Kinh tế và Hội nhập

Tăng cường hợp tác thương mại giữa Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam

PGS, TS Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân 26/05/2026 18:24

Quan hệ thương mại giữa Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam có quy mô đáng kể trong ASEAN, song mức độ gắn kết nội bộ giữa 4 quốc gia chưa tương xứng với tiềm năng. Trong bối cảnh thương mại thế giới biến động nhanh, việc tăng cường phối hợp, khai thác lợi thế bổ sung và xây dựng cơ chế hợp tác thương mại thực chất hơn là yêu cầu đặt ra nhằm nâng cao năng lực thích ứng, sức cạnh tranh và hiệu quả hội nhập của mỗi nền kinh tế.

thuong-dinh.webp
Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 (diễn ra ngày 7 - 8-5) là 1 trong 2 cuộc họp định kỳ hằng năm của lãnh đạo ASEAN trong năm 2026_Ảnh: VGP

Khái quát về 4 quốc gia

Cả 4 quốc gia đều là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Theo số liệu thống kê của các quốc gia năm 2025, quy mô GDP của Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam đạt 2.341,5 tỷ USD, chiếm 55,1% quy mô GDP của ASEAN.

Quy mô xuất - nhập khẩu của 4 quốc gia này đạt 2.880,8 tỷ USD, chiếm 68% tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu ASEAN. Độ mở lần lượt của các quốc gia này là 41,6%, 68,2%, 127,2% và 181% (xem bảng dưới).

Điều này cho thấy tính tương đồng về quy mô GDP, nhất là của Philippines, Thái Lan và Việt Nam, khá cao, thậm chí gần như bằng nhau; tuy nhiên, có sự khác biệt rất lớn về kim ngạch xuất - nhập khẩu, do đó, độ mở cũng khác nhau. Rủi ro trước tác động của những cú sốc thương mại thế giới là rất lớn và đòi hỏi phải có cơ chế dự báo, phòng ngừa rủi ro.

GDP, xuất, nhập khẩu và độ mở Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam

Quốc giaGDP (tỷ USD)Kim ngạch xuất, nhập khẩu (tỷ USD)Độ mở (%)
Philippines523,521841,6
Singapore7661048,368,2
Thái Lan538684,5127,2
Việt Nam514930181

Nguồn: Cơ quan thống kê của Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam và tính toán của tác giả

Các quốc gia đều là thành viên của các hiệp định thương mại và đầu tư ASEAN như Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định Thương mại dịch vụ ASEAN (ATISA), Hiệp định Khu vực đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA); các hiệp định kinh tế - thương mại giữa ASEAN với các đối tác khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand...

Bên cạnh đó, một số quốc gia trong nhóm cũng tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới hoặc các khuôn khổ hợp tác kinh tế với đối tác ngoài khu vực, như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA)...

Việc tham gia chủ động, tích cực, liên tục vào các cơ chế hợp tác kinh tế - thương mại với phần còn lại của thế giới cho thấy nỗ lực phát huy lợi thế so sánh quốc gia để thu lợi từ thương mại và đầu tư.

Các quốc gia đều thực hiện chính sách thu hút đầu tư nước ngoài nhằm thúc đẩy xuất khẩu, nên xuất hiện tình trạng cạnh tranh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Do đó, nỗ lực cải thiện liên tục môi trường đầu tư diễn ra rất mạnh, dẫn đến khả năng cạnh tranh ưu đãi quá mức trong thu hút FDI nếu thiếu cơ chế phối hợp phù hợp.

Singapore thường xuyên là địa bàn thu hút FDI lớn trong khu vực ASEAN, đồng thời thuộc nhóm quốc gia có năng lực thu hút FDI nổi bật trên thế giới trong nhiều năm.

Trong điều kiện thế giới coi trọng chuyển dịch cơ cấu theo hướng số hóa, thương mại và kinh tế số, xanh hóa, chuyển dịch cơ cấu năng lượng để giảm tỷ trọng năng lượng hóa thạch, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế di sản, kinh tế sáng tạo, du lịch quốc tế và các dịch vụ tài chính công nghệ, tài chính xanh, đổi mới mô hình kinh doanh, tận dụng những cơ hội xuất hiện nhanh chóng từ chuyển dịch đầu tư và thương mại trong khu vực do cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc, xung đột Nga - Ukraina, tình hình Trung Đông, các quốc gia coi trọng cải thiện năng lực chống chịu của nền kinh tế, cũng như không ngừng tìm kiếm đối tác mới gắn với phát triển sâu các đối tác hiện có.

Tầm nhìn, mục tiêu, công cụ và biện pháp áp dụng của các quốc gia có những điểm tương đồng. Tuy nhiên, cũng không loại trừ khả năng do thiếu sự hợp tác chặt chẽ, sáng kiến hay nỗ lực của quốc gia này không được ủng hộ từ quốc gia khác và các biện pháp áp dụng của quốc gia này có thể làm giảm lợi ích của quốc gia khác trong quan hệ với đối tác ngoài nhóm này.

xuat-khau.jpg
Việt Nam - ASEAN có dư địa lớn thúc đẩy tăng trưởng thương mại song phương_Ảnh: tinnhanhchungkhoan.vn

Cơ cấu xuất - nhập khẩu có tính tương đồng khá cao

Ngoại trừ Singapore có tỷ trọng nông nghiệp gần như bằng 0, tỷ trọng nông nghiệp của Philippines là 9,1%, Việt Nam 11,4% và Thái Lan 8,7%.

Tỷ trọng hàng nông sản xuất khẩu lớn và có tính tương đồng như gạo, nông sản nhiệt đới, thủy sản dẫn đến khả năng cạnh tranh lẫn nhau không nhỏ. Chưa có cơ chế hợp tác thương mại hiệu quả, cụ thể, thực chất để các quốc gia tối đa hóa lợi ích từ vị thế thành viên ASEAN.

Trong quan hệ thương mại song phương, một số nước trong nhóm vẫn nằm trong nhóm đối tác xuất khẩu hoặc nhập khẩu quan trọng của nhau, cho thấy dư địa bổ sung lẫn nhau về thương mại vẫn còn.

Với Philippines năm 2024, Thái Lan và Singapore xếp thứ 6 và 7 trong số các đối tác xuất khẩu lớn nhất, trong khi Thái Lan, Singapore và Việt Nam xếp thứ tự 6, 7 và 10 trong số các đối tác nhập khẩu lớn nhất. Điểm đáng chú ý là Philippines nhập siêu lớn, đạt 49,2 tỷ USD năm 2025.

Với Singapore năm 2024, Thái Lan và Việt Nam xếp thứ 9 và 10 trong số các đối tác xuất khẩu lớn nhất của Singapore, trong khi Thái Lan là đối tác nhập khẩu lớn thứ 10. Đây là quốc gia phát triển mạnh dịch vụ tái xuất, chuyển khẩu và năm 2025, xuất siêu đạt 60,9 tỷ USD.

Với Thái Lan năm 2024, Việt Nam và Singapore xếp thứ 4 và 8 trong số các đối tác xuất khẩu lớn nhất, trong khi Singapore và Việt Nam xếp thứ 9 và 10 trong số các đối tác nhập khẩu lớn nhất.

Thái Lan có một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực như gạo, cá ngừ, sắn lát, thuộc nhóm hàng có vị trí đáng kể trên thị trường thế giới; nhập siêu năm 2025 đạt 5,3 tỷ USD.

Với Việt Nam năm 2024, Thái Lan là đối tác xuất khẩu lớn thứ 10 và nhập khẩu lớn thứ 6 của Việt Nam. Những mặt hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam là điện thoại, máy móc, thiết bị, nông sản, dệt may. Năm 2025, xuất siêu đạt 20 tỷ USD.

Nguyên nhân của tình hình trên đối với mỗi quốc gia là do sức hút của thị trường xuất - nhập khẩu ngoài 3 quốc gia còn lại rất lớn, nhất là từ các đối tác lớn châu Á, Liên minh châu Âu (EU) và Bắc Mỹ.

Hơn nữa, dòng FDI chủ yếu từ các đối tác lớn này nên dòng hàng xuất - nhập khẩu cũng ưu tiên nhiều hơn cho các đối tác này. Bên cạnh đó, cơ chế hợp tác bốn bên chưa được các quốc gia chú trọng phát triển bằng những thỏa thuận đặc thù.

Một khuôn khổ hợp tác thương mại và đầu tư riêng giữa Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam chưa được định hình rõ trong các chương trình nghị sự hợp tác song phương, đa phương hoặc trong khuôn khổ ASEAN. Nhiều cơ hội phát triển nội bộ hay tứ giác phát triển chưa được khai thác triệt để.

asean-logo.png

Đề xuất tăng cường hợp tác thương mại bốn bên

Với tổng quy mô GDP và xuất - nhập khẩu của cả 4 quốc gia ở mức trên 2,3 nghìn tỷ USD và 2,88 nghìn tỷ USD, cùng xu hướng tăng trưởng của các quốc gia còn khá lớn, có thể đặt ra kỳ vọng quy mô này tiếp tục tăng trong những năm tới nếu các nước duy trì được đà tăng trưởng và mở rộng hợp tác thương mại.

Do đó, cần nhìn thương mại như một động lực phát triển hiệu quả và lâu dài, tạo khả năng thúc đẩy tăng trưởng cao đối với nhóm 4 nước này.

Trong giai đoạn phát triển mới dựa trên công nghệ cao gắn với dữ liệu lớn, Internet kết nối vạn vật, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo và nhiều công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao, mô hình hợp tác thương mại của 4 quốc gia nên hướng vào các mục tiêu phát triển dài hạn, tạo khả năng chuyển dịch cơ bản cơ cấu kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới.

Thứ nhất, coi trọng phát triển mô hình thương mại dựa trên tiến bộ công nghệ, coi trọng thương mại dựa trên ứng dụng công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao là động lực phát triển mới, chỗ dựa mới của cơ chế hợp tác bốn bên để vừa tiếp nhận công nghệ cao từ các quốc gia dẫn đầu công nghệ thế giới, vừa tự phát triển năng lực nội sinh, tự chủ công nghệ của từng quốc gia.

Mỗi quốc gia sẽ có cách thức tiếp cận khác nhau, đa dạng và sáng tạo với các đối tác công nghệ hàng đầu từ Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và cần có cơ chế phối hợp nghiên cứu và phát triển, giải mã và làm chủ công nghệ cao hiệu quả.

Cần có cơ chế phối hợp ưu tiên chuyển giao công nghệ trong nội bộ 4 nước, nhất là các lĩnh vực có thế mạnh bổ sung như tài chính số, thương mại điện tử, logistics, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ số.

Thứ hai, đa dạng hóa hình thức, phương thức, công cụ và biện pháp thu hút FDI công nghệ cao, chất lượng cao, phát thải ròng thấp để thúc đẩy xuất khẩu nhằm cải thiện hiệu quả môi trường đầu tư của nhóm 4 nước thông qua thỏa thuận cải thiện quyết liệt môi trường đầu tư minh bạch, tinh gọn, tự do, công bằng.

Coi trọng xây dựng chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị về những mặt hàng có nhu cầu cao và lợi thế so sánh cao giữa nhóm 4 nước để từ đó tăng sức lan tỏa sang các nước khác. Mỗi quốc gia cần có biện pháp hỗ trợ hiệu quả việc cải thiện vị thế của các quốc gia còn lại trong nhóm đối tác xuất, nhập khẩu quan trọng.

Tích cực xây dựng cam kết, thỏa thuận hay khung điều tiết mới, sâu sắc, toàn diện và thực chất về bảo hộ và khuyến khích FDI, kể cả những ưu tiên đáng kể hơn về đầu tư nội bộ 4 nước để việc nâng cao hiệu quả thu hút FDI của quốc gia này không gây tổn hại lợi ích của quốc gia còn lại và, ở mức độ tích cực cao hơn, tạo thêm lợi ích dài hạn cho các bên.

Thứ ba, xây dựng mô hình thương mại thông minh, bền vững trong nội bộ 4 quốc gia, phát huy vai trò của Singapore trong lĩnh vực tài chính, logistics, quản trị chuỗi cung ứng và đổi mới sáng tạo; đồng thời khai thác lợi thế của Việt Nam, Thái Lan và Philippines về thị trường, nguồn nhân lực, sản xuất, nông nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch vụ.

Theo đó, cần điều chỉnh mô hình thương mại dựa trên gia tăng sự khác biệt sản phẩm, tạo ra những loại hàng hóa mới, mẫu mã, kiểu dáng, tiêu chuẩn chất lượng mới, cùng với thương hiệu mang đặc thù quốc gia, bản sắc vùng miền và cùng hợp tác để quảng bá sản phẩm ra thị trường.

Cần triệt để phát huy mô hình thương mại số, thương mại điện tử xuyên biên giới với nền tảng và sàn giao dịch thống nhất, dễ tiếp cận, chi phí tuân thủ thấp và biện pháp khuyến khích phát triển hiệu năng cao.

Có cơ chế giảm thiểu các biện pháp phòng vệ thương mại lẫn nhau, gây tổn hại lợi ích, chú trọng các biện pháp thương lượng, hòa giải và bảo vệ lợi ích lẫn nhau trên nguyên tắc đoàn kết, hợp tác, bình đẳng và có đi có lại.

Đồng thời, cần chú ý khai thác tác động thương mại ngoài 4 nước để phát huy triệt để tiềm năng thương mại quốc gia, củng cố năng lực thương mại bốn bên, định hình mô hình thương mại mới đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao, cơ cấu hiện đại, đáp ứng tiêu chuẩn bền vững, kiến tạo căn cứ và thực tiễn tốt cho các quốc gia khác./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Tăng cường hợp tác thương mại giữa Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO