Tân Trào - ngày hội Tháng Tám năm 1945
Ngôi làng Kim Long giữa rừng già huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (tên gọi cũ) từ khi cách mạng về đã được đặt tên là Tân Trào − ngọn sóng mới của cách mạng. Nơi đây trở thành Thủ đô gió ngàn của 6 tỉnh Khu Giải phóng (Cao Bằng – Bắc Kạn – Lạng Sơn – Hà Giang – Tuyên Quang – Thái Nguyên) mới được thành lập ít lâu.

Chiến khu - ước mơ của những người hoạt động cách mạng
Từ đầu nguồn Pác Bó, giữa tháng 5-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã băng rừng, vượt suối, về với Tân Trào, chọn vùng đất này làm đại bản doanh chỉ đạo các lực lượng cách mạng trên đà tiến tới Tổng khởi nghĩa Tháng Tám khi thời cơ nghìn năm có một đang đến gần.
Tân Trào trở thành vùng thánh địa với tên gọi giản dị: Chiến khu. Hai tiếng “Chiến khu” là nơi mơ ước của những người hoạt động cách mạng lúc bấy giờ.
Đầu tháng 7-1945, các tổ chức đoàn thể đã lần lượt lựa chọn đại biểu để lên Chiến khu Tân Trào. Có những đại biểu từ Xiêm (nay là Thái Lan) và Lào về nước, đại biểu từ Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ ra.
Đoàn đại biểu Bắc Bộ gồm nhiều đoàn thể khác nhau cũng theo những đường dây giao thông (ZT) bí mật vượt nhiều chặng đường khó khăn, hiểm nguy để tới điểm hẹn.
Trong số những đại biểu lên Chiến khu Tân Trào dự Quốc dân Đại hội tháng 8-1945 có kỹ sư Hoàng Văn Đức, nha sĩ Nguyễn Dương Hồng, dược sĩ Vũ Công Thuyết, nhà thơ Cù Huy Cận…
Trong đoàn còn có những nhà cách mạng tên tuổi, đã qua thử lửa ở những "địa ngục trần gian" Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo…, như Khuất Duy Tiến, Trần Ngọc Nghiêm…; những trí thức như Dương Đức Hiền, Vũ Oanh, Vũ Quang…, hoặc những nữ sinh Hà Nội như Thanh Thủy (Nguyễn Khánh Thuận), Nguyễn Thị Như…
Đường đến chiến khu gần, nhưng vì nguyên tắc bí mật nên những người phụ trách giao thông phải dẫn đường vòng thành ra xa. Thậm chí, vì bí mật nên ngay những người giao thông dẫn đường này cũng không biết dẫn các đoàn đại biểu đi đâu.
Họ chỉ biết hoàn thành nhiệm vụ đưa đoàn đến địa điểm đã được giao trước đó. Việc của ai người đấy chịu trách nhiệm. Ai cũng chấp hành nghiêm chỉnh nguyên tắc “ba không” (không nghe, không thấy, không biết).
Nhưng rồi, tin Nhật đầu hàng đồng minh truyền đi rất nhanh đã khiến cho mọi thứ thay đổi. Đoàn đại biểu phải đi gấp rút cả ngày lẫn đêm. Có giao thông viên còn dẫn đoàn đi đường tắt xuyên rừng để tới Chiến khu.
Do đó Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân do Tổng bộ Việt Minh triệu tập cũng phải tiến hành gấp rút, không thể chờ đại biểu các nơi đến đông đủ mới họp.
Trong điều kiện muôn vàn khó khăn mới triệu tập được đại biểu toàn quốc, việc Nhật đầu hàng diễn ra đột ngột quá nên ngày khởi nghĩa cũng phải đề ra kịp thời.

Tân Trào trong những ngày Tháng Tám năm 1945 đông vui và nhộn nhịp như những ngày hội
Từng đoàn đại biểu từ các nơi kéo về. Bộ đội Giải phóng quân đi lại nhộn nhịp. Quanh bếp lửa nhà sàn, đại biểu khắp ba miền hội ngộ. Các ông Lê Giản và Hoàng Hữu Nam kể chuyện bị đày sang đảo quốc Madagascar xa xôi, rồi được đưa về Ấn Độ huấn luyện, đưa lên máy bay của đế quốc Anh thả dù xuống Việt Bắc, tìm đầu mối liên lạc...
Ở Tân Trào, các đại biểu cũng được thấy những người da trắng, mặc quân phục Hoa Kỳ. Họ là Patti, Thomas, Mac Shin… - lính OSS (Office of Strategic Services − Cơ quan Tình báo Chiến lược, tiền thân của CIA) trong biệt đội Con Nai (The Deer Team) đang huấn luyện quân sự cho quân đội Việt Minh.
Ông Hà Huy Giáp − đại biểu Nam Bộ - cười ha hả kể lại tình huống hú hồn. Đó là khi đi qua Bắc Ninh, ông bị tự vệ Việt Minh bắt vì tình nghi là gián điệp của Nhật… Cũng không ít trường hợp thanh niên vì bị sức hút của hai chữ “Chiến khu” mà không kìm nén nổi tính tò mò của tuổi trẻ, tự động tìm đường lên…
Ông Trần Huy Liệu chia sẻ, điều mong mỏi thiết tha nhất mà các đại biểu ấp ủ ngay từ khi nhận tin được cử đi đại hội là được gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc.
Trong lúc gặp những cán bộ cách mạng thường trực ở Tân Trào, nhiều đại biểu chờ tin nhưng không thấy ai nhắc đến đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Thấy vậy, Trần Huy Liệu cũng không dám hỏi.
Tối đến, trong khi họp trao đổi ý kiến giữa một số đảng viên về việc tổ chức khai mạc Đại hội Quốc dân, khi bàn đến việc bầu Chủ tịch đoàn, ông Liệu đề nghị bầu đồng chí Nguyễn Ái Quốc vào Chủ tịch đoàn danh dự.
Một vài đồng chí đưa mắt cho nhau mỉm cười. Tôi biết ý cũng mỉm cười và càng tin chắc đồng chí Nguyễn Ái Quốc hiện đã ở đây rồi, mà ở đây thì việc gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc và việc đồng chí tham gia Chủ tịch đoàn là tất nhiên rồi…
Chiều 16-8-1945, Quốc dân Đại hội bắt đầu họp ở đình Tân Trào. Ngôi đình 3 gian lợp mái gianh nhìn ra bờ suối. Gian giữa có bàn thờ vẫn để nguyên. Hội nghị họp tại gian bên trái. Gian bên phải trưng bày sách báo cách mạng.
Hơn 60 đại biểu từ Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Việt kiều ở Xiêm, Lào ngồi trang nghiêm trên những chiếc ghế gỗ sơ sài. Bên trên, lá cờ đỏ sao vàng căng ở sát vách tường.
Đồng chí Toàn (bí danh của Tổng Bí thư Trường Chinh) và đồng chí Tống (bí danh của đồng chí Phạm Văn Đồng) điều hành cuộc họp. Hai đại biểu Khuất Duy Tiến và Cù Huy Cận được cử làm Thư ký đoàn của Đại hội.
Đồng chí Trường Chinh trông chững chạc trong bộ âu phục, còn đồng chí Hoàng Quốc Việt thì vẫn bộ quần áo nâu đã cũ và đội chiếc khăn xếp cũ sờn. Các ông Bút (bí danh của Trần Huy Liệu), ông Sao Đỏ (bí danh của Nguyễn Lương Bằng), ông Tống và ông Dương Đức Hiền được đề cử làm Chủ tịch đoàn, thay phiên nhau điều hành Đại hội.
Đại hội nhất trí tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương và thông qua 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh.
Đại hội làm việc khẩn trương từ chiều ngày 16 và suốt ngày 17-8-1945. Sau khi Đại hội đã thông qua nghị quyết và sắp bầu Ủy ban Dân tộc giải phóng toàn quốc thì có tin báo cụ Hồ Chí Minh sắp lại thăm.
Bên trong hội trường bắt đầu xôn xao với câu hỏi: Cụ Hồ Chí Minh là ai? Một số đại biểu đã biết, nhưng đa số đều chưa biết cụ Hồ Chí Minh là ai. Có những đại biểu thì ngờ rằng có lẽ cụ Hồ Chí Minh chính là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhưng chỉ để bụng chứ không dám nói ra.
Không phải chờ lâu, một người xắn quần, đội mũ nồi, tay chống gậy đi qua trước đình nhưng không vào thẳng hội nghị mà rẽ xuống suối rửa chân rồi mới vào. Cụ Hồ Chí Minh bước vào đình, hội nghị vỗ tay vang dậy.
Đó là một ông già gầy ốm, da xanh nhợt, má hơi hóp; tuy vậy vầng trán cao và đôi mắt sáng vẫn nổi bật lên. Huynh trưởng Hướng đạo sinh toàn Đông Dương, ông Hoàng Đạo Thúy, với “tên rừng” Hổ Sứt, ghé sang nói nhỏ với Nguyễn Đình Thi ngồi ngay cạnh: “Đúng rồi! Đúng rồi! Cụ Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc chứ không phải ai khác”.
Đại hội Quốc dân bầu Ủy ban Dân tộc giải phóng toàn quốc gồm 15 thành viên. Ủy ban do cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, ông Trần Huy Liệu làm Phó Chủ tịch. Thường trực Ủy ban gồm 5 người: Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền.
Ủy viên: Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Dương Đức Hiền, Chu Văn Tấn, Nguyễn Văn Xuân, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Lê Văn Hiến, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu Đang.
Những người được đề cử đều có người giới thiệu quá trình công tác cách mạng một cách sơ lược. Chỉ có cụ Hồ Chí Minh thì không cần giới thiệu. Ủy ban Dân tộc giải phóng được bầu ra theo quyết định của Đại hội, một khi cần thiết sẽ đổi thành Chính phủ lâm thời.
75 năm sau, ông Vũ Oanh nhớ lại: “Cách mạng Tháng Tám đã huy động cả dân tộc Việt Nam nổi dậy nắm chính quyền, ủng hộ chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo là một sự bất ngờ lớn đối với lực lượng quân đồng minh vào tiếp quản Đông Dương, giải giáp và nhận sự đầu hàng của quân Nhật”./.
