Tác động của các yếu tố quốc tế đến tư duy phát triển ở Việt Nam hiện nay
Tư duy phát triển nói chung và tư duy về nhà nước phát triển nói riêng đã được luận bàn, tranh cãi rất sôi nổi trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Theo đó, nguồn gốc của những thay đổi thể chế hoặc chính sách về cơ bản bị ảnh hưởng bởi tư duy của giới hoạch định chính sách. Chính tư duy định hình nên “các thể chế và chính sách” và do vậy, tư duy cần được đưa “trở lại trung tâm của lý thuyết phát triển” . Khi tư duy phát triển của Đảng và Nhà nước ta có bước chuyển quan trọng, hàng loạt các chủ trương, định hướng và chính sách mới sẽ ra đời. Thực tiễn cho thấy, Việt Nam trải qua những bước cam go của sự thay đổi tư duy phát triển của một nền kinh tế đang chuyển đổi và vai trò của hoạt động kinh tế đối ngoại. Trong đó, các tác nhân, đặc biệt là các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ quốc tế, đã góp phần quan trọng vào quá trình chuyển đổi ấy.

Một trong những câu hỏi quan trọng hiện nay là mức độ mà nhà nước Việt Nam và các chính quyền địa phương đã và đang theo cách tiếp cận nhà nước phát triển[1] hay liệu có đang bị ảnh hưởng mạnh mẽ hơn bởi một định hướng thị trường[2] hay thậm chí là cách tiếp cận tân tự do[3] để phát triển. Khái niệm về tư duy phát triển đưa ra một phương pháp mới, linh hoạt hơn, hướng tới tính dài hạn để khảo sát các tranh luận ấy, tập trung vào nhận diện một loạt các tác nhân của phát triển.
Theo dòng tranh luận sôi nổi ấy, mục tiêu của bài viết này là khảo sát, đánh giá tác động của 3 tác nhân quốc tế có ảnh hưởng quan trọng đến tư duy phát triển ở Việt Nam trong bối cảnh mới. Các tác nhân này bao gồm (i) tác nhân kinh tế nước ngoài, (ii) các tổ chức - chế định quốc tế và (iii) các tổ chức phi chính phủ quốc tế. Cần nhận diện về ảnh hưởng, cách thức các nhân tố này tác động đến tư duy phát triển của nhà nước Việt Nam, chính quyền địa phương các cấp cũng như các lĩnh vực chính sách liên quan.
Các yếu tố kinh tế nước ngoài và ảnh hưởng của nó đối với tư duy phát triển ở Việt Nam hiện nay
Các thành phần kinh tế nước ngoài xuất hiện ở Việt Nam sau khi thực hiện chính sách mở cửa vào năm 1986 và mở rộng nhanh chóng vào những năm 90 của thế kỷ XX. Các tác nhân này góp phần to lớn vào việc chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế của đất nước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (FDI) ảnh hưởng sâu sắc đến lĩnh vực kinh tế, bao gồm cả khu vực có vốn đầu tư trong nước, tạo áp lực cạnh tranh và thúc đẩy đổi mới, chuyển đổi công nghệ. FDI được đánh giá là góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng lực quản lý kinh tế của đất nước, cải thiện môi trường kinh doanh và thúc đẩy hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, cùng với một số thành tựu, dòng vốn FDI đã và đang đặt ra những thách thức lớn đối với năng lực quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực, liên quan đến việc làm thế nào để Việt Nam có thể thu hút hiệu quả công nghệ hiện đại; việc phát triển các kỹ năng quản lý chuyên nghiệp hiện đại; việc hình thành đội ngũ công nhân lao động lành nghề. Những điều này cần thiết để không chỉ thu hút FDI trong các lĩnh vực công nghệ trung bình đến công nghệ cao mà còn trên phạm vi toàn nền kinh tế. Hoạt động FDI đặt ra hàng loạt những thách thức như: về nhu cầu cải cách khung pháp lý để phù hợp với lợi ích quốc gia và kỳ vọng quốc tế; sự phụ thuộc của ngân sách vào FDI; gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng trong cả nước; và sự cần thiết phải có những cách thức hiệu quả để quản lý các khu công nghiệp,... Những thách thức cũng trở nên rõ ràng trong các cuộc tranh luận về sự cần thiết phải hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương chống lại sự cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài, trong việc cung cấp việc làm cho nông dân bị mất đất vào các khu công nghiệp và quản lý ô nhiễm môi trường. Giải quyết những khó khăn, vướng mắc này, ở một mức độ nào đó, một mặt góp phần nâng cao năng lực của nhà nước, mặt khác làm phong phú thêm và thúc đẩy “tư duy phát triển” ở Việt Nam.
Để làm rõ và cung cấp các bằng chứng chi tiết hơn về những vấn đề này, một nghiên cứu chuyên biệt về tỉnh Vĩnh Phúc đã được tiến hành. Nghiên cứu này cho thấy, các nhà lãnh đạo địa phương khẳng định nền kinh tế nói chung và ngân sách của tỉnh nói riêng được hưởng lợi đáng kể từ FDI. Đóng góp chính của khu vực FDI không chỉ ở việc giúp tăng ngân sách của tỉnh, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực và khuyến khích khu vực kinh tế địa phương cạnh tranh trong nước và quốc tế. Theo nghĩa này, FDI góp phần tạo ra “tư duy cạnh tranh (phát triển)” giữa các doanh nghiệp địa phương và các nhà quản lý chính quyền cấp tỉnh trong thu hút đầu tư. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi mà FDI mang lại, những trở ngại đối với quản trị cấp tỉnh về mặt hoạch định và thực thi chính sách đã đặt ra, một phần do hệ thống luật pháp còn lỏng lẻo, chưa đầy đủ, toàn diện, chưa theo kịp với những biến đổi kinh tế - chính trị mới. Điều này vô hình chung tạo ra kẽ hở khiến một số doanh nghiệp lợi dụng, dẫn đến hàng loạt vấn đề vẫn chưa có hướng giải quyết như chuyển giá, đầu tư sai, trốn thuế,... Bên cạnh đó, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ cấp tỉnh được cho là chưa đáp ứng yêu cầu, là nguyên nhân dẫn đến việc các doanh nghiệp nước ngoài khai thác “sơ hở”, “lách luật” thành công.
Hơn nữa, áp lực lên chính quyền địa phương trong việc thu hút và quản lý khu vực FDI như quản lý ô nhiễm môi trường, quy hoạch và lấp đầy các khu công nghiệp, bảo đảm an sinh kinh tế - xã hội cho người dân ở khu vực liên quan đến đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên nóng bỏng. Những áp lực này không chỉ quan trọng đối với việc thay đổi cơ chế hoạch định chính sách quản trị địa phương, mà còn ảnh hưởng đến các chiến lược phát triển và thực thi chính sách của chính quyền địa phương. Vì vậy, việc ban hành các định hướng, chiến lược phát triển nhằm bảo đảm quản lý khu vực đầu tư nước ngoài một cách hiệu quả là yêu cầu cấp thiết đối với chính quyền địa phương. Điều rõ ràng ở đây là các quan chức địa phương cần nắm chắc, quan tâm sâu sát đến những vấn đề này - và như vậy, chính khu vực đầu tư nước ngoài góp phần đặt ra và hình thành “tư duy phát triển” của chính quyền địa phương - trong trường hợp này là tối đa hóa lợi ích của FDI cho nền kinh tế địa phương và giảm thiểu chi phí.
Kết nối giữa phân tích FDI tại Việt Nam, nghiên cứu trường hợp Vĩnh Phúc, kết hợp với nghiên cứu phân tích tài liệu về tác động của FDI trong quá trình hình thành và phát triển tư duy về “phát triển”, có thể khái quát một số luận điểm chính như sau: Thứ nhất, các nhà lý thuyết về nhà nước phát triển cho rằng: một liên minh chiến lược giữa các tập đoàn xuyên quốc gia (đặc biệt là thông qua tự do hóa đầu tư) và nhà nước sở tại, chính quyền địa phương, trong một số trường hợp, có thể hỗ trợ việc hoàn thành các mục tiêu của nhà nước[4]. Để liên minh này trở thành một mối quan hệ chiến lược, các nhà nước, chính quyền địa phương cần duy trì vai trò quan trọng của mình trong việc phát triển kinh tế, ổn định chính trị, cũng như trong việc xây dựng và nâng cao năng lực của bản thân. Thật vậy, đối với các nhà lý thuyết về nhà nước phát triển[5], đây là “bài học của tích hợp động”. Thứ hai, “các liên minh chiến lược” giữa các tập đoàn đa quốc gia với các nhà nước quốc gia, trong đó nhà nước quốc gia vẫn hoạt động với tư cách là “trụ cột của cái gọi là tự chủ chính sách” có thể thúc đẩy “tư duy phát triển” và tăng cường năng lực của nhà nước[6]. Tham chiếu những luận điểm này vào thực tế của Việt Nam cho thấy, trong chừng mực nhất định, sự quản lý của nhà nước và chính quyền địa phương đối với FDI khi vượt qua các thách thức, một mặt, không những không bị làm suy yếu quyền lực, chủ quyền của mình đi, thay vào đó, từ phương diện năng lực quản lý và hệ tư duy phát triển thì lại ngày càng được nâng lên nhờ vào quá trình thu hút và hoạt động của FDI.
Các tổ chức quốc tế và ảnh hưởng của họ đến tư duy phát triển ở Việt Nam hiện nay
Các tổ chức quốc tế ở Việt Nam có hoạt động và sự hợp tác mạnh mẽ ở Việt Nam từ sau Đổi mới và ngày càng tiếp tục mở rộng hoạt động của mình. Bên cạnh những lợi ích mà các tổ chức này mang lại, sự phát triển của các tổ chức này đặt ra một loạt thách thức đối với nhà nước Việt Nam và chính quyền địa phương các cấp liên quan đến sự độc lập về tư tưởng, kinh tế, chính trị, và ngay cả về cách họ đã ảnh hưởng đến tư duy phát triểnở Việt Nam. Để luận giải một cách cụ thể, chúng ta khảo sát và đánh giá tác động của 3 hệ thống tổ chức quốc tế nổi bật đối với tư duy phát triển ở Việt Nam như sau:
Thứ nhất, hệ thống Liên hợp quốc tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các cơ quan của Liên hợp quốc điều hành nhiều dự án và chương trình hỗ trợ. Các cơ quan của Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) hiện diện trong nhiều lĩnh vực hỗ trợ, bao gồm: xóa đói giảm nghèo, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, thảm họa và quyền phụ nữ, quản trị quốc gia... Liên quan đến lĩnh vực quản trị quốc gia, chương trình của họ tập trung vào các can thiệp để hỗ trợ hệ thống dịch vụ công, các cơ quan xây dựng luật và thực thi pháp luật, chống tham nhũng và nhân quyền. Các dự án của họ được xây dựng dựa trên 3 trụ cột chính, gồm: phát triển nghị viện; pháp quyền và tiếp cận công lý; cải cách hành chính. Trong các phương diện hoạt động của Liên hợp quốc tại Việt Nam, nổi lên ở lĩnh vực hoạt động liên quan đến quyền con người.
Trong lĩnh vực cải cách hành chính công, UNDP tập trung vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ bằng cách giới thiệu “dịch vụ điện tử tại bộ phận một cửa ở địa phương và cải cách nguồn nhân lực để nâng cao phong cách lãnh đạo, phẩm chất và hành vi đạo đức của công chức”[7]. Trong lĩnh vực xây dựng luật, cơ quan này cũng “cung cấp kiến thức chuyên môn về việc liên tục sửa đổi các luật chính hướng đến sự phù hợp với các thông lệ quốc tế”[8]. Các hoạt động này cho thấy, sự can thiệp sâu rộng của UNDP Việt Nam vào hệ thống hành chính và chính trị của Việt Nam, một sự can thiệp dường như thiên về hướng “thị trường” hoặc “tân tự do” hơn là hướng “tư duy về nhà nước phát triển”.
Tóm lại, đối với trường hợp của hệ thống Liên hiệp quốc, Việt Nam đã tận dụng được nguồn vốn, sự hỗ trợ về trí tuệ và kỹ thuật của họ để mang lại lợi ích cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, hoạt động của Liên hiệp quốc lại liên quan khá nhiều đến những vấn đề như sự độc lập của các cơ quan tư pháp và xã hội khác bao gồm các quyền con người. Các dự án của UNDP thường hỗ trợ xây dựng một nền hành chính dân chủ; phát triển xã hội dân sự; ủng hộ các giá trị như: tự do chính trị - tôn giáo, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Mặc dù các hệ giá trị ấy là khá quan trọng đối với tư duy về nhà nước phát triển, song dẫu sao, hoạt động của UNDP tại Việt Nam đã thúc đẩy một cách tiếp cận khá phương Tây đối với vấn đề nhà nước pháp quyền và quản trị. Điều này đặt ra hai vấn đề đối với Việt Nam, thứ nhất là sự căng thẳng giữa các giá trị “phương Tây” của UNDP và giá trị “xã hội chủ nghĩa” của hệ thống chính trị Việt Nam; thứ hai, liệu điều này có đóng lại không gian cho việc tiếp cận tư duy về “nhà nước phát triển Việt Nam” hay không cũng cần phải nhận diện một cách thấu đáo.
Thứ hai, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra sự đồng thuận giữa các chính trị gia, nhà khoa học và doanh nghiệp Việt Nam về ảnh hưởng đáng kể của các quy tắc và chuẩn mực của tổ chức này đối với chính sách và cách tiếp cận phát triển của Việt Nam. Hầu hết đều lo lắng và quan ngại về việc liệu đất nước có thể đối phó hiệu quả với những thay đổi trong môi trường kinh doanh theo yêu cầu của việc gia nhập WTO hay không. Mối quan tâm chính yếu nhất là việc điều chỉnh hệ thống pháp luật sao cho phù hợp với các quy định của WTO. Ngoài ra, các doanh nghiệp trong nước lại phải đối mặt với các cạnh tranh quốc tế, đặc biệt là thông qua hàng rào thuế quan và các loại bảo hộ của các thành viên (nhà nước) lớn của WTO. Như vậy, chắc chắn việc là thành viên của WTO giúp Việt Nam tăng cường năng lực quản trị nhà nước trong các lĩnh vực như năng lực lập pháp; xây dựng các quy định thương mại, công nghiệp và nhiều tiến bộ khác nữa. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chứng minh rằng, Chính phủ Việt Nam nhận thức rõ các thách thức mà việc gia nhập WTO sẽ mang lại, song, việc nắm bắt tác động, chủ động ứng phó, hình thành chiến lược phát triển riêng, chính là cách tiếp cận sát thực của tư duy phát triển ở Việt Nam hiện nay.
Thứ ba, Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (World Bank - WB)
Đối với trường hợp của WB, tổ chức được đánh giá là có những đóng góp đáng kể trong việc tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy cải cách thể chế ở Việt Nam suốt quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường. Mỗi lĩnh vực hoạt động của WB, chẳng hạn như đối tác chiến lược quốc gia (CAS/CPS); điều phối các nhà tài trợ; hoạt động của WB trong lĩnh vực tư vấn và tham vấn, đều được coi là có ảnh hưởng đến các khía cạnh khác nhau của tư duy về phát triển ở Việt Nam. Thực tế nhiều nghiên cứu không chỉ cho thấy ảnh hưởng của WB đối với quá trình chuyển đổi của Việt Nam mà quan trọng hơn cả là nhận diện đầy đủ về tác động của WB đối với tư duy phát triển của nhà nước Việt Nam. Một số nhà phân tích cho rằng, Chính phủ Việt Nam, mặc dù chịu ảnh hưởng của WB, nhưng giữ mức độ tự chủ rất lớn trong việc thực hiện chính sách. Chính phủ có thể sử dụng các đề xuất, tham vấn từ WB theo cách riêng của họ để phát triển năng lực hoạch định chính sách của họ và áp dụng đề xuất này phù hợp với bối cảnh của Việt Nam. Đây là bài học từ Việt Nam mà bản thân WB cũng lưu ý khi họ lập luận rằng, để đạt được thành công, họ cần thay đổi tư duy phát triển để phù hợp với tư duy của Chính phủ Việt Nam và thúc đẩy điều này ở cả cấp quốc gia cũng như cấp cơ sở[9]. Do đó, riêng với trường hợp WB, việc khẳng định vai trò của họ đối với chiến lược phát triển Việt Nam là không thể phủ nhận, tuy nhiên, việc tiếp tục thực hiện các mục tiêu ‘‘đặc thù’’ của Việt Nam như kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, pháp quyền xã hội chủ nghĩa, văn hóa xã hội chủ nghĩa, cho thấy, Việt Nam áp dụng phương pháp tiếp cận ‘‘tư duy về nhà nước phát triển’’ hơn là phương thức ‘‘tân tự do - neoliberal’’ như kỳ vọng của WB.
Tóm lại, các tổ chức, định chế quốc tế khác nhau có những cách thức và hình thức ảnh hưởng đến các phương diện khác nhau về tư duy phát triển của nhà nước và chính quyền điạ phương các cấp ở Việt Nam. Với tư cách là các chủ thể quốc tế, LHQ, WTO và WB với các cam kết thương mại; các chương trình cho vay; hỗ trợ cải cách chính sách và thể chế; các hoạt động phân tích và tư vấn chính sách đã có sự ảnh hưởng, góp phần nhất định trong việc hình thành tư duy phát triển Việt Nam. Tuy nhiên, về căn bản, với các hệ tiêu chí liên quan đến các yêu cầu “cải cách” thể chế, đòi hỏi sự minh bạch hơn, thúc đẩy cải thiện quyền con người..., đặt quan điểm phát triển lấy thị trường làm trung tâm trong cách tiếp cận của họ lại là những vấn đề khác biệtso với những “cái đặc thù” của tư duy về phát triển của Nhà nước và chính quyền địa phương các cấp ở Việt Nam.
Các tổ chức phi chính phủ quốc tế và ảnh hưởng của họ đối với tư duy và chính sách phát triển của Việt Nam hiện nay
Đến năm 2022, có khoảng hơn 1.000 tổ chức phi chính phủ quốc tế (INGO) tại Việt Nam đến từ hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ, hoạt động ở hầu hết các tỉnh, thành phố của Việt Nam. Các nghiên cứu chứng minh rằng, các INGO đóng góp thành công và hiệu quả vào sự phát triển xã hội Việt Nam trên nhiều phương diện, bao gồm cả việc giảm nghèo và nâng cao mức sống của người dân tại các khu vực có dự án. Trong khi một số học giả và nhà phân tích đưa ra lo ngại về khả năng của các INGO làm suy giảm vai trò của nhà nước và chính quyền địa phương, vốn đã xảy ra ở một loạt các quốc gia đang phát triển, điều này vẫn chưa rõ ràng ở Việt Nam. Trái lại, các tổ chức INGO đã giới thiệu một số mô hình, phương pháp và cách tiếp cận mới để phát triển ở Việt Nam, những mô hình này nhìn chung được đánh giá cao.
Các nghiên cứu riêng về Care International và World Vision International tại Việt Nam cho thấy, thực tế chính quyền và người dân địa phương được cho là đã hưởng lợi từ các dự án và chương trình của INGO hơn là những thách thức, nguy hiểm mà các tổ chức này tạo ra. Nhiều mô hình chương trình tiêu biểu do các tổ chức này xây dựng (ví dụ, mô hình tín dụng vi mô; mô hình phát triển cộng đồng với sự tham gia của người dân và quy chế dân chủ cơ sở...) sau đó đã được chính quyền địa phương nhân rộng ra các lĩnh vực khác. Các quan chức chính phủ được hưởng lợi từ các dự án này, theo những cách khác nhau, đặc biệt là trong việc đào tạo và tư vấn nâng cao năng lực. Tại Việt Nam, nhiều tổ chức phi chính phủ được coi là đã xây dựng được mối quan hệ bền chặt với chính phủ, theo nhận thức của các tổ chức phi chính phủ và nhân viên Chính phủ, điều này được coi là điểm mấu chốt và bài học cho sự thành công của các hoạt động của họ. Chính quyền địa phương đưa ra định hướng cho các dự án thực địa và liên kết với các chương trình quốc gia, các ưu tiên của khu vực và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tận dụng lợi thế của các kênh này, các INGO gắn luôn các chương trình của họ vào và đồng hành, song song, cùng tham gia, cùng hợp tác vì lợi ích chung và các khuôn khổ phát triển chung.
Do những đặc điểm này, một số học giả cho rằng, các tổ chức INGO ở Việt Nam đã mất hoặc làm tổn hại đến tính độc lập của mình[10]. Thậm chí có những luận điệu cho rằng nhà nước Việt Nam đã nhượng bộ, cho phép các tổ chức INGO hoạt động và trở thành một kênh cho công việc của họ. Tuy nhiên, một số chính quyền địa phương vẫn e ngại với các tổ chức INGO làm việc trong các vấn đề như dân chủ cơ sở, quản trị dân chủ và nhân quyền - được xem là những vấn đề nhạy cảm và thường được coi là trách nhiệm của chính quyền nhà nước hơn là của các tổ chức nước ngoài. Những căng thẳng đó chứng tỏ các giới hạn của tác động INGO đối với tư duy và định hướng chiến lược phát triển của nhà nước sở tại. Vì vậy, đây vẫn sẽ là một vấn đề quan trọng trong định hình về mối quan hệ giữa Chính phủ Việt Nam và các tổ chức INGO trong tương lai. Mặc dù vậy, nhìn chung, quan điểm của Việt Nam về các tổ chức INGO phù hợp với các lập luận, lý thuyết cho rằng; các tổ chức INGO đem sự tham gia của mình là “lợi thế của các quốc gia” và góp phần nâng cao năng lực của các quốc gia[11]. Hơn nữa, qua lăng kính của các nhà lý luận về nhà nước phát triển, các tổ chức phi chính phủ quốc tế đã đóng góp, củng cố và nâng cao tư duy phát triển của Việt Nam.
Nhìn chung, các khảo sát cụ thể về ba loại chủ thể quốc tế trên đã cho thấy tác động của họ đối với tư duy và chính sách phát triển của nhà nước Việt Nam. Các tác nhân quốc tế này góp phần nâng cao năng lực nhà nước và chính quyền địa phương, làm phong phú thêm tư duy phát triển nói chung. Mỗi tác nhân có những nội dung hoạt động và phương thức tác động khác nhau để ảnh hưởng đến các khía cạnh khác nhau của tư duy phát triển Việt Nam. Cụ thể, các phân tích trên đây đã chứng minh được mức độ tham gia sâu rộng của các chủ thể quốc tế đối với tư duy phát triển của Việt Nam ở cả cấp độ quốc gia và cấp độ địa phương. Tất cả các chủ thể quốc tế này đóng góp theo những cách khác nhau xoay xung quanh chủ đề trung tâm là vai trò của nhà nước và chính quyền trong quản lý kinh tế, định hướng đổi mới thể chế kinh tế - chính trị và thúc đẩy phát triển xã hội. Tất nhiên, hiệu quả và mức độ của những ảnh hưởng đó phụ thuộc vào việc các hướng đi của họ phù hợp và tương tác với chiến lược và kế hoạch của Chính phủ, chính quyền địa phương như thế nào. Do đó, việc xác định và phân tích các yếu tố và quan điểm khác nhau ở trên thể hiện nhận thức mạnh mẽ rằng một tư duy phát triển ở Việt Nam là hết sức rõ ràng, thể hiện ở một nhà nhà nước phát triển và có một mức độ tự chủ về chính sách, mặc dù các chiến lược phát triển bị ảnh hưởng bởi các tác nhân quốc tế. Cụ thể, với những mục tiêu đặc thù của Việt Nam như kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, pháp quyền xã hội chủ nghĩa, văn hóa xã hội chủ nghĩa, cho thấy Việt Nam thể hiện rõ là một “mô hìnhnhà nước phát triển”.
Để kết luận, việc suy ngẫm về các vấn đề đương đại lúc này là rất hữu ích. Môi trường quốc tế thậm chí còn trở nên phức tạp hơn trong những năm gần đây. Chúng ta đã thấy sự xuất hiện trở lại của chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, các nhà nước thất bại, nhập cư, tị nạn, di dân toàn cầu v.v... Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang trở thành mối quan tâm trung tâm trên toàn thế giới. Hơn nữa, các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, nghèo đói và bất công mang đến những thách thức cho nhân loại. Tất cả những thách thức quốc tế này ảnh hưởng đến chiến lược phát triển của các quốc gia trên toàn thế giới. Các nhà nước khác nhau, địa phương khác nhau có các chiến lược khác nhau để giải quyết các ảnh hưởng. Những vấn đề quan trọng này tiếp tục là tác nhân quốc tế ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc định hình chiến lược phát triển quốc gia, đến tư duy phát triển của nhà nước Việt Nam, đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược phát triển của địa phương trong bối cảnh mới./.
[1] Xem thêm: Gainsborough, Martin (2010), “Present but Not Powerful: Neoliberalism, the State, and Development in Vietnam”, Globalizations, 7 (4), 475-88; Masina, Pietro (2012), “Vietnam between Developmental State and Neoliberalism - the Case of the Industrial Sector”, in C. Kyung-sup, B. Fine and L. Weiss. Hampshire (eds), Developmental Politics in Transition: The Neoliberal Era and Beyond, (Newyork: Palgrave Macmillan); Pham, H Hung (2012), “The Developmental State”, the Evolving International Economic Order, and Vietnam’, Doctor of Philosophy, University of Birmingham.
[2] Xem thêm: Nguyen, Phu Trong (2012), “Socialism and the Path to Socialism-Vietnam’s Perspective”, http://www.politicalaffairs.net/socialism-and-the-path-to-socialism-vietnam-s-perspective,30 December; Le, Xuan Tung (2013), “On Socialist Orientation in Market Economy Development in Viet Nam”, http://english.tapchicongsan.org.vn/Home/Theory-and-Reality/2013/386/On-socialist-orientation-in-mar..., 11 November; Vu, Van Phuc (2013), “Special Characteristics of Socialist Oriented Market Economy in Vietnam”, Communist Review <http://www.solidnet.org/vietnam-communist-party-of-vietnam/cp-of-vietnam-special-characteristics-of-...,24 September; Nguyen, Xuan Phuc (2015), “Completing Socialist-Oriented Market Economy Institutions in Vietnam: Some Issues to Be Further Clarified”, Viet Nam Law Magazine, http://vietnamlawmagazine.vn/completing-socialist-oriented-market-economy-institutions-in-vietnam-so..., 20 March.
[3] Bui, H Thiem (2015), “In Search of a Post-Socialist Mode of Governmentality: the Double Movement of Accommodating and Resisting Neo-Liberalism in Vietnam”, Asian Journal of Social Science, 43(1-2): 80 - 102.
[4] Chang, Ha Joon (2003), Globalisation, Economic Development and the Role of the State, (London: Zed Books).
[5] Weiss, Linda (1998), The Myth of the Powerless State (Ithaca, NY: Cornell University Press).
[6] Weiss, Linda (1999), ‘Globalization and National Governance: Antinomy or Interdependence?’, Review of International Studies, 25 (5), 59 - 88.
[7] UNDP in Viet Nam (2020). “Democratic Governance: In-depth.” Retrieved 11 January, 2020, http://www.vn.undp.org/content/vietnam/en/home/ourwork/democraticgovernance/in_depth/.
[8] UNDP in Viet Nam (2020). “Democratic Governance: In-depth.” Retrieved 11 January, 2020, http://www.vn.undp.org/content/vietnam/en/home/ourwork/democraticgovernance/in_depth/.
[9] Kwakwa, Victoria (2013), “Celebration of 20 Years of Development Cooperation in Vietnam”, http://www.worldbank.org/en/news/speech/2013/10/17/celebration-of-20-years-of-ODA-in-vietnam, accessed 17 October.
[10] Xem thêm: Raustiala, Kal (1997), “States, NGOs, and International Environmental Institutions”, International Studies Quarterly, 41, 719-40; Payne, David (2004), “10 Years of Partnership between Vietnam and International NGOs”, (Hanoi: VUFO-NGO Resource Centre); Dang, Linh H. (2009), “Non-governmental Organizations (NGOs) and Development: An Illustration of Foreign NGOs in Vietnam”, MA thesis, International Development Studies, Ohio University.
[11] Duffy, Rosaleen (2006), ‘Non-Governmental Organisations and Governance States: The Impact of Transnational Environmental Management Networks in Madagascar’, Environmental Politics, 15 (5), 731-49.
