Phát triển nguồn nhân lực nữ trong lĩnh vực khoa học - công nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh và hàm ý cho tỉnh Quảng Ninh
Suốt tiến trình xây dựng và phát triển, Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) luôn xác định, xây dựng nhân lực nữ trí thức nói chung, nhân lực nữ hoạt động trong lĩnh vực khoa học - công nghệ (KH-CN) nói riêng không chỉ hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, mà còn là nền tảng tiến tới bình đẳng giới, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Thông qua những cơ chế, chính sách sát đúng được thực thi, tỷ lệ nhân lực nữ hoạt động trong lĩnh vực KH-CN có xu hướng ngày càng tăng, góp phần vào sự phát triển chung của TPHCM; những kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn có thể là bài học để tỉnh Quảng Ninh tham khảo, vận dụng.

Những nét cơ bản về nhân lực nữ hoạt động trong lĩnh vực khoa học - công nghệ
Nhìn vào trong tiến trình phát triển hiện đại, KH-CN không chỉ tạo ra tri thức mới mà còn cung cấp công cụ, phương tiện, phương pháp để con người nhận thức và cải tạo thế giới, làm thay đổi căn bản cấu trúc của nền kinh tế và mô hình quản trị xã hội. Do đó, đối với mỗi quốc gia, KH-CN đóng vai trò rất quan trọng trong mọi lĩnh vực, là chìa khóa để chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu; là nền tảng của kinh tế tri thức và kinh tế số - xu hướng phát triển của kinh tế toàn cầu hiện nay.
Ở Việt Nam, sự phát triển của KH-CN trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, hội nhập quốc tế luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm và xem là nhiệm vụ hàng đầu, đặc biệt, chú trọng xây dựng, phát triển nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực KH-CN nói riêng. Bởi vì, trong mọi giai đoạn phát triển, con người là trung tâm của sự đổi mới, là động lực của sáng tạo, do đó, phát triển nguồn nhân lực KH-CN không chỉ là yêu cầu khách quan, mà còn là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa các chiến lược phát triển.
Thực tiễn cho thấy, suốt quá trình xây dựng, phát triển đất nước, nguồn nhân lực trí thức nói chung, nguồn nhân lực nữ hoạt động trong lĩnh vực KH-CN nói riêng đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng, cung cấp các luận cứ khoa học giúp Đảng và Nhà nước xác định đúng đắn đường lối chiến lược, cơ chế, chính sách… Và cũng chính đội ngũ này, đã góp phần đào tạo, bồi dưỡng, thu hút tài năng khoa học trẻ, xây dựng nên những thế hệ đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học giỏi, góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Theo nhiều công trình nghiên cứu, dù có nhiều tiến bộ đáng kể, nhưng tỷ lệ nữ hoạt động trong lĩnh vực KH-CN chưa cao so với nam giới, mặc dù Đảng luôn dành sự quan tâm bằng chủ trương, đường lối và được Nhà nước cụ thể hóa thành các chính sách, quy định pháp luật. Điều này, thể hiện rõ qua số lượng nữ giới tham gia vào các công việc, nhiệm vụ, cũng như tỷ lệ nữ nắm giữ vị trí lãnh đạo trong các đơn vị, ngành, lĩnh vực liên quan đến khoa học, kỹ thuật và công nghệ.
Đánh giá một cách khái quát cho thấy, dù đối mặt với những rào cản, nhất là sức khỏe, thể chất, tư tưởng định kiến về giới, việc cân bằng sự nghiệp và gia đình; cơ chế, chính sách đãi ngộ cho nhà khoa học nữ còn nhiều hạn chế; quy định về độ tuổi quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ nữ hiện nay cũng gây khó khăn cho cán bộ nữ nói chung, cán bộ nữ KH-CN nói riêng. Tuy nhiên, nguồn nhân lực nữ đã có nhiều đóng góp tích cực, quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Phát triển nhân lực nữ hoạt động trong lĩnh vực khoa học - công nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trong quá trình xây dựng và phát triển, TPHCM là địa phương luôn thể hiện tư duy phát triển năng động, sáng tạo, tiên phong, đi đầu trong công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước. Cách đây 25 năm, TPHCM đã lấy công nghệ thông tin làm công cụ hữu hiệu tạo lập phương thức, động lực quan trọng phát triển kinh tế tri thức, nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững.
Trong tiến trình ấy, TPHCM đã đề ra nhiều cơ chế, chính sách đột phá, tạo môi trường thuận lợi để đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức nói chung, nữ trí thức nói riêng tham gia vào các lĩnh vực STEM (KH-CN, kỹ thuật và toán học). Đặc biệt, khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra nhanh chóng, tác động sâu rộng, đa chiều trên phạm vi toàn cầu, trở thành xu thế mang tính khách quan, tất yếu đối với sự phát triển kinh tế, quản trị xã hội, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia, TPHCM đón nhận với tinh thần năng động, sáng tạo và vận dụng mô hình tăng trưởng lấy KH-CN và đổi mới sáng tạo làm động lực tăng trưởng chủ yếu. Điểm nhấn rõ nét là từ năm 2010 đến nay, tại TPHCM xu hướng nữ giới tham gia các nhóm nghiên cứu KH-CN cao, trí tuệ nhân tạo, y học, sinh học, khoa học dữ liệu… ngày càng tăng.
Bên cạnh đó, TPHCM là địa phương tiên phong triển khai các chương trình thúc đẩy bình đẳng giới trong đào tạo nhân lực KH-CN, cũng từ năm 2010 đến nay, Sở KH và CN TPHCM đã phối hợp với nhiều trường đại học, tổ chức quốc tế và doanh nghiệp triển khai các khóa đào tạo STEM dành cho nữ sinh viên và học sinh; các cuộc thi sáng tạo khoa học dành cho nữ sinh trung học, các chương trình cố vấn dành cho nữ sinh khởi nghiệp trong lĩnh vực KH-CN, nổi bật là: Chương trình “SheCodes” của Trường Đại học Công nghệ thông tin thuộc Đại học quốc gia TPHCM; chương trình học bổng và giải thưởng L’Oreal - UNESCO vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học; triển khai hiệu quả hoạt động mạng lưới hỗ trợ nữ khởi nghiệp công nghệ trong khuôn khổ đề án 844 của Chính phủ; hội nghị “Nữ sinh và STEM 2025” và cuộc thi sáng tác truyền thống số: Nữ giới trong STEM - Sáng tạo không kém… trở nên sôi nổi và mang lại hiệu quả thiết thực.
Theo Niên giám thống kê TPHCM năm 2023, TPHCM có 8.244 người đang làm việc trong các tổ chức KH-CN thuộc TPHCM quản lý, trong đó, nhân lực nữ chiếm 46%. Nhân lực nữ trong các tổ chức KH-CN chủ yếu được đào tạo 2 lĩnh vực: khoa học kỹ thuật và công nghệ, chiếm 32,4% và khoa học xã hội, chiếm 26,9%; tỷ lệ nữ có trình độ sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) trong lĩnh vực KH-CN có xu hướng tăng rõ rệt, điển hình là Đại học Quốc gia TPHCM, Trường Đại học Văn Lang đều ghi nhận tỷ lệ nữ giảng viên là nhà khoa học tùy theo lĩnh vực chuyên môn dao động từ 25% - 45%.
Trong các ngành khoa học tự nhiên, môi trường, sinh học ứng dụng, y sinh và công nghệ thực phẩm… đội ngũ nữ trí thức chiếm khoảng 45% trong tổng số giảng viên khối STEM, hơn 50% học viên sau đại học thuộc các ngành công nghệ sinh học, y học; nhiều người là chủ nhiệm đề tài nghiên cứu cấp bộ, cấp thành phố hoặc giữ vị trí lãnh đạo phòng nghiên cứu, thí nghiệm chuyên sâu; có hơn 150 nhóm nghiên cứu khoa học do các nhà nghiên cứu nữ dẫn dắt, trong đó có 38 nhóm đã có công bố quốc tế ISI/Scopus giai đoạn 2018 - 2023. Và dù, tỷ lệ nữ trong các ngành kỹ thuật, công nghệ cao như cơ điện tử, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, blockchain và khoa học dữ liệu… còn khiêm tốn, nhưng đã xuất hiện những gương mặt tiêu biểu, đó là nữ tiến sĩ trẻ, kỹ sư nữ trưởng các dự án hoặc nhà sáng lập startup công nghệ tại Khu công nghệ cao TPHCM.
Ngoài ra, TPHCM có nhiều nữ trí thức tiêu biểu đã, đang giữ vai trò lãnh đạo tại các viện, trường, trung tâm nghiên cứu, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực KH-CN; điểm đáng nghi nhận, có không ít trong số họ đã được vinh danh với các giải thưởng cao quý như: Giải thưởng Kovalevskaia, Giải thưởng L’Oreal - UNESCO vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học, Giải trưởng Trần Đại Nghĩa, Giải thưởng Sáng tạo TPHCM… Dự báo, đến hết năm 2025, đội ngũ nữ giảng viên có thể đạt 30% - 40% tổng số giảng viên hoạt động tại các trường đại học thuộc khối STEM ở TPHCM, trong đó, tỷ lệ có học hàm phó giáo sư, giáo sư sẽ gia tăng, nhất là trong các ngành công nghệ sinh học, hóa học, môi trường, công nghệ thực phẩm, công nghệ thông tin.
Mặc dù nhân lực nữ ở TPHCM cũng phải đối diện với những khó khăn, thách thức như nhân lực nữ các địa phương khác, nhưng với sự quan tâm thông qua các cơ chế, chính sách sát đúng, nhân lực nữ trí thức nói chung, nhân lực nữ hoạt động trong lĩnh vực KH-CN của TPHCM ngày càng có xu hướng tăng; đồng thời không ngừng thể hiện, khẳng định năng lực, vị thế của mình không chỉ giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất và năng suất lao động, mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và tăng cường năng lực cạnh tranh của Thành phố. Chính vì vậy, những thành quả TPHCM đạt được trong thời gian qua đều có dấu ấn đậm nét của nhân lực nữ, với nhiều công trình nghiên cứu khoa học tạo ảnh hưởng vượt ngoài phạm vi quốc gia, được công nhận bằng các giải thưởng trong nước và quốc tế.
Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn
Xuất phát từ thực tiễn, với những dấu ấn nổi bật đạt được trong quá trình phát triển nguồn nhân lực nữ trí thức nói chung, nhân lực nữ hoạt động trong lĩnh vực KH-CN tại TPHCM đã đúc rút ra một số kinh nghiệm như sau:
Một là, thấm nhuần sâu sắc lời di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”([1]). Theo đó, sự quan tâm sâu sắc của Thành ủy, sự chủ động của Hội đồng nhân dân TPHCM trong việc nghiên cứu, xây dựng, ban hành kịp thời các chính sách, chủ trương liên quan đến phụ nữ, bình đẳng giới, theo đó, khích lệ, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Hai là, nhờ sớm thấy vai trò của KH-CN là công cụ hữu hiệu trong việc tạo lập phương thức, động lực quan trọng phát triển kinh tế tri thức, nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững, nên Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng bộ TPHCM, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã đề ra chủ trương: “Phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội gắn với phát triển kinh tế tri thức”. Nhờ đó, nhiều cơ chế, chính sách phát KH-CN và đổi mới sáng tạo của Thành phố ngày càng được hoàn thiện và đó cũng là cơ hội, điều kiện để phát triển nhân lực nữ KH-CN đáp ứng xu thế phát triển.
Ba là, trong hệ thống giáo dục đại học, viện nghiên cứu, trung tâm KH-CN không chỉ liên kết, hình thành đội ngũ giảng viên, nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực STEM; mà còn mở mở rộng phát triển hệ thống giáo dục đại học, nhất là tại các trường đại học trọng điểm như Đại học Quốc gia TPHCM, Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Bách khoa, Đại học Y dược… nơi có số lượng nữ giảng viên có học vị tiến sĩ, thạc sĩ ngày càng tăng.
Bốn là, ban hành kịp thời những cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện trong nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học, hay các chương trình học bổng trong và ngoài nước đã khích lệ, thu hút nữ giảng viên tiếp cận, tích cực tham gia sâu hơn vào các hoạt động học thuật. Đồng thời, tổ chức các chương trình bình đẳng giới trong đào tạo và phát triển nhân lực nữ trong hoạt động KH-CN gắn với việc khuyến khích, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên, giảng viên, nhà khoa học nữ tham gia vào các cuộc thi sáng tạo trong lĩnh vực KH-CN, cũng như mạnh dạn giao cho họ làm chủ nhiệm những dự án, công trình mà họ có thể đảm nhận được.
Năm là, phát huy vai trò của Hội phụ nữ trong việc xây dựng tổ chức hội vững mạnh là then chốt, quyết định mọi vấn đề. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ, năng lực, kỹ năng làm việc cho đội ngũ cán bộ hội từ thành phố đến cơ sở phải được thường xuyên thực hiện, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ hội năng động, vừa giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, vừa có kỹ năng công tác vận động quần chúng, công tác phụ nữ... Qua đó, thực hiện tốt chức năng tập hợp rộng rãi phụ nữ các giới, bên cạnh việc phát triển hệ thống hội, củng cố các mô hình, câu lạc bộ, đội, nhóm, cần quan tâm tính “liên hiệp” để phát triển các tổ chức thành viên, liên tịch, liên kết, phối hợp hoạt động với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và cả các doanh nghiệp hướng đến phát triển nhân lực nữ, nhất là nhân lực nữ hoạt động trong lĩnh vực KH-CN.
Một số hàm ý cho tỉnh Quảng Ninh
Trong bức tranh chung về phát triển nhanh và bền vững chủ yếu dựa vào KH-CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, tỉnh Quảng Ninh nổi lên như một điểm sáng. Để góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa sự tham gia và khẳng định vai trò của nhân lực nữ hoạt động trong lĩnh vực KH-CN, xuất phát từ những bài học kinh nghiệm của TPHCM, chúng tôi gợi mở một số giải pháp để tỉnh Quảng Ninh có thể tham khảo, vận dụng với mục tiêu không chỉ xây dựng được một nguồn nhân lực nữ hoạt động trong lĩnh vực KH-CN; mà còn tạo điều kiện thuận lợi để họ có thêm cơ hội phát huy năng lực, sáng tạo, cống hiến nhiều hơn nữa cho sự nghiệp phát triển KH-CN và đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Một là, tỉnh Quảng Ninh cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, chính sách về phát triển nhân lực nữ hoạt động trong lĩnh vực KH-CN một cách cụ thể và mang tính định hướng dài hạn. Trước mắt, có thể xem xét ban hành chương trình hành động riêng về phát triển nữ giới trong các ngành công nghiệp công nghệ cao, tích hợp vào quan điểm, chủ trương và chiến lược phát triển KH-CN của tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045. Theo đó, các cơ chế, chính sách cần gắn với mục tiêu cụ thể về tỷ lệ nữ trong nghiên cứu, giảng dạy, đổi mới sáng tạo, nhất là trong các lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm như công nghệ thông tin, chuyển đổi số, kỹ thuật số, công nghệ sinh học…
Hai là, chủ động đẩy mạnh đầu tư cho các chương trình giao dục STEM cho nữ sinh từ bậc phổ thông đến đại học, trong đó, xem trọng đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy lồng ghép với việc trải qua các mô hình, trực tiếp trao đổi, thảo luận với các nữ giảng viên, chuyên gia nghiên cứu, nhà lãnh đạo… tiêu biểu, xuất sắc. Đồng thời, mở rộng chương trình học bổng, bồi dưỡng chuyên sâu gắn với trải nghiệm thực tập thực tế tại các trung tâm nghiên cứu, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực KH-CN và đổi mới sáng tạo.
Ba là, nghiên cứu, xây dựng các chương trình hỗ trợ cho nhân lực nữ khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới công nghệ với nhưng cơ chế, chính sách ưu tiên, khuyến khích rõ ràng, hấp dẫn, như ưu đãi tiếp cận vốn đầu tư, tập huấn, kết nối thị trường và kỹ năng quản trị doanh nghiệp KH-CN; xây dựng chương trình, quy định bảo lãnh tín dụng vi mô cho phụ nữ khi tham gia vào lĩnh vực KH-CN và đổi mới sáng tạo. Theo đó, cần chú trọng đánh giá đúng thực chất, hiện trạng nữ giới tham gia học tập, nghiên cứu trong lĩnh vực STEM; đánh giá tính hiệu quả các cơ chế, chính sách hỗ trợ nhân lực nữ trong từng ngành cụ thể như KH-CN, kỹ thuật, toán học, công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu.
Bốn là, xây dựng, quản lý hệ thống dữ liệu giới trong hoạt động lĩnh vực KH-CN nhằm phục vụ cho công tác đánh giá tác động giới trong các chương trình KH-CN và đổi mới sáng tạo; làm căn cứ để ban hành các cơ chế, chính sách trong việc phát triển nguồn nhân lực nữ cho lĩnh vực lĩnh vực KH-CN và đổi mới sáng tạo. Để hiện thực hóa việc này thuận lợi, cần sự hợp tác, liên kết chặt chẽ giữ Sở KH và CN với các trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm KH-CN và các tổ chức xã hội dân sự về giới.
Năm là, phát huy vai trò của hội phụ nữ, tổ chức xã hội nghề nghiệp trong việc kết nối, đào tạo, bảo vệ quyền và lợi ích nhằm tạo điều kiện, nâng cao vị thế, vai trò của nhân lực nữ hoạt động trong lĩnh vực KH-CN. Cùng với việc tôn vinh các nhân lực nữ là giảng viên, nhà nghiên cứu, nhà khoa học và nhà lãnh đạo, quản lý, cần tổ chức tốt các diễn đàn học thuật, hội thảo chính sách, cuộc thi sáng tạo trong lĩnh vực KH-CN và tăng cường giao các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học… nhằm tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên, giảng viên, nhà khoa học nữ tham gia và là điều kiện cho họ kết nối tri thức giữa các thế hệ./.
([1])Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 15, tr. 617
