành nông nghiệp Việt Nam. Nếu năm 2015 kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 14,1 tỷ USD, đến năm 2025 kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt con số 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2024.

Năm 2025, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực ghi nhận sự tăng trưởng tích cực về giá trị như: cà phê đạt 8,57 tỷ USD, tăng 52,5%; rau quả đạt 8,56 tỷ USD, tăng 19,8%; hạt điều đạt 5,19 tỷ USD, tăng 19,6%; thủy sản đạt 11,32 tỷ USD, tăng 12,7%; gỗ, sản phẩm gỗ đạt 17,32 tỷ USD, tăng 6,4%...

Trên cơ sở Chỉ số lợi thế so sánh hiển thị (RCA), đối chiếu giữa hàng nông sản Việt Nam với một số đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong khu vực châu Á như: Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia..., Việt Nam có lợi thế cạnh tranh cao ở các mặt hàng như: ngũ cốc, cà phê, cao su nguyên liệu, nhưng không có nhiều lợi thế so sánh ở các mặt hàng như: sản phẩm chăn nuôi, đường, thức ăn gia súc, dầu mỡ động thực vật.

Về thị trường xuất khẩu, châu Á là thị trường xuất khẩu hàng nông sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm 45,2% thị phần; châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 22,8% và 13,2%. Hai khu vực châu Phi và châu Đại Dương tương đối nhỏ, chiếm khoảng 1,8% và 1,4% thị phần. Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản lớn nhất của Việt Nam...

Thách thức đối với hàng nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế

Nhìn chung, các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam đều có tiềm năng tham gia sâu vào GVC. Một số mặt hàng nông sản Việt Nam từng bước tiếp cận được những khâu có giá trị gia tăng cao trong GVC. Tuy nhiên, việc tham gia GVC của nông sản Việt Nam vẫn đối mặt với một số khó khăn và thách thức.

Thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế cho thấy, tư duy quản lý về lĩnh vực nông nghiệp và thương mại của Việt Nam chưa bắt kịp với yêu cầu kinh doanh theo mô hình chuỗi. Mặc dù nhiều chủ thể như: hợp tác xã, doanh nghiệp, hộ nông dân, các cơ quan nghiên cứu,... cùng tham gia chuỗi giá trị nông sản toàn cầu, song năng lực các chủ thể nói trên còn chưa đồng đều và mỗi chủ thể còn có những hạn chế nhất định.

Phần lớn các hộ nông dân chưa có khả năng tiếp cận trực tiếp với thị trường, sản xuất chủ yếu theo kinh nghiệm, dựa vào những đánh giá mang tính chủ quan về nhu cầu và biến động của thị trường.

Do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, mối liên kết giữa hộ nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu còn lỏng lẻo nên nhiều doanh nghiệp xuất khẩu nông sản của Việt Nam khó có thể đáp ứng những yêu cầu về giao hàng cho các nhà nhập khẩu quốc tế, vừa đồng đều về chất lượng, vừa đầy đủ về số lượng.

Xét một cách toàn diện, các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ tham gia đến khâu cung cấp đầu vào cho chế biến, nên giá trị gia tăng thu được còn khá thấp.

Bên cạnh quy định chung của các nước nhập khẩu, một số nhà nhập khẩu còn đưa ra các tiêu chuẩn và quy định riêng. Thực tiễn cho thấy, nhiều quy định riêng có khi còn chặt chẽ và phức tạp hơn so với tiêu chuẩn chung, trong khi đó, quy định về tiêu chuẩn cho hàng nông sản của Việt Nam còn chưa hoàn thiện đầy đủ, cũng như chưa phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

Bên cạnh đó, các chuỗi giá trị hàng nông sản của Việt Nam có quy mô nhỏ và vị thế đàm phán thấp bởi hầu hết các doanh nghiệp của chúng ta đều không dồi dào, dư dả về nguồn vốn.

Phần lớn hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường thế giới chưa xây dựng được thương hiệu. Hình ảnh về hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ đến được với khách hàng là các nhà nhập khẩu. Không nhiều người tiêu dùng tại các nước nhập khẩu biết đến thương hiệu hàng hóa nông sản của Việt Nam.

Vấn đề này xuất phát từ một số nguyên nhân như: chúng ta còn thiếu các doanh nghiệp dẫn đạo thị trường, có thương hiệu mạnh để liên kết và dẫn dắt các tác nhân nhỏ lẻ liên kết, tham gia GVC; đóng góp của khoa học, công nghệ vào giá trị gia tăng sản phẩm còn hạn chế; công nghiệp chế biến, bảo quản hàng nông sản chưa tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao; chính sách tài chính và tín dụng còn nhiều bất cập, các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản còn khó tiếp cận nguồn tín dụng ưu đãi...

k-1-2.jpg
Cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng chỉ dẫn địa lý đối với các mặt hàng nông sản Việt Nam một cách minh bạch, công khai, đúng quy định_Ảnh minh họa

Giải pháp thúc đẩy sự tham gia chuỗi giá trị toàn cầu cho hàng nông sản Việt Nam

Trong bối cảnh bảo hộ thương mại đang ngày càng gia tăng ở những thị trường xuất khẩu chính của hàng nông sản Việt Nam, đặc biệt là Liên minh châu Âu (EU), Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản..., để nâng cao năng lực tham gia của hàng nông sản Việt Nam vào GVC, cần khẩn trương triển khai thực hiện một số giải pháp.

Trước hết, cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại cả ở cấp chính phủ, hiệp hội và doanh nghiệp, chú trọng các chương trình xúc tiến thương mại dài hạn, hướng vào một mặt hàng, một thị trường trọng điểm cho tới khi đạt kết quả cụ thể; đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử trong xúc tiến thương mại, đồng thời bố trí, tổ chức không gian trưng bày hàng mẫu nông sản tại các cơ quan đại diện thương mại của Việt Nam; tăng cường phối hợp, gắn kết chặt chẽ với các Đại sứ quán Việt Nam tại các nước, khu vực thị trường trọng điểm.

Các cơ quan chức năng cần nhanh chóng cập nhật thông tin về hàng rào kỹ thuật, môi trường, quy định, tiêu chuẩn quản lý chất lượng hàng hóa, an toàn thực phẩm của thị trường nhập khẩu, đồng thời xây dựng, điều chỉnh các quy định của Việt Nam cho phù hợp; phổ biến kiến thức, tư vấn, đào tạo các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu về những vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường, quy định kiểm soát hàng hóa của các nước nhập khẩu; thúc đẩy việc xây dựng, hướng dẫn thực hiện những tiêu chuẩn phổ biến tại các thị trường xuất khẩu chính có rào cản thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Trong thời gian tới, cần đẩy nhanh việc ứng dụng các giải pháp khoa học, kỹ thuật tiên tiến, đồng bộ dựa trên việc tiếp nối những kinh nghiệm tri thức bản địa với tinh thần gìn giữ môi trường, tôn trọng thiên nhiên, hướng tới những cánh đồng “phát thải thấp”; duy trì các tiêu chuẩn đã cam kết trong suốt quá trình cung ứng; xác định chính xác phân khúc thị trường, thị hiếu khách hàng cho những sản phẩm, hàng hóa phù hợp; gia tăng xuất khẩu thông qua các hệ thống phân phối lớn.

Các cơ quan chức năng cần tăng cường phối hợp, đẩy nhanh tiến độ xây dựng chỉ dẫn địa lý đối với các mặt hàng nông sản Việt Nam. Bên cạnh đó, cần xây dựng chương trình tổng thể về phát triển thương hiệu nông sản Việt, đầy đủ về hướng dẫn thực hiện, lộ trình, công cụ tài chính, kỹ thuật, thị trường, cơ chế phối hợp, hệ thống chia sẻ...

Cần nghiên cứu, triển khai thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp trong các hoạt động như: đầu tư xây dựng và mở rộng mô hình sản xuất tập trung, nông sản hữu cơ; hỗ trợ thiết bị và kinh phí kiểm tra dư lượng kháng sinh, an toàn thực phẩm; khuyến khích chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu sang sản phẩm chế biến sâu, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; hỗ trợ chi phí đăng ký đạt chuẩn cho một số tiêu chuẩn như VietGAP, GlobalGAP...

Bên cạnh đó, cần áp dụng một số biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản như: hoàn thuế giá trị gia tăng, xem xét điều chỉnh giảm thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm nông sản chế biến; miễn, giảm thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ chế biến xuất khẩu; xem xét miễn giảm thuế, phí kho bãi, vận chuyển đối với hàng nông sản xuất khẩu qua đường hàng không; hỗ trợ giá cước vận chuyển nông sản từ Việt Nam đi các thị trường trọng điểm, nhất là hỗ trợ các dịch vụ vận chuyển cho những sản phẩm rau quả tươi có lợi thế cạnh tranh như: sầu riêng, chuối, vải...

Cùng với những giải pháp nêu trên, cần áp dụng chính sách khuyến khích, thúc đẩy sự tham gia của các doanh nghiệp logistics nội địa, quy hoạch những trung tâm logistics vùng, bổ sung hạ tầng có tính tích hợp như kho bãi kiêm bảo quản, đóng gói, đồng thời phát triển thị trường nông sản mới theo những tuyến vận tải hàng hóa quốc tế./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu: Cơ hội và thách thức đối với hàng nông sản Việt Nam
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO