Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh chuyển đổi số
Du lịch của tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều đóng góp tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế trọng điểm, thời gian qua tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều chính sách, qua đó giúp cho ngành du lịch đem lại hiệu quả kinh tế cao, đưa Quảng Ninh trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong nước và ngoài nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập và cuộc Cách mạng khoa học, công nghệ lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, nhân lực cho ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế, bất cập. Do đó, thời gian tới, tỉnh Quảng Ninh cần phải có những chiến lược phát triển nhân lực cụ thể, đầu tư tập trung hiệu quả để phát triển Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch kết nối với khu vực và thế giới vào năm 2030.

Đặt vấn đề
Du lịch được coi là ngành công nghiệp không khói đã và đang đóng góp lớn vào sự tăng trưởng GDP cũng như nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Du lịch cũng là ngành sử dụng nhiều lao động từ trình độ đơn giản đến trình độ cao.
Chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định chất lượng dịch vụ du lịch, nâng cao hình ảnh du lịch quốc gia, các địa phương, các điểm đến. Những năm gần đây, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra trên quy mô toàn cầu đã có những tác động sâu rộng và mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có ngành du lịch...
Với sự phát triển của công nghệ số, nhiều sản phẩm du lịch số, du lịch thông minh được ra đời đem lại cho du khách nhiều trải nghiệm mới mẻ, hấp dẫn, tiện lợi, đặc biệt là IoT (Internet kết nối vạn vật), các công nghệ VR (thực tế ảo), AR (thực tế tăng cường)... Chuyển đổi số cũng góp phần cơ cấu lại doanh nghiệp theo hướng chuyên nghiệp hơn, hiện đại hơn.
Tuy nhiên, để du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và phát huy hiệu quả trong phát triển kinh tế - xã hội,... phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao bởi sự phát triển của nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh chuyển đổi số sẽ làm thay đổi diện mạo rất lớn đối với sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam.
Là một tỉnh có nhiều tài nguyên du lịch, tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều chiến lược, hành động để phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế trọng điểm. Thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh xác định chuyển đổi số là một xu thế tất yếu, là nền tảng, động lực cho việc hình thành, phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù, chủ động đổi mới để ngành du lịch chuyển mình theo hướng thông minh, hiện đại, lấy trải nghiệm và sự hài lòng của du khách làm trung tâm của quá trình chuyển đổi số toàn diện.
Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 23-11-2022, của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đã đưa ra mục tiêu phát triển tỉnh Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch kết nối với khu vực và thế giới, là trung tâm công nghiệp văn hóa với những khu nghỉ dưỡng cao cấp có hệ thống cơ sở vật chất đồng bộ, hiện đại, có sản phẩm du lịch đa dạng, đặc sắc, chất lượng cao, thương hiệu mạnh và sức hấp dẫn toàn cầu, có năng lực cạnh tranh cao, liên kết với các hãng hàng không, tàu biển, các tập đoàn du lịch hàng đầu quốc tế. Đây là mục tiêu rất lớn, thể hiện vai trò quan trọng của tỉnh Quảng Ninh trong việc thúc đẩy liên kết quốc tế và khu vực góp phần phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu thúc đẩy phát triển du lịch Quảng Ninh vươn tầm quốc tế, khẳng định vai trò trung tâm du lịch kết nối với khu vực và thế giới hàng đầu trong thời gian tới thì việc phát triển nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu về công nghệ và kỹ năng số đang là một nhiệm vụ cấp bách và mang tính chiến lược.
Thực trạng nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ninh
Thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh luôn xác định du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn nên việc cấu trúc lại thị trường khách du lịch, tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế, qua đó đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tăng sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh cao luôn được chú ý, đồng thời nhiều điểm đến mới được đầu tư, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch được cải thiện rõ rệt.
Bên cạnh đó đã có nhiều chính sách được ban hành và thực hiện nhằm phát triển du lịch trong bối cảnh đổi mới, hội nhập dựa trên tài nguyên di sản đã giúp tổng thu từ du lịch tỉnh Quảng Ninh tăng lên hằng năm thông qua số lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch và lưu trú với thời gian dài hơn ngày càng nhiều.
Các sản phẩm du lịch được tỉnh Quảng Ninh được tập trung phát triển thời gian qua bao gồm: du lịch biển đảo, du lịch văn hóa, tâm linh, du lịch MICE, du lịch cộng đồng và du lịch biên giới đã thu hút được nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế.
Năm 2021, Quảng Ninh đón 4.384.000 lượt khách du lịch. Năm 2022 tổng số lượt khách du lịch đạt 11,6 triệu (tăng 164,6% so với cùng kỳ), trong đó khách quốc tế đạt 304.000 lượt. Năm 2023, tổng khách du lịch đạt 15,56 triệu lượt khách (tăng 11% so với năm 2019), trong đó khách quốc tế đạt 2,15 triệu lượt với tổng thu từ khách du lịch đạt 33,4 nghìn tỷ đồng (tăng 13,3% so với năm 2019), đóng góp của du lịch vào GRDP của tỉnh cũng đạt 7,62%.
Năm 2024, tổng khách du lịch đạt trên 19 triệu lượt khách (tăng 36% so với năm 2019), trong đó khách quốc tế đạt 3,5 triệu lượt, tổng thu từ khách du lịch đạt trên 46.550 tỷ đồng (tăng 57,5% so với năm 2019), đóng góp của du lịch vào GRDP của tỉnh đạt 9,64%.
Nhằm đáp ứng tốt cho hoạt động du lịch, thời gian qua, nhân lực ngành du lịch của tỉnh Quảng Ninh ngày càng không ngừng tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Nhân lực trong ngành du lịch được chia thành 3 nhóm sau:
1- Nhân lực quản lý nhà nước về du lịch: có vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia và từng địa phương, tham mưu hoạch định chính sách phát triển du lịch, đại diện cho Nhà nước hướng dẫn để các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có hiệu quả, kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh;
2- Nhân lực sự nghiệp: nhóm này được cho là bộ phận có trình độ học vấn cao, có kiến thức chuyên sâu về ngành, có chức năng đào tạo, nghiên cứu khoa học về du lịch và có vai trò to lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch, tác động lớn đến số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực ngành du lịch hiện tại và tương lai;
3- Nhân lực kinh doanh: là nhóm chiếm đa số trong hoạt động của ngành du lịch, có chức năng tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch như các nhà hàng, khách sạn, công ty du lịch, công ty vận chuyển khách du lịch. Nguồn nhân lực ngành du lịch bao gồm toàn bộ các lao động trực tiếp và lao động gián tiếp tham gia vào quá trình phục vụ khách du lịch.
Trong đó, lao động trực tiếp là những người phục vụ khách du lịch tại khu resort, khách sạn, nhà hàng, homestay, công ty lữ hành, cửa hàng phục vụ khách du lịch, bao gồm lễ tân, phục vụ buồng, bàn, đại lý lữ hành, hướng dẫn viên du lịch, lái xe du lịch…
Lao động gián tiếp là những lao động không trực tiếp phục vụ khách du lịch nhưng thực hiện các công việc mang tính quản lý, hỗ trợ cho các lao động trực tiếp, như cán bộ quản lý về du lịch tại các cơ quan hành chính; cán bộ quản lý, hành chính tại doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực du lịch, các khu lưu trú; nhà nghiên cứu về du lịch; giảng viên tại các cơ sở đào tạo du lịch...
Theo số liệu thống kê cho thấy, số lượng lao động trực tiếp ngành du lịch của tỉnh Quảng Ninh tăng ổn định trong giai đoạn 2011 - 2019, từ 25.000 người năm 2011 lên đến 60.000 người năm 2019, chiếm 7,3% lực lượng lao động du lịch cả nước.
Trung bình mỗi năm tăng 4.375 lao động và mức tăng trưởng kép hằng năm trong giai đoạn 2011 - 2019 đạt 11,6%/năm. Số lượng lao động gián tiếp ngành du lịch của tỉnh Quảng Ninh, chiếm khoảng 60% cơ cấu lao động. Có thể thấy đây là thời điểm ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh sử dụng nhiều lao động nhất.
Bảng 1: Nhân lực ngành du lịch và dịch vụ lưu trú và ăn uống giai đoạn 2015-2020
2015 | 2016 | 2017 | 2018 | 2019 | 2020 | |
VA (Tỷ VND) | 10.900 | 13.300 | 17.885 | 23.628 | 29.487 | 34.100 |
Cấu cấu trong GRDP (%) | 9,6 | 10,5 | 12,5 | 14,3 | 15,9 | 16,3 |
Lao động của ngành (1000 người) | 43,3 | 49,4 | 49,6 | 58,4 | 69,7 | 70,3 |
Trong đó: | ||||||
Lưu trú và ăn uống (1000 người) | 30,3 | 34,6 | 34,7 | 40,9 | 48,8 | 49,2 |
Lữ hành và vận chuyển (1000 người) | 4,3 | 4,9 | 5,0 | 5,8 | 7,0 | 7,0 |
Khác | 8,7 | 9,9 | 9,9 | 11,7 | 13,9 | 14,1 |
Tống lao động của tỉnh (1000 người) | 688,2 | 698,5 | 705,4 | 712,5 | 716,5 | 729,5 |
Tỷ lệ trong tổng số lao động (%) | 6,3 | 7,1 | 7,0 | 8,2 | 9,7 | 9,6 |
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh, năm 2020
Không chỉ ngày càng tăng về số lượng, nhân lực ngành du lịch cũng thể hiện ngày càng tốt về trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và năng lực quản lý nhà nước, nghiên cứu, đào tạo, quản trị kinh doanh, có bản lĩnh chính trị vững vàng; năng động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, nỗ lực vươn lên thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới và phát triển du lịch; có ý thức trách nhiệm, nhiệt tình và tâm huyết với nghề nghiệp, đổi mới, sáng tạo.
Nhận thấy nguồn nhân lực phát triển du lịch có vai trò quan trọng, đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ cả số lượng và chất lượng… mới có thể đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch bền vững cho Việt Nam trong bối cảnh mở rộng, hội nhập và môi trường du lịch cạnh tranh ngày càng gay gắt, tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều chủ trương, chính sách, chiến lược nhằm phát triển nguồn nhân lực du lịch, nguồn du lịch có chất lượng cao gắn liền với thu hút đầu tư, hình thành các sản phẩm du lịch phù hợp và từng bước ứng dụng chuyển đổi số trong ngành du lịch, coi đây là nền tảng hình thành hệ sinh thái du lịch số, từ đó tạo điều kiện dễ dàng tiếp cận, phát triển du lịch số nhanh hơn, chuyên nghiệp và hiện đại hơn.
Năm 2023, ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh đã tạo ra khoảng 48.600 lao động, trong đó có 26.800 lao động trực tiếp, lao động du lịch Quảng Ninh chủ yếu tập trung ở lĩnh vực ăn uống (chiếm 26%); mua sắm du lịch chiếm 23%; vận tải chiếm 20%; phục vụ tham quan chiếm 8%; lưu trú 5%; vui chơi - giải trí 5% và các lĩnh vực khác chiếm 13%. Về chất lượng, chất lượng lao động trực tiếp ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh đã có những chuyển biến tích cực, tỷ lệ nhân lực có trình độ đại học và sau đại học giai đoạn 2015-2020 đã tăng lên hơn 7% trong khi tỷ lệ này của giai đoạn 2010-2015 chỉ là 0,16%.
Chất lượng nhân lực du lịch cũng ngày càng nâng cao do tỉnh có những quyết sách chiến lược và đầu tư đúng đắn vào đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nhân lực cho ngành kinh tế trọng điểm này, thể hiện ở số nhân lực chưa qua đào tạo giảm mạnh trong khi đó số hướng dẫn viên được cấp chứng chỉ hành nghề tăng lên.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Quảng Ninh, tổng số cán bộ làm việc trong lĩnh vực khoa học, công nghệ năm 2017 là 7.977 người trong đó 51,7% tương đương với 4.124 người có trình độ đại học và 4,8% tương đương với 383 người có trình độ trên đại học... có thể tham gia vào nguồn nhân lực cho ngành du lịch trong bối cảnh đẩy mạnh công nghệ số.
Đội ngũ nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ninh không chỉ là lao động trong nước mà đã chú ý thu hút, tuyển chọn nhân lực từ nhiều quốc gia trên thế giới có kinh nghiệm liên quan đến hoạt động kinh doanh du lịch, ưu tiên tuyển chọn nguồn nhân lực có chất lượng cao để đáp ứng tốt nhu cầu thị trường khách du lịch cao cấp...
Trong số nhân lực du lịch thì có nhiều nhân lực đã và đang trực tiếp làm việc ở 1.647 cơ sở lưu trú đã được xếp hạng với năng lực, trình độ được phân chia theo thị trường du lịch và nhu cầu của du khách.
Bảng 2: Cơ sở lưu trú du lịch đã được xếp hạng
Loại hình cơ sở lưu trú | Số lượng cơ sở | Số lượng buồng |
Khách sạn 5 sao | 20 | 6.478 |
Khách sạn và căn hộ 4 sao | 21 | 3.779 |
Khách sạn 3 sao | 34 | 2.075 |
Khách sạn 2 sao | 80 | 2.656 |
Khách sạn 1 sao | 89 | 1.503 |
Khách sạn và căn hộ đạt tiêu chuẩn tối thiểu | 218 | 9.138 |
Tàu thủy lưu trú du lịch | 108 | 1.732 |
Khác | 1077 | 9.706 |
Tổng cộng | 1. 647 | 37.067 |
Nguồn: Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh, năm 2024
Trước sự phát triển ngày càng lớn mạnh của ngành du lịch, để du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn và tỉnh Quảng Ninh là trung tâm du lịch quốc tế, là cực tăng trưởng của miền Bắc, trong giai đoạn tới nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ninh cần phải bảo đảm về số lượng và chất lượng bảo đảm theo các tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể.
Bảng 3: Nhu cầu nhân lực ngành du lịch giai đoạn 2021-2030
2021 | 2022 | 2023 | 2024 | 2025 | 2030 | |
VA của lĩnh vực lưu trú và ăn uống (tỷ VND) | 7.576 | 8.622 | 9.812 | 11.166 | 12.707 | 24.515 |
Cơ cấu trong GRDP (%) | 3,2 | 3,2 | 3,3 | 3,3 | 3,4 | 3,9 |
Lao động trong lĩnh vực lưu trú và ăn uống (người) | 51.403 | 52.939 | 54.940 | 56.910 | 59.351 | 73.557 |
Lao động trong ngành du lịch (người) | 73.433 | 75.627 | 78.485 | 81.300 | 84.787 | 105.081 |
Lao động trong lĩnh vực lữ hành và vận chuyển (người) | 7.343 | 7.563 | 7.849 | 8.130 | 8.479 | 10.508 |
Khác (người) | 14.687 | 15.125 | 15.697 | 16.260 | 16.957 | 21.016 |
Nguồn: UBND tỉnh Quảng Ninh, năm 2020
Có thể nhận thấy, bên cạnh ưu điểm thì nguồn nhân lực du lịch của tỉnh Quảng Ninh vẫn còn những bất cập, hạn chế làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng thị trường du lịch ngày càng cao và khắt khe, nhất là trong bối cảnh hội nhập và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ.
So với tổng số lao động trực tiếp, số lượng lao động chất lượng cao và được đào tạo đúng chuyên ngành mới chỉ chiếm tỷ lệ thấp (khoảng 22%); số lao động được đào tạo ở chuyên ngành khác và chưa qua đào tạo vẫn chiếm tỷ lệ cao (khoảng 46%); còn lại khoảng 32% số lao động chưa xác định được trình độ.
Cơ cấu lao động trong ngành du lịch chưa đồng bộ, nhiều nơi nhân lực có tay nghề cao chưa nhiều, chủ yếu là nhân lực phổ thông. Hiện nay, ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh thiếu nhân lực chất lượng cao giúp hoạch định, quảng bá, kết nối và triển khai các hoạt động dịch vụ chất lượng, cụ thể như nhân lực quản lý, đặc biệt là quản lý cấp cao còn thiếu tầm nhìn chiến lược và thiếu kiến thức đa ngành, đa lĩnh vực để phối hợp, triển khai, thúc đẩy phát triển du lịch bền vững.
Ở một số lĩnh vực nhân lực thực thi tác nghiệp còn thiếu kiến thức giao tiếp, lịch sử, văn hóa và ngoại ngữ, công nghệ thông tin còn thiếu với số lượng khá lớn trong tổng số lao động ngành du lịch của địa phương, khả năng hội nhập với thị trường du lịch thế giới chưa cao.
Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh vẫn thiếu nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu dịch vụ du lịch đẳng cấp. Tỉnh Quảng Ninh chưa thực sự là điểm đến hấp dẫn lao động du lịch từ các địa phương khác, trong khi lao động du lịch của tỉnh lại có xu hướng rời đến các điểm đến đông khách du lịch ở các địa phương khác. Năng lực đào tạo nhân lực du lịch trình độ cao của các cơ sở đào tạo về du lịch của tỉnh Quảng Ninh còn rất hạn chế, chưa thể chủ động cung ứng lao động chất lượng cao phục vụ phát triển du lịch của tỉnh.
Đồng thời, Quảng Ninh có vị trí địa lý xa Thủ đô hơn các địa phương khác trong vùng đồng bằng sông Hồng nên khó cạnh tranh hơn trong việc thu hút nhân lực du lịch cho địa phương. Đây là một trở ngại lớn cho việc phát triển du lịch của tỉnh trong thời gian tới, nhất là khi tỉnh Quảng Ninh đang trong lộ trình phát triển trở thành trung tâm du lịch kết nối với khu vực và thế giới.
Thực trạng chuyển đổi số trong ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh
Chỉ thị số 16/CT- TTg, ngày 4-5-2017, của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Quyết định số 1671/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2025” và Nghị quyết số 09-NQ/TU, ngày 5-2-2022 về chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, đẩy mạnh hạ tầng công nghệ thông tin,... đã cho thấy vấn đề chuyển đổi số và xu thế tất yếu cho sự phát triển, hội nhập, vì vậy thời gian qua, ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh đã tập trung:
- Xây dựng hệ sinh thái du lịch thông minh có sự gắn kết các chủ thể từ khách du lịch, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ và cơ quan quản lý nhà nước nhằm tạo ra những giá trị, lợi ích và dịch vụ tốt nhất. Hiện nay, Quảng Ninh đã phát triển kho tích hợp dữ liệu du lịch và cổng thông tin điện tử về du lịch là halongtourism.com.vn, discoverhalong.com,... bằng cả 3 ngôn ngữ Việt, Anh, Trung; xây dựng cổng thông tin “Chuyên trang du lịch” để cung cấp các thông tin về các điểm tham quan, lịch trình, những sự kiện nổi bật cũng như cảm nhận của khách du lịch về tỉnh Quảng Ninh.
Bên cạnh đó, một số hệ thống thông tin khác cung cấp giá vé, đặt phòng khách sạn, đặt tour du lịch... tình hình giao thông, thời tiết, an ninh, y tế,... để giúp khách du lịch có kế hoạch du lịch được thuận lợi hơn. Tỉnh Quảng Ninh cũng đã đăng ký Official Account (trang thông tin chính thức) của du lịch trên zalo để triển khai công tác truyền thông các thông tin về du lịch tỉnh Quảng Ninh.
- Số hóa điểm đến và dịch vụ: Hiện tỉnh Quảng Ninh có gần 200/370 điểm di tích được số hóa và gắn mã QR. Tại Vịnh Hạ Long, hệ thống vé điện tử, cổng kiểm soát tự động và camera giám sát đã được triển khai đồng bộ, trong đó phải kể đến hệ thống camera giám sát ở một số hang động lớn như Đầu Gỗ, Thiên Cung… và hệ thống định vị GPS trên các tàu du lịch tham quan vịnh Hạ Long.
- Gia tăng trải nghiệm cho du khách: Ứng dụng chuyển đổi số để hình thành nhiều sản phẩm du lịch thông minh, gia tăng trải nghiệm của du khách thông qua IoT, các công nghệ VR, AR. Ứng dụng công nghệ số vào phục vụ công tác trưng bày hiện vật, xây dựng mô hình thực tế ảo đối với các điểm du lịch vịnh Hạ Long.
Bảo tàng Quảng Ninh được chú trọng đầu tư ứng dụng khoa học, công nghệ vào phục vụ công tác trưng bày với trên 50 màn hình tivi, màn hình led và màn hình cảm ứng tra cứu thông tin các loại cùng một trung tâm điều khiển âm thanh, ánh sáng, trình chiếu với khoảng 1.000 thiết bị.
Bảo tàng cũng là đơn vị tiên phong với mô hình “Bảo tàng ảo” sử dụng công nghệ 3D, hệ thống thuyết minh tự động (audio guide) với khoảng 60 bộ thuyết minh. Nhiều công ty lữ hành đã triển khai trải nghiệm du lịch bằng công nghệ VR/AR.
- Ứng dụng quản lý và thanh toán số: Nghiên cứu triển khai ứng dụng hệ thống vé điện tử, tra cứu thông tin trực tuyến, bản đồ số du lịch, số hóa thông tin điểm đến… Đồng thời, ứng dụng công nghệ số để quản lý, điều hành du lịch, số hóa điểm đến du lịch bằng giao diện ảnh 360, 3D…
Nhiều khách sạn và khu nghỉ dưỡng đã áp dụng công nghệ tự động trong quy trình đặt phòng, check-in, check-out và thanh toán không dùng tiền mặt. Việc thanh toán số cũng ngày càng trở nên thông dụng tại tỉnh Quảng Ninh, với 13/13 huyện, thị xã, thành phố áp dụng mô hình chợ 4.0, thu phí tham quan Vịnh Hạ Long cũng đã được tích hợp theo hóa đơn điện tử (từ 4/2022).
Tại Cảng tàu khách quốc tế Tuần Châu đã triển khai thí điểm phố thông minh không dùng tiền mặt, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long thực hiện số hóa hệ thống thông tin, triển khai bán vé tự động, trợ lý ảo du lịch bằng trí thông minh nhân tạo AI...; trải nghiệm tiện ích đặt phòng, nhận phòng, trả phòng, mở cửa, gửi đồ... qua SOJO app tạo điều kiện thuận tiện cho khách du lịch.
Du khách cũng có thể sử dụng điện thoại của mình tùy ý điều chỉnh hệ thống âm thanh, ánh sáng, nhiệt độ, đổi màu cabin tắm, điều khiển tivi... trong phòng nghỉ. Các đơn vị truyền thông chuyên nghiệp được thuê thực hiện công tác tiếp thị, quảng bá di lịch trên nền tảng số..., ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI để tạo ra các nội dung sáng tạo, hấp dẫn như các video, hình ảnh, bài viết, slogan, logo, biểu tượng với các ngôn ngữ và văn hóa khác nhau để thu hút và gây ấn tượng với du khách.
-Hỗ trợ tương tác: Việc tích hợp AI chatbot trên các nền tảng chăm sóc khách hàng giúp du khách tra cứu thông tin và nhận tư vấn trực tuyến 24/7, góp phần gia tăng sự hài lòng.
Những thách thức đối với phát triển nguồn nhân lực du lịchtỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh chuyển đổi số
Hiện nay, cơ cấu nhân lực của tỉnh Quảng Ninh trong từng lĩnh vực và ngành kinh tế, đặc biệt là các ngành kinh tế trọng điểm như du lịch dịch vụ, công nghệ cao... hiện nay còn chưa phù hơp, nhất là khi cả nước đang bước đầu triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp; nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu để theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn tới cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên sâu về công nghệ thông tin, đặc biệt là các kỹ sư, chuyên gia về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và an ninh, an toàn thông tin mạng, đội ngũ nhân lực có năng lực chuyên môn sâu về du lịch, về di sản và khả năng ngoại ngữ tốt để có thể sáng tạo ra các sản phẩm du lịch trên các nền tảng số bảo đảm đúng, đẹp, bản sắc và mang tính đặc thù… đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường du lịch.
Kỹ năng số chưa đồng đều trong ngành du lịch. Một bộ phận nhân viên trong ngành du lịch, nhất là tại các cơ sở lưu trú nhỏ lẻ hay các hộ kinh doanh gia đình, ở những vùng xa trung tâm thành phố chưa có đủ kỹ năng sử dụng công nghệ số và chưa hiểu đầy đủ về vị trí và vai trò của công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong xu thế phát triển chung của thời đại.
Hệ thống đào tạo nguồn nhân lực hiện tại cũng chưa đáp ứng được nhu cầu mặc dù thời gian qua tỉnh Quảng Ninh đã có cơ chế đầu tư, gắn kết đào tạo theo mô hình “nhà quản lý - nhà trường - doanh nghiệp”, nhiều nhân lực du lịch chưa đáp ứng tiêu chuẩn đào tạo kỹ năng nghề và chuẩn hóa nghề theo tiêu chuẩn trong ASEAN.
Hiện trạng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý, tham mưu về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số tại các cấp còn mỏng, nhiều người phải kiêm nhiệm nhiều loại công việc khác nhau, trong khi tính chất công việc đòi hỏi chuyên môn sâu và cập nhật liên tục khiến cho việc quản lý, tham mưu chưa hiệu quả. Thực tế này cho thấy mâu thuẫn giữa mục tiêu phát triển các lĩnh vực công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao (bao gồm du lịch thông minh, kinh tế số) với việc thiếu hụt nhân lực có trình độ và thiếu lao động kỹ thuật.
Một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Ninhđáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong thời gian tới
Một là, tiếp tục có cơ chế, chính sách phù hợp để tuyển dụng, đào tạo, thu hút, phát triển nhân lực du lịch, kết hợp các chính sách thu hút nhân tài công nghệ cao theo như Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” và Nghị quyết 57/2025/NQ-HĐND tỉnh về việc quy định về chính sách thu hút và hỗ trợ nhân lực về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với các chương trình đào tạo kỹ năng số chuyên biệt cho người lao động du lịch, Quảng Ninh sẽ kiến tạo được đội ngũ nhân lực chất lượng cao, vững vàng về chuyên môn và kỹ năng công nghệ, bảo đảm du lịch số đóng vai trò then chốt trong tăng trưởng kinh tế số địa phương, hiện thực hóa mục tiêu đưa tỉnh Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch kết nối với khu vực và thế giới đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.
Hai là, việc tuyển dụng, đào tạo, thu hút, phát triển nhân lực du lịch, trong đó có nhân du lịch chất lượng cao cần phải đặt trong tổng thể quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Ninh để có những lộ trình, cách thức triển khai theo từng giai đoạn.
Ba là, tiếp tục rà soát, phân loại các nguồn nhân lực du lịch, căn cứ theo nhu cầu, vị trí việc làm để thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý và người lao động trong lĩnh vực du lịch về kỹ năng công nghệ, ngoại ngữ, chuyên môn và chủ động trong công tác tuyển dụng, đào tạo, phát triển, bố trí nhân lực du lịch theo vị trí việc làm, yêu cầu trong bối cảnh cả xã hội đang đẩy mạnh chuyển đổi số.
Bốn là, có hình thức phổ cập kỹ năng số rộng rãi phù hợp thông qua việc đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn, vận động người dân và doanh nghiệp tham gia thực hiện dịch vụ công trực tuyến, đồng thời phát huy vai trò của tổ công nghệ số cộng đồng và triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” nhằm đưa tri thức số tới từng cán bộ, công chức và người dân.
Năm là, các cơ sở đào tạo ở tỉnh Quảng Ninh cần tiếp tục chủ động mở lớp đào tạo về trí tuệ nhân tạo và bảo mật thông tin mạng, đáp ứng nhu cầu cấp thiết về nguồn nhân lực chất lượng cao, tiếp tục gắn kết mô hình “nhà quản lý - nhà trường - doanh nghiệp” tham gia vào công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nhằm bảo đảm nắm chắc lý luận, bám sát nhu cầu thực tiễn trong việc sử dụng lao động của ngành du lịch trong bối cảnh chuyển đổi số.
Sáu là, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22-8-2025 “Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”, coi đây là “quốc sách hàng đầu” và là giải pháp then chốt để giải quyết mâu thuẫn về thiếu hụt nhân lực chất lượng cao.
Kết luận
Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia, là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta nói chung, tỉnh Quảng Ninh nói riêng phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới.
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh, trong đó có ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều cơ chế, chính sách, phát triển nhân lực, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số vào hoạt động du lịch.
Nhân lực ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh đã có sự gia tăng về số lượng, chất lượng ngày càng được nâng lên, điều đó giúp cho ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh đạt được những thành tựu nhất định, có những đóng góp tích cực đối với kinh tế - xã hội của tỉnh, giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, nâng cao mức sống và tạo việc làm cho người dân tại các khu, điểm du lịch, từng bước góp phần quảng bá hình ảnh, đất nước, con người, dần nâng cao vị thế du lịch tỉnh Quảng Ninh trên bản đồ du lịch thế giới. Trong bối cảnh hiện nay, khi mà cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội, trên quy mô toàn cầu... mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng và đạt được những thành công bước đầu về chuyển đổi số trong du lịch song nhân lực du lịch của tỉnh Quảng Ninh vẫn đặt ra nhiều thách thức lớn.
Để đạt được mục tiêu đến năm 2030, xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, phát triển kinh tế xanh dựa trên khoa học, công nghệ và tỉnh Quảng Ninh là trung tâm du lịch kết nối với khu vực và thế giới thì việc phát triển nhân lực đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, trong đó chú trọng phát triển nhân lực chất lượng cao luôn phải được coi là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và đòi hỏi phải có sự chung tay của các cấp, các ngành và toàn thể người dân./.
