Kinh tế và Hội nhập

Thành phố Quảng Ninh từ đột phá thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực đến năng lực phát triển tổng thể

Ngọc Hân • 15/10/2026 15:59

Những đột phá về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực đã tạo nền tảng quan trọng cho bước phát triển của Quảng Ninh. Trong giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là củng cố các nền tảng ấy, mà còn phải kết nối và chuyển hóa nguồn lực, lợi thế thành động lực tăng trưởng mới, hướng tới phát triển nhanh, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

quang-ninh.png
Một góc thành phố Quảng Ninh_Ảnh: Chinhphu.vn

Từ cải cách hành chính đến kiến tạo năng lực phát triển

Để thực hiện mục tiêu phát triển nhiệm kỳ 2025 - 2030, Quảng Ninh cần phát huy lợi thế đã được bồi đắp qua nhiều nhiệm kỳ: năng lực cải cách và tổ chức thực thi.

Đột phá thể chế không chỉ là nhiệm vụ của bộ máy hành chính, mà phải khơi thông nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao hiệu quả quản trị và tạo dư địa cho động lực tăng trưởng mới.

Dấu ấn nổi bật trong cải cách thể chế của Quảng Ninh là chuyển từ nền hành chính thiên về quản lý sang hành chính phục vụ, kiến tạo phát triển; từ cải cách từng thủ tục sang cải thiện đồng bộ chất lượng quản trị và môi trường đầu tư, kinh doanh.

Cải cách được gắn với phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số, chất lượng dịch vụ công và trách nhiệm người đứng đầu. Mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp cùng hiệu quả kinh tế - xã hội ngày càng là thước đo quan trọng.

Năm 2025, Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) của Quảng Ninh đạt 93,16/100 điểm, đứng thứ 2/34 tỉnh, thành phố; Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) đạt 88,33%, đứng thứ 2 cả nước.

Đáng chú ý, ở nhóm tiêu chí đánh giá tác động của cải cách hành chính đối với người dân, tổ chức và phát triển kinh tế - xã hội, Quảng Ninh đứng đầu cả nước.

Về môi trường đầu tư, kinh doanh, PCI năm 2025 của Quảng Ninh đạt 67,55 điểm, tiếp tục thuộc nhóm 5 địa phương có chất lượng điều hành kinh tế cấp tỉnh “Tốt”; đây là năm thứ 13 liên tiếp địa phương nằm trong nhóm dẫn đầu.

Trong lần đầu VCCI công bố Chỉ số Hiệu quả kinh tế tư nhân (BPI), Quảng Ninh cũng thuộc nhóm 3 địa phương dẫn đầu. Những kết quả này cho thấy cải cách không chỉ dừng ở đơn giản hóa thủ tục, mà hướng tới môi trường quản trị minh bạch, thuận lợi, hỗ trợ đầu tư, sản xuất và kinh doanh.

Quảng Ninh cần duy trì quá trình cải cách có tính hệ thống, tập trung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, nhất là trong các lĩnh vực tác động trực tiếp đến đầu tư như xây dựng, đất đai, tài nguyên, môi trường; đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực và trách nhiệm thực thi. Nhờ đó, cải cách hành chính từng bước kết nối với cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh và chuyển đổi số.

Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 - 2030, tiếp tục đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, quản trị và tổ chức thực hiện. Yêu cầu này càng cấp thiết khi không gian và quy mô quản trị thay đổi nhanh.

Việc thành lập thành phố Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh, có hiệu lực từ ngày 1-9-2026, mở ra không gian phát triển mới, đồng thời đòi hỏi năng lực cao hơn trong quản trị đô thị, tổ chức bộ máy và điều phối nguồn lực.

Trong giai đoạn mới, đột phá thể chế cần chuyển từ “cải cách hành chính” sang “kiến tạo năng lực phát triển”. Thước đo không chỉ là số thủ tục được cắt giảm, thời gian xử lý hay tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, mà là khả năng giúp dự án triển khai nhanh hơn, nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn, doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ và cơ hội phát triển thành kết quả thực tế.

Trước hết, cần chuyển mạnh từ “quản lý quy trình” sang “quản trị kết quả”. Mỗi chủ trương, chính sách phải gắn với mục tiêu, sản phẩm đầu ra, cơ quan chủ trì, người chịu trách nhiệm, nguồn lực và tiến độ cụ thể.

Định hướng này phù hợp với yêu cầu đặt ra trong năm 2026: người đứng đầu trực tiếp rà soát từng tiêu chí, xác định điểm nghẽn và xây dựng giải pháp khắc phục theo tinh thần “6 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền), hạn chế tình trạng xử lý hồ sơ vòng vo, lấy kết quả cải cách làm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ.

Cùng với đó, cần rà soát những điểm nghẽn liên quan đến đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, giải phóng mặt bằng, môi trường và phát triển doanh nghiệp.

Với các dự án chiến lược, có thể áp dụng phương thức “một dự án - một đầu mối”, xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm xuyên suốt từ chuẩn bị đến triển khai, tránh việc dự án phải qua nhiều tầng nấc nhưng không rõ trách nhiệm cuối cùng.

Cải cách thể chế cần gắn chặt với chuyển đổi số và quản trị dựa trên dữ liệu. Khi dữ liệu về quy hoạch, đất đai, đầu tư, doanh nghiệp, dân cư và thủ tục hành chính được kết nối, chia sẻ, chính quyền có thể xử lý công việc nhanh hơn, dự báo tốt hơn, phát hiện sớm điểm nghẽn và chủ động ra quyết định.

Vì vậy, chuyển đổi số không chỉ là số hóa quy trình hiện có, mà phải góp phần đổi mới phương thức quản trị.

Cơ chế đánh giá cán bộ cũng cần chuyển theo hướng coi trọng kết quả và hiệu quả phát triển. Bên cạnh tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, cần xem xét thời gian tháo gỡ điểm nghẽn, tiến độ đưa dự án vào hoạt động, khả năng huy động và giải ngân nguồn lực, mức giảm chi phí cho doanh nghiệp và sự hài lòng của người dân. Trách nhiệm gắn với kết quả đo lường được sẽ giúp cải cách đi vào thực chất.

Giá trị của đột phá thể chế không chỉ nằm ở thứ hạng các bộ chỉ số, mà ở khả năng chuyển chất lượng quản trị thành năng lực phát triển. Thể chế minh bạch, hiệu quả tạo dựng niềm tin; niềm tin thúc đẩy đầu tư; đầu tư tạo việc làm, năng suất và tăng trưởng.

Quảng Ninh cần nâng lợi thế cải cách đã tích lũy thành nền quản trị phản ứng nhanh, dựa trên dữ liệu và chịu trách nhiệm bằng kết quả, qua đó phát huy tốt hơn lợi thế địa - kinh tế, hạ tầng, tài nguyên và con người.

Khu công nghiệp Amata City Hạ Long_Ảnh: ST
Khu công nghiệp Amata City Hạ Long_Ảnh: ST

Từ kết nối giao thông đến kết nối các không gian phát triển

Nếu thể chế khơi thông nguồn lực thì hạ tầng là nền tảng vật chất mở rộng không gian phát triển. Quảng Ninh đã hình thành hệ thống kết nối tương đối đồng bộ.

Giai đoạn mới cần chuyển từ tư duy xây thêm đường, cảng sang phát triển hệ sinh thái kết nối các không gian kinh tế, đô thị và xã hội, tạo các cực tăng trưởng mới.

Hạ tầng cần được phát triển đồng bộ, gồm giao thông, logistics, năng lượng, đô thị, hạ tầng số, du lịch, công nghiệp và hạ tầng xã hội.

Với vị trí tiếp giáp Trung Quốc, kết nối với Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn và không gian kinh tế biển, Quảng Ninh có điều kiện trở thành trung tâm logistics, kinh tế cửa khẩu và kinh tế biển quy mô khu vực.

Quy hoạch cảng biển Quảng Ninh đặt mục tiêu đến năm 2030, hệ thống cảng có thể đáp ứng khoảng 137 - 157 triệu tấn hàng hóa thông qua, với 27 - 30 bến cảng.

Cùng với mở rộng quy mô, yêu cầu quan trọng là nâng cao hiệu quả khai thác, gia tăng giá trị của logistics và dịch vụ hậu cần cảng biển, đồng thời kết nối cảng với khu công nghiệp, khu kinh tế, cửa khẩu và thị trường.

Quảng Ninh cần chuyển từ đầu tư theo từng công trình sang đầu tư theo không gian phát triển và năng lực tăng trưởng. Mỗi dự án hạ tầng lớn cần được đánh giá qua năng lực tạo ra sau khi hoàn thành: mở rộng đô thị, thu hút doanh nghiệp, tạo việc làm, hình thành nguồn thu và đóng góp cho tăng trưởng, chứ không chỉ qua vốn đầu tư hay tiến độ xây dựng.

Nên ưu tiên các công trình có khả năng “mở khóa” tăng trưởng: hạ tầng mở rộng không gian đô thị và liên kết vùng; hạ tầng phục vụ công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics, cảng biển và cửa khẩu; hạ tầng du lịch, đô thị, văn hóa và kinh tế đêm. Cách tiếp cận này giúp tập trung vốn đầu tư công vào các công trình dẫn dắt, tạo hiệu ứng lan tỏa và kích hoạt đầu tư xã hội.

Phát triển hạ tầng cần gắn với các hành lang kinh tế, đô thị và giao thông. Trên cơ sở định hướng “Một tâm, hai tuyến đa chiều, hai mũi đột phá, ba vùng phát triển”, giai đoạn 2026 - 2030 cần ưu tiên các công trình kết nối đồng thời nhiều địa phương, ngành kinh tế và phương thức vận tải.

Hạ tầng số là cấu phần thiết yếu của không gian phát triển. Trọng tâm là kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu; phát triển viễn thông, trung tâm dữ liệu và nền tảng số phục vụ doanh nghiệp, đô thị, logistics, du lịch, công nghiệp. Đầu tư đồng bộ với giao thông, năng lượng và đô thị sẽ tạo điều kiện thu hút kinh tế số, công nghệ cao và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.

Hạ tầng hiện đại cũng phải gắn với năng lượng và chuyển đổi xanh. Với nền tảng công nghiệp, năng lượng, kinh tế biển và du lịch, Quảng Ninh cần bảo đảm hạ tầng vừa đáp ứng yêu cầu tăng trưởng, vừa giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đây là điều kiện để mở rộng quy mô kinh tế, đồng thời nâng cao chất lượng và tính bền vững của mô hình tăng trưởng.

Yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng quy mô hạ tầng mà còn nâng cao giá trị sau đầu tư. Hạ tầng cần đi trước để kết nối các không gian phát triển, giảm chi phí của nền kinh tế và tạo điều kiện cho công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics, kinh tế biển, du lịch chất lượng cao, kinh tế số và công nghệ cao. Tuy nhiên, hạ tầng chỉ phát huy đầy đủ lợi thế khi có nguồn nhân lực đủ trình độ vận hành, khai thác và tạo ra giá trị mới.

Từ đào tạo con người đến tạo năng lực cạnh tranh

Trong 3 đột phá, nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định lâu dài. Vốn và công trình có thể huy động, hoàn thành trong vài năm, nhưng nhân lực chất lượng cao cần quá trình chuẩn bị bền bỉ.

Khi Quảng Ninh chuyển từ khai thác tài nguyên sang công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ, du lịch chất lượng cao, kinh tế biển, kinh tế số và đổi mới sáng tạo, cơ cấu lao động phải thay đổi tương ứng.

Thách thức cốt lõi không chỉ là số lượng lao động mà là mức độ phù hợp giữa kỹ năng và nhu cầu của nền kinh tế. Quảng Ninh cần nhân lực công nghệ cao cho công nghiệp; nhân lực logistics cho cửa khẩu và cảng biển; nhân lực du lịch quốc tế, tài chính, thương mại; chuyên gia quy hoạch, quản lý đô thị, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, năng lượng và chuyển đổi xanh.

Nếu không giải quyết tốt bài toán nhân lực, hạ tầng hiện đại có thể không được khai thác hết công suất, còn thể chế thuận lợi cũng khó tạo kết quả tương xứng. Ngược lại, đội ngũ phù hợp sẽ giúp nâng cao giá trị của các tuyến giao thông, cảng biển, khu công nghiệp, trung tâm dữ liệu và không gian đô thị mới.

Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “đào tạo theo khả năng” sang “đặt hàng theo nhu cầu phát triển”. Việc xác định ngành, nghề và quy mô đào tạo phải xuất phát từ yêu cầu nhân lực để thực hiện mục tiêu phát triển của Quảng Ninh, sau đó mới tổ chức đào tạo và thu hút nhân lực phù hợp.

Giai đoạn 2026 - 2030 cần ưu tiên các nhóm nhân lực chiến lược: công nghệ số và trí tuệ nhân tạo; công nghiệp chế biến, chế tạo; logistics và cảng biển; du lịch quốc tế; kinh tế biển; tài chính - thương mại; quy hoạch, quản lý đô thị; năng lượng và chuyển đổi xanh; y tế chất lượng cao; quản trị công và quản trị doanh nghiệp.

Cần thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên giữa chính quyền, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo. Hằng năm, khảo sát nhu cầu nhân lực tại khu công nghiệp, khu kinh tế, cảng biển, du lịch và dịch vụ; khuyến khích doanh nghiệp dự báo nhu cầu kỹ sư, chuyên gia, lao động kỹ thuật trong 3 - 5 năm để các trường xây dựng chương trình phù hợp. Mục tiêu là đào tạo sát nhu cầu của các ngành kinh tế chiến lược.

Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao cần có tính cạnh tranh. Đối với chuyên gia công nghệ, nhà khoa học, chuyên gia quản trị và nhân lực quốc tế, cần quan tâm đồng bộ đến thu nhập, nhà ở, điều kiện nghiên cứu, môi trường làm việc và cơ chế khuyến khích dựa trên kết quả, thay vì chỉ áp dụng chính sách chung cho lao động phổ thông.

Quan niệm về thu hút nhân tài cũng cần đổi mới. Không phải chuyên gia nào cũng cần sinh sống thường xuyên tại Quảng Ninh mới có thể đóng góp.

Trong điều kiện kinh tế số, chuyên gia có thể tham gia giải quyết các bài toán của địa phương thông qua trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, nền tảng số và mạng lưới hợp tác. Vì vậy, cần chuyển từ “thu hút người giỏi về Quảng Ninh” sang “thu hút người giỏi tham gia giải quyết những bài toán của Quảng Ninh”.

quang-ninh-dot-pha.avif
Những cách làm đột phá đưa Quảng Ninh bứt phá_Ảnh: baoquangninh.vn

Kết nối 3 đột phá thành năng lực phát triển tổng thể

Ba đột phá về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực không thể triển khai tách rời mà cần kết nối thành chuỗi năng lực: thể chế hiệu quả giải phóng nguồn lực; nguồn lực đầu tư vào hạ tầng; hạ tầng mở rộng không gian đầu tư và việc làm; môi trường phát triển thu hút nhân lực; nhân lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng năng suất; tăng trưởng tạo nguồn lực để tiếp tục đầu tư cho hạ tầng và con người.

Để chuỗi năng lực vận hành hiệu quả, chương trình hành động cần vượt qua cách làm thiên về liệt kê nhiệm vụ, chuyển sang tổ chức thực hiện theo kết quả. Mỗi nhiệm vụ phải xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm, nguồn lực, thời hạn, sản phẩm đầu ra và tiêu chí đánh giá cụ thể.

Ba đột phá có quan hệ bổ trợ: thể chế tạo cơ chế thực thi, hạ tầng mở không gian phát triển, còn nhân lực quyết định chất lượng vận hành và khả năng tạo giá trị.

Theo lộ trình đề xuất, năm 2026 cần rà soát, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, hoàn thiện quy hoạch, xác định dự án chiến lược, xây dựng cơ sở dữ liệu nhân lực và cơ chế điều phối.

Giai đoạn 2027 - 2028 tập trung hình thành năng lực mới qua các dự án hạ tầng chiến lược, phát triển công nghiệp, logistics, kinh tế biển, du lịch chất lượng cao, đào tạo theo nhu cầu và ứng dụng số, trí tuệ nhân tạo.

Giai đoạn 2029 - 2030 chuyển hóa các năng lực này thành kết quả về đô thị hiện đại, thương mại quốc tế, du lịch chất lượng cao, kinh tế số, công nghệ cao và năng lượng sạch.

Quảng Ninh có nền tảng cải cách và quản trị được tích lũy qua nhiều năm, hạ tầng tương đối đồng bộ, vị trí địa - kinh tế đặc biệt cùng tiềm năng công nghiệp, kinh tế biển, cửa khẩu và du lịch.

Kết quả tăng trưởng, thu hút đầu tư cho thấy các lợi thế đã phát huy tác dụng; giai đoạn mới đòi hỏi tạo thêm năng lực tăng trưởng thay vì chỉ khai thác lợi thế sẵn có.

Để duy trì tăng trưởng cao và nâng chất lượng phát triển, cần kết nối 3 đột phá: nền hành chính kiến tạo khơi thông nguồn lực; hạ tầng mở rộng không gian phát triển; nguồn nhân lực vận hành, đổi mới và nâng cao năng suất. Trên nền tảng đó, đổi mới sáng tạo, quản trị dựa trên dữ liệu và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mới phát huy đầy đủ.

Đích đến không phải 3 nhóm kết quả tách rời, mà là năng lực phát triển tổng thể của Quảng Ninh: chuyển lợi thế thành năng lực, nguồn lực thành động lực, động lực thành tăng trưởng và tăng trưởng thành chất lượng sống tốt hơn cho nhân dân.

Đó cũng chính là con đường để Quảng Ninh chuyển từ một địa phương có nhiều lợi thế thành một địa phương có năng lực cạnh tranh thực chất, từ một cực tăng trưởng của vùng trở thành một cực tăng trưởng có tầm vóc quốc gia và khu vực; tạo nền tảng vững chắc để hiện thực hóa khát vọng trở thành đô thị hiện đại mang tầm khu vực, quốc tế vào năm 2045./.

Ngọc Hân