Chính trị - Thời sự

Phát triển năng lực phản biện của cán bộ trong không gian mạng: Yêu cầu chiến lược bảo vệ nền tảng tư tưởng của ĐảngKỳ cuối: Bảo đảm cho nhận thức xã hội vận hành đúng nguyên lý khoa học

ThS Phạm Tuấn Anh, Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ, tỉnh Bắc Ninh 22/07/2026 08:32

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng thực chất là bảo đảm cho nhận thức xã hội vận hành đúng nguyên lý khoa học, lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý. Vì vậy, phát triển năng lực phản biện khoa học - chính trị của đội ngũ cán bộ cần được xác lập là yêu cầu chiến lược bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

hoi_thao.webp
Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an (Bộ Công an) tổ chức hội thảo khoa học “Ngăn chặn, xử lý thông tin xấu độc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần tổ chức thành công Đại hội lần thứ XIV”_Ảnh CAND

Cấu trúc của “sức đề kháng tư tưởng”

Trong kỷ nguyên số, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần chuyển trọng tâm sang củng cố năng lực nội sinh của chủ thể trước các tác động lệch chuẩn, nâng cao “sức đề kháng tư tưởng” và phát triển năng lực phản biện khoa học - chính trị như điều kiện để cán bộ giữ vững bản lĩnh và chủ động định hướng dư luận.

Có thể hiểu “sức đề kháng tư tưởng” là khả năng tự điều chỉnh nhận thức chính trị trước tác động của thông tin sai lệch trong môi trường mạng; là sự chuyển hóa của bản lĩnh chính trị thành năng lực tự bảo vệ nhận thức trong môi trường thông tin số, trong đó năng lực phản biện là cơ chế vận hành trung tâm. Cấu trúc của sức đề kháng tư tưởng hội tụ 3 thành tố cơ bản:

Một là, năng lực nhận diện và cảnh giác: phát hiện dấu hiệu thao túng nhận thức, thủ pháp ngụy biện và các dạng thức xuyên tạc tinh vi.

Hai là, năng lực tư duy khoa học: vận dụng tư duy biện chứng và tư duy hệ thống để phân tích chỉnh thể, nhận diện mối liên hệ phổ biến; phân biệt cái riêng với cái chung, hiện tượng với bản chất, nguyên nhân với kết quả, tất nhiên với ngẫu nhiên, nội dung với hình thức, khả năng với hiện thực.

Ba là, bản lĩnh chính trị và hệ giá trị nền tảng: kiên định lập trường trong điều kiện thông tin đa chiều, giữ vững nguyên tắc lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý.

Từ góc độ nhận thức luận, phát triển "sức đề kháng tư tưởng" thực chất là quá trình củng cố cấu trúc nhận thức chính trị theo nguyên lý duy vật biện chứng, bảo đảm chủ thể không bị cuốn theo các “dòng chảy dư luận” lệch chuẩn trong môi trường mạng.

Nâng cao “sức đề kháng tư tưởng” và phát triển năng lực phản biện khoa học - chính trị như điều kiện để cán bộ giữ vững bản lĩnh và chủ động định hướng dư luận.

Yêu cầu chiến lược đối với phát triển năng lực phản biện của cán bộ

Chuyển đổi số đang đặt ra yêu cầu mới đối với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Trong môi trường thông tin phân mảnh và cạnh tranh ảnh hưởng, tiến trình nhận thức dễ bị chi phối bởi cảm xúc, định kiến và các thủ pháp thao túng dư luận.

Vì vậy, chuẩn hóa tiêu chí đầu ra theo hướng xác lập năng lực phản biện khoa học - chính trị như một chuẩn năng lực bắt buộc trở thành yêu cầu cấp thiết.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần rèn luyện thao tác tư duy biện chứng: phân biệt dữ kiện với diễn giải, hiện tượng với bản chất, tất nhiên với ngẫu nhiên; đồng thời nhận diện các thủ pháp đánh tráo khái niệm, ngụy biện và thao túng nhận thức.

Trong môi trường thông tin phân mảnh, năng lực nhận thức có cấu trúc trở thành “bộ lọc” bảo đảm tiến trình nhận thức vận hành đúng quy luật, giúp chủ thể tái lập chỉnh thể tri thức từ những dữ liệu rời rạc.

Trước các thủ đoạn thao túng cảm xúc và công nghệ giả mạo ngày càng tinh vi, công tác đào tạo, bồi dưỡng cần hình thành năng lực tự kiểm soát các tiền đề hình thành kết luận, không để nhận thức bị dẫn dắt bởi áp lực dư luận hoặc định kiến xã hội.

Khi phát hiện dấu hiệu lệch chuẩn, chủ thể phải có khả năng rà soát nguồn tin, đối chiếu bối cảnh, thẩm định lại dữ kiện và điều chỉnh kết luận theo tiêu chuẩn thực tiễn khách quan, ngăn chặn sự chuyển hóa từ sai lệch thông tin thành sai lệch niềm tin và hành vi chính trị.

Năng lực phản biện khoa học - chính trị giúp chủ thể giữ vững nguyên tắc kiểm chứng, miễn nhiễm trước áp lực dư luận số và chủ động tham gia định hướng xã hội trong bối cảnh cạnh tranh tư tưởng gay gắt.

Từ góc độ nhận thức luận, phản biện là cơ chế bảo đảm tiến trình nhận thức luôn được kiểm nghiệm trong thực tiễn. Một đội ngũ cán bộ có năng lực phản biện khoa học - chính trị vững vàng là điều kiện quan trọng để củng cố thế trận lòng dân và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

z8025936548132_d4d00ab8612214d26677ea12bab6cc6e.jpg
Tỉnh đoàn Hưng Yên tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong đoàn viên; thanh, thiếu niên năm 2026_Ảnh: qdnd.vn

Một số định hướng mang tính cơ chế

Trong bối cảnh không gian mạng vận hành theo cơ chế thuật toán và cạnh tranh ảnh hưởng, phát triển năng lực phản biện khoa học - chính trị của cán bộ không thể dừng ở rèn luyện kỹ năng đơn lẻ, mà phải chuyển hóa thành hệ thống cơ chế đồng bộ, gắn chặt giữa đào tạo, bồi dưỡng, quản lý cán bộ và công tác tư tưởng.

Thực tiễn cho thấy năng lực phản biện khoa học - chính trị của một bộ phận cán bộ, học viên chưa đáp ứng yêu cầu: nhận thức còn phiến diện; khả năng kiểm chứng đa nguồn và nhận diện thủ pháp thông tin xấu độc còn hạn chế; năng lực lập luận và đối chiếu dữ liệu với văn bản chính thống chưa đồng đều; hoạt động phản biện trong giảng dạy chưa được chuẩn hóa.

Vì vậy, phát triển năng lực phản biện khoa học - chính trị cần được cụ thể hóa thành cơ chế bắt buộc trong chương trình đào tạo, trong kiểm tra, đánh giá đầu ra và trong quy trình công tác cán bộ.

Trên cơ sở đó, cần hình thành cơ chế vận hành đồng bộ dưới sự định hướng của ban tuyên giáo và dân vận các cấp. Với vai trò cơ quan chủ trì, ban tuyên giáo và dân vận vừa định hướng tư tưởng, xây dựng nội dung phản biện khoa học, vừa nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để cung cấp dữ liệu cho công tác đấu tranh trên không gian mạng.

Cơ quan này phối hợp với ban tổ chức cấp ủy để thể chế hóa năng lực phản biện vào khung tiêu chuẩn chức danh, quy trình đánh giá cán bộ; đồng thời hiệp đồng với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và hệ thống truyền thông chính thống theo chu trình khép kín: đào tạo, bồi dưỡng - rèn luyện - kiểm tra, đánh giá - bố trí, sử dụng.

Khi được thể chế hóa đồng bộ, năng lực phản biện khoa học - chính trị của cán bộ sẽ trở thành thành tố nội sinh của bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo, quản lý trong kỷ nguyên số.

Thể chế hóa năng lực phản biện khoa học - chính trị trong khung tiêu chuẩn chức danh và quy trình công tác cán bộ

Năng lực phản biện khoa học - chính trị cần được xác lập là tiêu chuẩn cấu thành năng lực chính trị của cán bộ, không phải kỹ năng bổ trợ. Yêu cầu này phải được thể chế hóa trong khung tiêu chuẩn chức danh và quy trình công tác cán bộ nhằm chuyển phản biện từ khuyến nghị nhận thức thành chuẩn mực tổ chức.

Theo hướng đó, tiêu chí phản biện cần được chuẩn hóa với các chỉ báo trọng tâm: năng lực nhận diện thủ pháp thao túng thông tin; năng lực phân tích cấu trúc lập luận và phát hiện ngụy biện; năng lực đối chiếu dữ liệu với văn kiện của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nguồn tin chính thống; năng lực phản bác quan điểm sai trái bằng lý lẽ và chứng cứ; năng lực giữ vững kỷ luật phát ngôn và chuẩn mực ứng xử trên không gian mạng.

Tích hợp các chỉ báo này vào quy trình đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm và kiểm tra cán bộ sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trước yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số.

Xây dựng “hệ sinh thái dữ liệu số chính thống” tích hợp trí tuệ nhân tạo và chuẩn hóa năng lực số của giảng viên

Để nâng cao hiệu quả phản biện, cần thiết lập "hệ sinh thái dữ liệu số chính thống", tích hợp văn kiện của Đảng, pháp luật của Nhà nước và số liệu kinh tế - xã hội đã được kiểm chứng, tạo “trục tham chiếu” thống nhất cho hoạt động đối chiếu và lập luận.

Trên nền tảng đó, cần ứng dụng trí tuệ nhân tạo chuyên biệt nhằm hỗ trợ tra cứu nhanh, đối soát đa nguồn, nhận diện cấu trúc xuyên tạc và gợi ý hệ thống luận cứ phản bác, qua đó nâng cao năng lực chủ động chiếm lĩnh trận địa tư tưởng trên không gian mạng.

Việc triển khai cần theo hướng kết nối, liên thông các nguồn dữ liệu hiện có, đồng thời bảo đảm cơ chế phân quyền, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin.

Cùng với đó, phải chuẩn hóa năng lực số của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị theo hướng làm chủ công cụ kiểm chứng, am hiểu cơ chế truyền thông nền tảng và xử lý trực diện các tình huống phức tạp bằng dữ liệu chính thống, qua đó nâng cao chất lượng giảng dạy và năng lực phản biện khoa học - chính trị của học viên.

Phát triển năng lực phản biện khoa học - chính trị cần được cụ thể hóa thành cơ chế bắt buộc trong chương trình đào tạo, trong kiểm tra, đánh giá đầu ra và trong quy trình công tác cán bộ.

Mô hình hóa đào tạo, bồi dưỡng theo hướng tích hợp “tình huống phản biện trên không gian mạng” trong giảng dạy và thi, kiểm tra

Đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng cần chú trọng rèn luyện năng lực người học thông qua xử lý tình huống tư tưởng trong hệ sinh thái số.

Cần tích hợp “tình huống phản biện trên không gian mạng” vào giờ học và nội dung thi, kiểm tra; đồng thời xây dựng hệ thống “tình huống tư tưởng mẫu” để triển khai thống nhất trong cả 2 trục: đào tạo lý luận chính trị và bồi dưỡng cán bộ.

Theo đó, tình huống vừa là phương tiện minh họa bài giảng, vừa là cấu phần quan trọng trong hoạt động dạy - học và đánh giá đầu ra nhằm đo lường năng lực xử lý vấn đề tư tưởng trong điều kiện không gian mạng.

Người học phải được đặt trong quy trình phản biện khép kín: truy tìm nguồn gốc thông tin, phân tích cấu trúc ngụy biện, kiểm chứng dữ liệu và xây dựng phương án định hướng dư luận.

Việc chuẩn hóa các tình huống này trong thi và kiểm tra sẽ biến năng lực phản biện từ yêu cầu nhận thức thành kỹ năng thực thi công vụ bắt buộc.

Trên cơ sở đó, “tình huống phản biện trên không gian mạng” cần được xác lập là nội dung cốt lõi trong các chương trình bồi dưỡng cập nhật kiến thức, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh và bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý, góp phần bảo đảm sự thống nhất giữa hệ thống trường đảng với hệ thống quản lý nhà nước trong chuẩn hóa năng lực chính trị của đội ngũ cán bộ.

Đổi mới cơ chế nghiên cứu thực tế gắn với thẩm định thông tin và xử lý “điểm nóng” dư luận

Nghiên cứu thực tế cần được tổ chức theo hướng tích hợp yêu cầu kiểm chứng khách quan. Bên cạnh yêu cầu gắn lý luận với thực tiễn, hoạt động này cần gắn trực tiếp với nhiệm vụ nhận diện và xử lý các “điểm nóng” dư luận tại địa phương, cơ quan, đơn vị.

Theo đó, bài thu hoạch cần chuyển mạnh sang phân tích vấn đề trên cơ sở dữ liệu kiểm chứng: nhận diện “điểm nóng” dư luận, truy vết nguồn phát tán, làm rõ cơ chế lan truyền, đánh giá tác động đến niềm tin xã hội và đề xuất giải pháp truyền thông chính sách phù hợp.

Kiểm tra, đánh giá phải bắt buộc đối soát thông tin và kiểm chứng lập luận bằng dữ liệu thực tiễn, qua đó hình thành năng lực phản biện khoa học - chính trị ngay trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng.

***

Trong bối cảnh không gian công cộng biến đổi sâu sắc theo quy luật vận hành số, thông tin sai lệch không còn là hiện tượng đơn lẻ mà trở thành thách thức tư tưởng có tính cấu trúc.

Khi được thể chế hóa đồng bộ trong toàn bộ chu trình đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá và sử dụng cán bộ, năng lực phản biện khoa học - chính trị sẽ trở thành cấu phần nội sinh của năng lực cầm quyền, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng và bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội trong kỷ nguyên số./.

ThS Phạm Tuấn Anh, Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ, tỉnh Bắc Ninh