Phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và thu hút nhân tài: Khâu đột phá chiến lược cho tỉnh Quảng Ninh

Mở đầu
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khoa học, công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST) đã trở thành động lực trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội. Tại Việt Nam, chủ trương này được khẳng định là “quốc sách hàng đầu”, trong đó Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” nhấn mạnh yêu cầu cấp bách về phát triển nhân lực KHCN chất lượng cao và cơ chế đặc thù thu hút, trọng dụng nhân tài.
Tỉnh Quảng Ninh đang trong tiến trình chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, xác định phát triển nguồn nhân lực KHCN chất lượng cao và thu hút nhân tài là khâu đột phá chiến lược. Trong bối cảnh đó, Trường Đại học Hạ Long, với vai trò là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của tỉnh, giữ vị trí hạt nhân trong việc thực thi nhiệm vụ này.
Tham luận đi sâu phân tích thực trạng và các “điểm nghẽn” trong phát triển nguồn nhân lực KHCN chất lượng cao tại Quảng Ninh - yếu tố đột phá chiến lược cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Bài viết nhấn mạnh vai trò hạt nhân của Trường Đại học Hạ Long nhưng cũng chỉ ra những bất cập trong năng lực nghiên cứu và chính sách thu hút nhân tài. Trên cơ sở đó, các nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất, tập trung vào cơ chế đãi ngộ đặc thù, đầu tư nâng cao năng lực cho trường và hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo “bốn nhà”.
Cơ sở lý luận và thực tiễn
Nhân lực KHCN là lực lượng trực tiếp tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao và đổi mới công nghệ, qua đó tạo ra tri thức mới, sản phẩm mới, góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra, trong tăng trưởng kinh tế hiện đại, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chiếm tới 35% - 40% giá trị gia tăng. Nhân lực KHCN vì thế được coi là “nguồn vốn đặc biệt”, đóng vai trò then chốt quyết định sức mạnh cạnh tranh, khả năng hội nhập và vị thế quốc gia.
Bên cạnh đó, việc thu hút và trọng dụng nhân tài, đặc biệt là các chuyên gia đầu ngành và nhà khoa học quốc tế còn giúp các quốc gia, địa phương rút ngắn khoảng cách phát triển, tạo sức bật đột phá trong những lĩnh vực mũi nhọn.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, phát triển và thu hút nhân lực KHCN là hướng đi tất yếu để đạt được sự phát triển bền vững. Singapore từ những năm 1990 đã triển khai chiến lược “Global Schoolhouse”, tạo dựng môi trường học tập và nghiên cứu hấp dẫn nhằm thu hút nhân tài toàn cầu, đồng thời đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục cũng như nghiên cứu và phát triển (R&D).
Một trường hợp khác, Hàn Quốc thành công trong việc xây dựng các “Công viên khoa học - công nghệ” (Science Parks), hình thành mối liên kết chặt chẽ giữa đại học - doanh nghiệp - Nhà nước, qua đó tạo nên đội ngũ nhân lực công nghệ cao phục vụ các tập đoàn công nghiệp hàng đầu, như Samsung, LG, Hyundai.
Tại Việt Nam, nhiều địa phương cũng đã triển khai các chính sách sáng tạo trong phát triển nhân lực KHCN. Ví dụ: Thành phố Hồ Chí Minh ban hành chính sách “trải thảm đỏ” để thu hút các chuyên gia, nhà khoa học giỏi; Hà Nội thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ nhằm hỗ trợ trực tiếp cho các nhà khoa học có công trình xuất sắc; Đà Nẵng đi đầu trong việc xây dựng Đề án “Thành phố thông minh”, gắn liền với đào tạo nhân lực số, coi đây là động lực để trở thành trung tâm công nghệ thông tin và ĐMST của miền Trung…
Những kinh nghiệm này gợi mở cho Quảng Ninh trong quá trình hoạch định chính sách và triển khai chiến lược phát triển nguồn nhân lực KHCN.
Trong năm 2025, bám sát tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều văn bản chỉ đạo triển khai như: Chương trình hành động số 46-Ctr/TU ngày 15-01-2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Kế hoạch hành động số 538-KH/TU, ngày 19-5-2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Kế hoạch số 138/KH-UBND, ngày 21-5-2025 của UBND tỉnh Quảng Ninh…
Các văn bản này đã cụ thể hóa các mục tiêu, khẳng định KHCN, ĐMST và chuyển đổi số, gắn liền với phát triển nguồn nhân lực KHCN chất lượng cao và thu hút nhân tài là khâu đột phá chiến lược để tỉnh Quảng Ninh hiện thực hóa tầm nhìn 2045 trở thành tỉnh phát triển toàn diện, bền vững, có sức cạnh tranh quốc tế.
Thực trạng phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và thu hút nhân tài ở tỉnh Quảng Ninh
Những kết quả đạt được
Theo báo cáo năm 2024, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh Quảng Ninh đạt trên 85%, trong đó 35% lao động có bằng cấp, chứng chỉ - cao nhất cả nước. Đây là chỉ số cho thấy Quảng Ninh không chỉ chú trọng về quy mô đào tạo mà còn quan tâm đến chất lượng và cơ cấu nhân lực, hướng tới đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động và các ngành kinh tế mũi nhọn.
Hệ thống các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh đã có nhiều bước phát triển, đóng góp tích cực cho sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao. Trong đó, Trường Đại học Hạ Long - cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc UBND tỉnh - giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo và cung ứng nhân lực chất lượng cao.
Với quy mô đào tạo hơn 10.000 sinh viên chính quy, nhà trường được định hướng tập trung vào các lĩnh vực mũi nhọn như du lịch, văn hóa, công nghệ thông tin, thủy sản, kinh tế biển. Đội ngũ giảng viên khoảng 400 người làm việc, trong đó có 06 phó giáo sư, 40 tiến sĩ, 30 NCS. Đây là lực lượng quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường.
Công tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, khởi nghiệp ĐMST cũng được đẩy mạnh, góp phần quan trọng vào việc hình thành hệ sinh thái nhân lực KHCN cho tỉnh. Giai đoạn 2020 - 2025, nhà trường đã triển khai nhiều nhiệm vụ khoa học các cấp triển khai nghiên cứu và nghiệm thu, hơn 300 nhiệm vụ khoa học của giảng viên, (trong đó: 01 nhiệm vụ cấp quốc gia, 06 nhiệm vụ cấp tỉnh, 03 nhiệm vụ cấp sở và 18 nhiệm vụ theo đơn đặt hàng doanh nghiệp, có 04 mô hình công nghệ đã được chuyển giao, ứng dụng vào thực tiễn các địa phương.
Nhà trường đã triển khai biên soạn hơn 200 tài liệu dạy học, sách, giáo trình; gần 200 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên (nhiều đề tài xuất sắc đã được gửi tham gia xét giải và đạt giải sinh viên nghiên cứu khoa học cấp bộ). Kết quả nghiên cứu không chỉ phục vụ nâng cao năng lực giảng dạy mà còn đáp ứng nhu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, giảng viên của trường đã công bố gần 1.000 bài báo khoa học, trong đó có gần 70 bài thuộc hệ thống ISI/Scopus. Song song đó, nhà trường đã xuất bản 18 số Tạp chí Khoa học Đại học Hạ Long.
Đặc biệt đến năm 2027, Tạp chí được Hội đồng Giáo sư Nhà nước công nhận tính điểm cho 08 ngành/liên ngành. Không chỉ chú trọng nghiên cứu, nhà trường còn đi đầu trong thúc đẩy khởi nghiệp và ĐMST. Năm 2024, Trung tâm Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo chính thức ra đời, trở thành nơi ươm mầm và kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp, với hơn 20 doanh nghiệp đồng hành.
Hoạt động hợp tác quốc tế tích cực được mở rộng, Trường Đại học Hạ Long đã tham gia 04 dự án nghiên cứu trong khuôn khổ hợp tác với Liên minh châu Âu và Đức[1], qua đó tạo cơ hội cho cán bộ, giảng viên, sinh viên được tiếp cận với tri thức và công nghệ tiên tiến.
Đặc biệt, dự án hợp tác quốc tế REVFIN, nhà trường đã cử 04 cán bộ, giảng viên và 06 sinh viên tham gia các chương trình tập huấn về công nghệ tái chế rác thải lưới ngư cụ và công tác truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về tài nguyên môi trường tại Trường Đại học Ostfalia, CHLB Đức... Ngoài ra, nhà trường có nhiều giảng viên đi học thạc sĩ và nghiên cứu sinh tại các trường đại học nước ngoài.
Một số hoạt động KHCN của nhà trường có sự hỗ trợ, tư vấn của các tổ chức, cơ sở giáo dục và chuyên gia quốc tế. Ví dụ: năm 2023, GS. TS. Robert Godwin-Jones, chuyên gia Anh ngữ cao cấp của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã tập huấn phát triển chuyên môn cho các cán bộ, giảng viên của nhà trường những năng lực cần thiết về trí tuệ nhân tạo (AI).
Năm 2024, nhà trường thành lập Nhóm nghiên cứu liên ngành môi trường, thủy sản và phát triển bền vững; có thành viên là các nhà khoa học nòng cốt, nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Hạ Long, Đại học Quốc gia và Viện Công nghệ Kitami của Nhật Bản (đại diện là GS. Katsuaki Komai), với mục tiêu phát triển đội ngũ nghiên cứu, từ đó có những nghiên cứu mũi nhọn, thu hút nhân lực nghiên cứu trình độ cao, định hướng nghiên cứu có trọng điểm và hiệu quả lâu dài của nhà trường nói riêng và của tỉnh Quảng Ninh nói chung về thu giữ carbon, sản xuất nhiên liệu sinh học/vật liệu sinh học từ chất thải nông nghiệp; đồng thời cũng giúp huy động được các trang thiết bị máy móc của các trường, viện nghiên cứu phối hợp trong các nhóm nghiên cứu.
Nhà trường đã phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh tổ chức tập huấn, phổ biến kiến thức về năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa cho các cán bộ, giảng viên, sinh viên của nhà trường. Năm 2024, tham dự Hội nghị tập huấn xây dựng và bảo vệ nhãn hiệu tại Việt Nam và một số thị trường xuất khẩu trọng điểm do Trường Đại học Ngoại thương - cơ sở Quảng Ninh phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức.
Những kết quả trên khẳng định vai trò của Trường Đại học Hạ Long trong phát triển nguồn nhân lực KHCN, góp phần tạo tiền đề để hiện thực hóa mục tiêu đưa Quảng Ninh trở thành tỉnh phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.
Một số khó khăn
Bên cạnh những thành tựu nổi bật, thực tế phát triển nguồn nhân lực KHCN và thu hút nhân tài tại Quảng Ninh còn đối diện nhiều khó khăn, thách thức như sau: Chưa hình thành được nhóm nghiên cứu mạnh hoặc trung tâm đổi mới sáng tạo quy mô lớn mang tầm quốc gia, quốc tế.
Các hoạt động nghiên cứu, ĐMST chủ yếu mới dừng lại ở quy mô vừa và nhỏ, phân tán, chưa tạo được những công trình khoa học có tầm ảnh hưởng lớn. Quỹ đầu tư cho nghiên cứu KHCN và khởi nghiệp ĐMST còn khiêm tốn, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, trong khi nguồn vốn xã hội hóa và đầu tư mạo hiểm chưa phát triển.
Tỷ lệ cán bộ KHCN có trình độ cao (tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư) của tỉnh còn thấp so với yêu cầu. Ngay tại Trường Đại học Hạ Long - cơ sở giáo dục đại học chủ lực của tỉnh - số giảng viên có trình độ tiến sĩ mới đạt 16,5%, thấp hơn so với chuẩn tối thiểu 30% mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra cho các cơ sở giáo dục đại học. Điều này ảnh hưởng đến khả năng nâng cao chất lượng nghiên cứu chuyên sâu.
Cơ chế thu hút nhân tài tuy đã có (Nghị quyết số 57/NQ-HĐND ngày 17-7-2025 của HĐND tỉnh quy định về chính sách thu hút, hỗ trợ nhân lực về KHCN, ĐMST và chuyển đổi số trong các cơ quan của hệ thống chính trị thuộc tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2025 - 2030) nhưng chưa đủ hấp dẫn, nhất là đối với nhóm đối tượng tri thức trẻ, chuyên gia được đào tạo ở nước ngoài, đặc biệt, không có đối tượng thu hút, hỗ trợ dành cho Trường Đại học Hạ Long.
Hiện nay, tại Trường Đại học Hạ Long, kinh phí chi cho chế độ hỗ trợ chủ yếu dựa vào nguồn kinh phí tiết kiệm của nhà trường. Đối với người đi học NCS nhà trường hỗ trợ học phí, công tác phí, và thưởng khi nhận bằng là 300 triệu/NCS). Cùng với đó, hằng tháng nhà trường hỗ trợ ngoài lương giảng viên có trình độ tiến sĩ là 4 triệu/1 tháng/1 TS, mức này chưa đủ sức hấp dẫn để thu hút, tuyển dụng, giữ chân nhân lực chất lượng cao về KHCN, ĐMST làm việc tại trường.
Giải pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và thu hút nhân tài ở tỉnh Quảng Ninh
Để thực sự biến nguồn nhân lực KHCN và nhân tài trở thành khâu đột phá chiến lược của Quảng Ninh trong giai đoạn mới, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp.
Một là, xây dựng chính sách đột phá về thu hút và trọng dụng nhân tài KHCN nhất là các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ chiến lược (trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, chip bán dẫn,...), có khả năng thúc đẩy sự sáng tạo và dẫn dắt các ngành công nghiệp nền tảng, mũi nhọn (cơ khí chế tạo, năng lượng mới, năng lượng tái tạo, công nghiệp bán dẫn, công nghiệp công nghệ số...), tạo động lực mạnh mẽ, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, một trong những rào cản lớn hiện nay là chính sách đãi ngộ chưa đủ hấp dẫn để thu hút, tuyển dụng và giữ chân chuyên gia giỏi. Do đó, cần có cơ chế đặc thù, vượt trội, đủ sức hút để tuyển dụng, sử dụng và trả lương, thù lao nghiên cứu cho nhân lực KHCN theo nguyên tắc cạnh tranh thị trường, tiệm cận chuẩn khu vực.
Cần tạo môi trường làm việc thuận lợi, hỗ trợ về nhà ở, đi lại, điều kiện nghiên cứu và phát triển nghề nghiệp để nhân tài yên tâm gắn bó lâu dài. Cơ chế hợp đồng linh hoạt, mời gọi chuyên gia trong và ngoài nước theo mô hình “đặt hàng kết quả”.
Hai là, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nhân lực KHCN. Đào tạo phải đi trước một bước, gắn với nhu cầu phát triển thực tiễn. Cần đầu tư xây dựng Trường Đại học Hạ Long trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học trọng điểm của vùng Đông Bắc, có năng lực ngang tầm với các trường đại học lớn trong nước.
Mở rộng hợp tác giữa các cơ sở đào tạo trong tỉnh với các cơ sở đào tạo, trường đại học hàng đầu trong cả nước, khu vực và quốc tế. Các chương trình đào tạo liên thông, trao đổi sinh viên, giảng viên, thực tập doanh nghiệp phải được thúc đẩy nhằm rút ngắn khoảng cách về chất lượng nguồn nhân lực.
Ba là, xây dựng và phát triển hệ sinh thái KHCN và ĐMST. Một hệ sinh thái KHCN đầy đủ bao gồm: viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ, trung tâm khởi nghiệp, vườn ươm và quỹ đầu tư.
Hình thành các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo cấp tỉnh trong những lĩnh vực mũi nhọn như công nghệ biển, năng lượng tái tạo, công nghệ thông tin, công nghiệp văn hóa và du lịch thông minh. Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp địa phương tham gia mạnh mẽ vào R&D, tạo sự gắn kết “bốn nhà”: Nhà nước - nhà trường - nhà khoa học - nhà doanh nghiệp.
Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển nhân lực KHCN. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, thu hút nhân tài không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia.
Xây dựng các chương trình hợp tác quốc tế dài hạn với các đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ lớn tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, châu Âu. Các dự án như MOTIVE, VIETMUS, REVFIN, DEVICES mà Trường Đại học Hạ Long đã tham gia là minh chứng rõ ràng cho hiệu quả của hợp tác quốc tế trong nâng cao năng lực nhân lực KHCN.
Việc mở rộng các mô hình này sẽ giúp tỉnh tiếp cận tri thức mới, công nghệ tiên tiến, đồng thời tạo cơ hội thu hút chuyên gia quốc tế đến làm việc, giảng dạy và nghiên cứu tại tỉnh Quảng Ninh.
Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong phát triển nhân lực KHCN. Chuyển đổi số vừa là công cụ, vừa là mục tiêu trong phát triển nhân lực KHCN.
Tỉnh Quảng Ninh cần sớm hoàn thiện hạ tầng dữ liệu số về nhân lực KHCN, xây dựng cơ sở dữ liệu nhân tài liên thông từ tỉnh đến các sở, ngành, cơ sở đào tạo.
Đồng thời, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn để phân tích, dự báo nhu cầu nhân lực, từ đó định hướng đào tạo và tuyển dụng hiệu quả hơn, tiến tới hình thành sàn giao dịch nhân lực KHCN trực tuyến, kết nối giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và chính quyền.
Sáu là, phát triển cơ chế đặt hàng nghiên cứu và hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo. Một hạn chế lớn hiện nay là thiếu gắn kết giữa nghiên cứu và ứng dụng.
Để khắc phục, tỉnh cần xây dựng cơ chế đặt hàng nghiên cứu KHCN từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và chính quyền, coi đây là kênh chủ lực để thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Bên cạnh đó, cần phát triển Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo của tỉnh Quảng Ninh, với sự tham gia của ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và các nhà đầu tư tư nhân, nhằm hỗ trợ vốn, tư vấn, pháp lý cho các dự án khởi nghiệp công nghệ cao.
Bảy là, chú trọng bồi dưỡng thế hệ trẻ và xây dựng văn hóa trọng dụng nhân tài. Phát triển nhân lực KHCN phải gắn với việc phát hiện, nuôi dưỡng và bồi dưỡng nhân tài trẻ.
Có chính sách học bổng dành cho học sinh, sinh viên xuất sắc, có cam kết quay trở về phục vụ tỉnh sau khi hoàn thành việc học tập ở trong và ngoài nước.
Đồng thời, cần xây dựng văn hóa xã hội tôn vinh và trọng dụng nhân tài, coi nhân lực KHCN là vốn quý của tỉnh, qua đó khơi dậy niềm tự hào, tinh thần cống hiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học.
Kết luận
Có thể khẳng định, phát triển nguồn nhân lực KHCN và thu hút nhân tài chính là khâu đột phá chiến lược để Quảng Ninh thực hiện thành công mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là tầm nhìn dài hạn, quyết định vị thế và sức cạnh tranh của tỉnh.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, tỉnh Quảng Ninh cần sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Trung ương và Chính phủ thông qua việc ban hành và cho phép áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù về tuyển dụng, đãi ngộ và sử dụng nhân lực KHCN, trong đó ưu tiên tạo điều kiện để địa phương có thể chủ động mời gọi, trọng dụng các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước.
Đồng thời, tỉnh cần tiếp tục hoàn thiện chính sách về đầu tư cho nghiên cứu KHCN, ĐMST, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghệ, qua đó tạo môi trường thuận lợi để nhân lực KHCN phát huy tối đa năng lực.
Trong tiến trình này, Trường Đại học Hạ Long có vai trò tiên phong với tư cách là trung tâm đào tạo, nghiên cứu và kết nối tri thức của tỉnh. Nhà trường cần được đầu tư để trở thành hạt nhân trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, là địa chỉ thu hút và nuôi dưỡng nhân tài, đồng thời là cầu nối hợp tác quốc tế, đưa Quảng Ninh hội nhập sâu vào mạng lưới tri thức toàn cầu.
Với sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự hỗ trợ của Trung ương và nỗ lực tự thân, tỉnh Quảng Ninh hoàn toàn có thể trở thành điểm đến hấp dẫn của nhân lực KHCN và nhân tài, qua đó hiện thực hóa khát vọng phát triển phồn vinh, bền vững trong kỷ nguyên mới./.
1- Dự án MOTIVE: Theo dõi tình trạng việc làm của sinh viên Việt Nam sau khi tốt nghiệp do quỹ Eramus+ của Liên minh châu Âu tài trợ; 2- Dự án VIETMUS: Thúc đẩy đào tạo âm nhạc trong các trường đại học tại Việt Nam do Liên minh châu Âu tài trợ; 3- Dự án REVFIN: Phòng, chống, giảm thiểu và tái chế rác thải ngư cụ tại vùng biển Việt Nam do CHLB Đức tài trợ; 4- Dự án DEVICES: Phát triển giáo dục đại học tại Việt Nam và Campuchia nhằm tăng cường năng lực việc làm cho sinh viên do Liên minh châu Âu tài trợ)
