Chính trị - Thời sự

Khu công nghiệp trong hệ sinh thái kinh tế tích hợp: Động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số của thành phố Đà Nẵng

Vũ Quang Hùng, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng Ban quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp thành phố Đà Nẵng 15/05/2026 08:00

Việc chuyển dịch từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào dịch vụ - du lịch sang mô hình trung tâm kinh tế tổng hợp đòi hỏi Đà Nẵng hình thành những động lực phát triển mới có tính đột phá. Trong đó, hệ thống các khu công nghiệp (KCN) khi đặt trong hệ sinh thái kết nối với khu công nghệ cao, khu thương mại tự do và mạng lưới logistics quốc tế, nổi lên như một “mắt xích” trung tâm.

04-1.jpg
Hệ sinh thái tạo nên sự cộng hưởng chiến lược giữa công nghệ, sản xuất, logistics và thương mại quốc tế_Ảnh: Vũ Quang Hùng

Giai đoạn 2026 - 2030, thành phố Đà Nẵng đặt mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) từ 11% trở lên vào năm 2026, vừa mang tính áp lực của yêu cầu phát triển, vừa là lăng kính phản chiếu năng lực quản trị và tổ chức thực hiện của bộ máy chính quyền.

Mức tăng trưởng 8,45% của quý I-2026 tuy tích cực nhưng vẫn nằm dưới kỳ vọng, phát đi tín hiệu cấp bách về một lực đẩy bứt phá trong các quý tiếp nối.

Bối cảnh mới và yêu cầu khách quan về bứt phá mô hình tăng trưởng

Việc mở rộng địa giới hành chính đã đưa thành phố Đà Nẵng bước vào một kỷ nguyên phát triển hoàn toàn mới, làm thay đổi căn bản không gian, quy mô và cấu trúc nền kinh tế địa phương.

Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-1-2019, của Bộ Chính trị, về “xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” nêu rõ: phát triển thành phố Đà Nẵng theo hướng đô thị sinh thái, hiện đại, thông minh, mang tầm quốc tế và có bản sắc riêng; phát triển kinh tế nhanh và bền vững, coi việc nâng chất lượng cuộc sống của người dân đạt ở mức cao là nhiệm vụ trung tâm; tập trung phát triển 3 trụ cột chính: du lịch, công nghiệp công nghệ cao và kinh tế biển; bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền biển, đảo, trật tự, an toàn xã hội”.

Quá trình này đòi hỏi sự chuyển dịch chiến lược: từ dựa chủ yếu vào du lịch, dịch vụ tiến tới hình thành trung tâm kinh tế tổng hợp với các trụ cột là công nghiệp, công nghệ cao, logistics và tài chính. Điểm tựa vững chắc cho khát vọng này là sự hội tụ của hệ sinh thái hạ tầng chiến lược: cảng biển nước sâu và mở rộng sân bay quốc tế.

Đây là tiền đề vật chất để kiến tạo đồng bộ khu công nghệ cao, các KCN, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do (FTZ) và vươn tới mô hình trung tâm tài chính quốc tế. Nghị quyết số 43-NQ/TW đã định vị Đà Nẵng trở thành trung tâm kinh tế - xã hội lớn của cả nước và khu vực, với các trụ cột là công nghiệp công nghệ cao, logistics và tài chính.

Định hướng này được cụ thể hóa qua Nghị quyết số 136/2024/QH15, ngày 26-6-2024 và Nghị quyết số 259/2025/QH15, ngày 11-12-205 của Quốc hội, tạo hành lang thể chế đột phá cho việc hình thành khu thương mại tự do và phát triển các mô hình kinh tế mới.

Trên cơ sở đó, quy hoạch thành phố Đà Nẵng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác lập rõ cấu trúc không gian phát triển theo hướng tích hợp công nghiệp - công nghệ - thương mại - dịch vụ, làm nền tảng cho việc tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng hiện đại và bền vững.

Định vị khu công nghiệp trong chuỗi giá trị của nền kinh tế hiện đại

Cơ cấu kinh tế thành phố Đà Nẵng từng có thời kỳ nghiêng hẳn về du lịch - dịch vụ, tạo nên thành công rực rỡ của thương hiệu “đô thị đáng sống”, song mặt trái của nó là tính dễ tổn thương, độ nhạy cảm cao trước các cú sốc ngoại sinh và phụ thuộc thụ động vào chu kỳ thị trường.

Trong khi đó, khu vực công nghiệp tuy đã hình thành nền móng nhưng quy mô chưa đủ lực để đóng vai trò “đầu tàu”, đồng thời chưa tối ưu hóa được lợi thế không gian địa-kinh tế rộng lớn sau sáp nhập.

04-2.jpg
Công nhân Nhà máy Cao su Đà Nẵng vận hành dây chuyền sản xuất lốp Radial hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế_Ảnh: Vũ Quang Hùng

Đà Nẵng kiên quyết từ bỏ mô hình phát triển KCN như những “ốc đảo sản xuất” cô lập, thuần túy cung cấp hạ tầng. Thay vào đó, đặt KCN vào tâm điểm của một hệ sinh thái tích hợp với sự phân vai chặt chẽ.

Trong cấu trúc này, khu công nghệ cao đóng vai trò là “bộ não” đảm trách nghiên cứu và phát triển (R&D), tập trung thu hút các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mũi nhọn về bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và thiết bị thông minh.

Khu thương mại tự do giữ vai trò “huyết mạch” trung chuyển, logistics và kết nối toàn cầu. Còn các KCN chính là “cỗ máy” trực tiếp sản xuất, chuyển hóa tri thức và vốn thành hàng hóa quy mô lớn.

Hàng loạt siêu dự án mang tính biểu tượng được triển khai, trọng tâm là: KCN Hòa Ninh với quy mô 400ha, tổng vốn đầu tư 6.200 tỷ đồng; KCN Điện Tiến (khoảng 248,4ha, vốn khoảng 132,5 triệu USD); KCN phía Tây cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi diện tích khoảng 400ha, vốn khoảng 135 triệu USD; bổ sung hơn 648ha không gian công nghiệp với số vốn hạ tầng gần 6.600 tỷ đồng.

Sức mạnh của các KCN này càng nhân lên nếu kết nối trực tiếp với mạng lưới logistics quy mô khổng lồ khi thành phố dự kiến chấp thuận chủ trương đầu tư hạ tầng cho các FTZ số 2, 3 và 4 với tổng diện tích khoảng 910ha, vốn đăng ký lên tới 15.115 tỷ đồng.

Đặc biệt, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho Dự án Nhà máy điện khí LNG Hòa Ninh (công suất 1.500 MW, vốn đầu tư khoảng 40.493 tỷ đồng), tạo mảnh ghép quyết định để hấp dẫn các nhà đầu tư công nghệ và hạ tầng chiến lược như VSIP, DeepC, Hateco, WHA…

Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng (DSEZA) đặt mục tiêu vô cùng tham vọng: giai đoạn 2026 - 2027 sẽ đưa vào khai thác khoảng 250ha quỹ đất công nghiệp (bằng 20% diện tích các KCN được chấp thuận năm 2026).

Đáng kinh ngạc là chỉ trong 2 năm, diện tích đất đưa vào khai thác này tương đương khoảng 17% tổng quỹ đất công nghiệp tích lũy trong hơn 25 năm trước đó và dự kiến khả năng giải ngân vốn đầu tư khoảng 10.000 tỷ đồng/năm trong 5 năm tới.

Cấu trúc kinh tế thành phố sẽ được tái định hình hoàn toàn từ chỗ ngành công nghiệp chỉ chiếm khoảng 19% (quý I-2026), riêng khu vực do DSEZA quản lý mang trọng trách kéo tỷ trọng đóng góp của công nghiệp lên mức 25% vào cuối năm 2026, giữ vững mức tối thiểu 30% trong các năm tiếp theo.

Chính sự vượt trội về tốc độ chuyển hóa thực tế, quy mô đầu tư hạ tầng đa tầng và năng lực thay đổi nhanh chóng cấu trúc GRDP đã đưa KCN lên bệ phóng nền tảng, định đoạt sức mạnh và khả năng bứt tốc của nền kinh tế Đà Nẵng.

Bước ngoặt chuyển đổi mô hình chiến lược

Quyết định số 628/QĐ-TTg, ngày 6-4-2026, của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 đã định danh Đà Nẵng là trung tâm kinh tế - xã hội tầm cỡ quốc gia, đảm nhiệm vai trò nòng cốt về công nghệ số, đổi mới sáng tạo, tài chính và logistics đa phương thức.

Theo đó, tổ chức không gian sản xuất phải đóng vai trò “chất kết dính” các trung tâm chức năng này lại với nhau. Sự liên thông chặt chẽ khâu R&D từ khu công nghệ cao đến khâu vận tải từ FTZ cho phép Đà Nẵng sở hữu một chuỗi cung ứng khép kín, xóa bỏ tình trạng đứt gãy hoặc phụ thuộc bên ngoài.

Việc từ bỏ mô hình KCN chỉ thuần túy cung cấp hạ tầng để xây dựng hệ sinh thái công nghệ - công nghiệp - thương mại là một quyết sách “sinh tử”. Khi giá trị thặng dư của nền kinh tế đang dồn về hai đầu của chuỗi giá trị toàn cầu “Đường cong nụ cười” (Smile Curve) là “nghiên cứu - thiết kế và thương hiệu - phân phối”, việc bó hẹp trong không gian gia công giá rẻ sẽ đẩy địa phương vào bẫy thu nhập trung bình.

Chuỗi liên kết “ý tưởng - công nghệ - sản xuất - phân phối - thương mại” tại Đà Nẵng giữ lại tối đa phần giá trị gia tăng ở lại nội vùng, nâng cao năng suất lao động xã hội và bảo chứng cho thương hiệu địa phương trên bản đồ chuỗi cung ứng thế giới.

Sự hội tụ đa cực chức năng trong cùng một cấu trúc hành chính là lợi thế cạnh tranh tuyệt đối mà không nhiều đô thị tại Việt Nam hiện nay có được.

04-3.jpg
Khu công nghiệp Hòa Ninh là khu công nghiệp trọng điểm quy mô hơn 400ha được kỳ vọng trở thành cực tăng trưởng mới của thành phố_Ảnh: Vũ Quang Hùng

Không phát triển “nóng” bằng mọi giá

Cấu trúc dòng vốn tại Đà Nẵng được hoạch định theo một trật tự rõ ràng giữa kiến tạo hạ tầng và sản xuất. Định hướng này là bước triển khai hiệu quả mục tiêu Nghị quyết số 50-NQ/TW, ngày 20-8-2019, của Bộ Chính trị, về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030: “Chủ động thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài có chọn lọc... Ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, có tác động lan toả, kết nối chuỗi sản xuất toàn cầu”.

Ở cấp độ kiến tạo nền móng (sơ cấp), thành phố quy tụ những thương hiệu phát triển bất động sản công nghiệp hàng đầu khu vực và toàn cầu như: VSIP, Deep C, WHA, Thanh Bình Phú Mỹ, Hateco, Kita Group...

Giá trị thực sự của các tập đoàn này không phải vốn mà nằm ở mạng lưới khách hàng đa quốc gia, các bộ tiêu chuẩn quản trị ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) đóng vai trò như một phễu lọc và bảo chứng chất lượng, tự động lôi kéo các dòng vốn thứ cấp.

Ở cấp độ thứ cấp (sản xuất - dịch vụ), thành phố đón nhận các tên tuổi lớn công nghệ và logistics như UAC, Foxlink, KP, ICT Vina, cùng sự hợp lực của các tập đoàn quốc nội mạnh về hạ tầng dịch vụ đô thị như Sun Group, Futa biến KCN thành những tổ hợp công nghệ có hàm lượng giá trị chất xám cao, gắn vào chuỗi liên kết toàn cầu.

Tuy nhiên, nguyên tắc “bất di bất dịch của thành phố là từ chối thu hút bằng mọi giá. Các hàng rào kỹ thuật về môi trường, hiệu suất sử dụng tài nguyên và sức lan tỏa công nghệ được dựng lên nghiêm ngặt để đảm bảo chọn lọc dòng vốn FDI một cách tinh túy nhất.

Nhận diện các điểm nghẽn của động lực tăng trưởng

Thứ nhất, rào cản thủ tục hành chính: vòng lặp thẩm định dự án, phê duyệt quy hoạch và giao đất vẫn chịu sự cồng kềnh của quy trình nhiều tầng nấc. Trong thời đại ngày nay, sự chậm trễ sẽ tự loại mình khỏi cuộc đua giành giật các “đại bàng” FDI công nghệ cao.

Thứ hai, giới hạn về an ninh năng lượng: các ngành công nghiệp bán dẫn, trung tâm dữ liệu đòi hỏi nguồn điện liên tục, khổng lồ và cực kỳ ổn định. Dự án điện khí LNG Hòa Ninh (công suất dự kiến 1.500 MW) mang tính chất sống còn để bảo đảm huyết mạch năng lượng cho toàn bộ hệ sinh thái phía Tây.

Việc dự án này mới chỉ nằm trong danh mục nguồn điện dự phòng của Quy hoạch điện VIII là một “nút thắt” vô cùng rủi ro, cần được Trung ương xem xét bổ sung vị trí chính thức trong lộ trình phát điện quốc gia để xóa bỏ rào cản lo ngại của nhà đầu tư.

Thứ ba, sự thiếu minh bạch thông tin và phân cấp quyền lực: việc tra cứu dữ liệu địa hình, quy hoạch quy định chưa thông suốt đã ngốn đi lượng lớn thời gian chi phí cơ hội của doanh nghiệp. Đồng thời, cơ chế điều hành trực tiếp tại các ban quản lý KCN vẫn đang thiếu sự phân quyền triệt để, hạn chế năng lực phản ứng nhanh trước các biến động của thị trường.

Yêu cầu mang tính mệnh lệnh lúc này là phải coi cải cách thể chế như một “loại hạ tầng đặc biệt” để thực thi đột phá chiến lược, bám sát tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển... đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật”.

Quán triệt định hướng đó, việc thiết lập thực chất cơ chế “một cửa tại chỗ”, định danh rành mạch trách nhiệm và số hóa toàn diện quy trình thẩm định để tối ưu hóa quy trình hành chính, loại bỏ các rào cản trung gian không cần thiết là việc cấp bách.

KCN không đơn thuần là nơi tạo ra sản phẩm mà còn đảm nhiệm chức năng của một không gian hội tụ và chuyển hóa các nguồn lực phát triển. Sự hiện diện của cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế, khu phi thuế quan và hành lang đổi mới sáng tạo đã trao cho Đà Nẵng những lợi thế cạnh tranh đặc thù.

Hệ thống KCN lúc này đã vượt ra ngoài phạm vi mở rộng mặt bằng sản xuất. Đó chính là cuộc cách mạng tái cấu trúc nền tảng nền kinh tế, nâng cấp vị thế địa phương vào các mắt xích cao cấp của chuỗi cung ứng toàn cầu, bảo đảm tính bền vững và khả năng chống chịu trước các biến động thời cuộc. Khu công nghiệp đã, đang và sẽ phải là “nền tảng vận hành tăng trưởng” bất biến của đô thị Đà Nẵng./.

Vũ Quang Hùng, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng Ban quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp thành phố Đà Nẵng