Hội thảo

Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô trong kỷ nguyên mới: Thực trạng, vấn đề và giải pháp

TS Bùi Tôn Hiến, Phó Viện trưởng, Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước và Lao động, Bộ Nội Vụ 30/12/2025 12:23

hoi-thao.jpg

1. Giới thiệu

Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ khả năng lao động của con người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất...) có thể huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập toàn cầu hiện nay, nguồn lực con người càng trở nên quý giá, có vai trò quyết định sự thành bại của quốc gia, dân tộc hay một nền kinh tế.

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh phát triển nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, phát triển nguồn nhân lực vừa là yêu cầu khách quan, vừa là nhiệm vụ chiến lược đặt ra tại Nghị quyết số 15-NQ/TW-NQ/TW của Bộ Chính trị, để thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2030 xây dựng thành công một Thủ đô Văn hiến - Văn minh - Hiện đại; trở thành trung tâm, động lực thúc đẩy phát triển vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước.”; và đến năm 2045 là “thành phố kết nối toàn cầu, có mức sống và chất lượng cuộc sống cao”. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVII cũng đã xác định rõ: Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, nhân lực quản lý xã hội, quản trị kinh tế, nhân lực ngành văn hóa, du lịch là nguồn lực quan trọng quyết định phát triển Thủ đô.

Trong những năm qua, phát triển nguồn nhân lực Thủ đô đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng cũng còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém về chất lượng, cơ cấu và khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Báo cáo này tập trung phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực Hà Nội, xác định những vấn đề, tồn tại, hạn chế của nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô trong kỷ nguyên mới.

2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực Thủ đô Hà Nội

2.1. Quy mô lao động và cơ cấu việc làm

Năm 2024, dân số trung bình thành phố Hà Nội ước đạt 8,718 triệu người, đứng thứ hai cả nước, sau TP. Hồ Chí Minh. Hà Nội hiện có quy mô lực lượng lao động đạt 4.165 người, trong đó 4,117 triệu người có việc làm, tỷ lệ thất nghiệp các năm vừa qua thường xuyên duy trì ở mức rất thấp, khoảng 1,7 - 1,8%; trong đó khu vực thành thị là 2,54% và khu vực nông thôn là 0,90%. Đây là mức thất nghiệp tương đối thấp, cho thấy thị trường lao động Thủ đô đang hoạt động hiệu quả.

Tốc độ gia tăng lực lượng lao động của Hà Nội trung bình 1,35%/năm, phần lớn nhờ dòng người nhập cư vào thành phố tăng nhanh, mỗi năm khoảng trên 240 ngàn người1. Lao động nhập cư cung cấp nguồn nhân lực trẻ và đa dạng kỹ năng cho thành phố, nhưng cũng gây sức ép lên hạ tầng đô thị và dịch vụ công (nhà ở, giao thông, y tế...).

Cơ cấu lao động chuyển dịch khá tích cực. Khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất với trên 61,87%, tiếp theo là khu vực công nghiệp và xây dựng, chiếm khoảng gần 33%, trong khi khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm rất nhanh và chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 5,5%2. Đây là chuyển dịch lao động tương xứng với cơ cấu kinh tế, nhưng cũng phản ảnh cơ cấu nhân lực đang điều chỉnh tích cực, hiện đại, phù hợp hơn và chất lượng nhân lực đang được nâng lên. Năng suất lao động xã hội của Hà Nội vẫn còn dư địa để cải thiện khi tiếp tục tích cực chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch cụ có giá trị gia tăng cao hơn.

Trong khoảng 10 năm qua, tỷ trọng việc làm giản đơn, không đòi hỏi kỹ năng đang giảm mạnh, từ 28% xuống dưới 10%[3]; tỷ lệ việc làm công ăn lương tăng lên nhanh chóng từ khoảng 46,1% lên 63,6% năm 2024, vừa cho thấy vị thế việc làm ổn định hơn vừa tăng việc làm chính thức và chất lượng lao động cũng tăng lên.

Quan sát sự dịch chuyển lao động thấy rằng phần lớn lao động rời nông nghiệp lại làm công việc giản đơn, kỹ năng thấp thuộc 4 nhóm nghề4 như bán hàng/dịch vụ cá nhân, thợ thủ công kỹ thuật, thợ lắp ráp/vận hành và lao động giản đơn trong các ngành công nghiệp gia công, lắp ráp hoặc dịch vụ giá trị gia tăng thấp.

Việc làm của nhóm lao động có kỹ năng bậc trung và bậc cao tăng rất chậm, tăng khoảng 4% sau 10 năm5, phản ánh sự chậm chuyển biến “điểm nghẽn” cầu việc làm/cầu kỹ năng, chưa thu hút và góp phần nâng cao chất lượng nhân lực của thành phố.6 Ngoài ra, khu vực phi chính thức và việc làm dễ tổn thương vẫn phổ biến, năm 2024 có khoảng 2 triệu lao động phi chính thức, chiếm 53,1% tổng lao động. Nhìn chung, quy mô lao động lớn, dồi dào, cơ cấu lao động tương đối hợp lý và đang chuyển dịch đúng hướng (giảm nông nghiệp, tăng dịch vụ, tăng việc làm công ăn lương, tăng việc làm khu vực chính thức), nhưng chất lượng việc làm vẫn còn thấp so với mục tiêu và yêu cầu phát triển kinh tế của Thủ đô.

2.2. Chất lượng nguồn nhân lực

Hà Nội luôn dẫn đầu cả nước về chất lượng giáo dục phổ thông cũng như tỷ lệ lao động qua đào tạo. Tỷ lệ tốt nghiệp THPT của Hà Nội đạt trên 99%. Hệ thống giáo dục rộng khắp và được quan tâm đầu tư, hiện đại bởi Nhà nước cũng như phát triển hệ thống các trường tư thục và cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài7. Hà Nội là “nôi” học, giáo dục tạo ra nguồn nhân lực trẻ có chất lượng cho đào tạo bậc cao (cao đẳng, đại học) và cho nguồn lao động có chất lượng.

Đào tạo nghề và đại học được mở rộng đáng kể quy mô và nâng cao chất lượng. Số cơ sở giáo dục nghề nghiệp tăng nhanh và hiện có 376 đơn vị giáo dục nghề nghiệp và cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp với đa dạng loại hình của nhiều thành phần kinh tế8. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của Hà Nội tăng nhanh và đạt gần 75% lực lượng lao động thành phố9, trong đó, tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 52,5%. Tăng nhanh và chiếm tỷ trọng nhiều nhất là lao động có trình độ đại học, chiếm 30,3% lực lượng lao động Thủ đô. Hệ thống giáo dục đại học tại Hà Nội có chất lượng cao, với Đại học Quốc gia Hà Nội10, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Kinh tế quốc dân,… mỗi năm đào tạo ra hàng trăm ngàn cử nhân, kỹ sư.

Hà Nội có lợi thế tập trung nhiều viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp công nghệ hàng đầu cả nước, tạo nên mạng lưới nhân lực khoa học - công nghệ lớn. Hà Nội đang dẫn đầu cả nước về chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII). Thành phố có 168 doanh nghiệp khoa học công nghệ trên tổng số khoảng 800 doanh nghiệp của cả nước (chiếm 21%), và hơn 1.000 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, chiếm trên 26% cả nước.

Nhân lực làm việc trong lĩnh vực khoa học - công nghệ tăng 1,7 lần trong 10 năm qua, đạt gần 100 ngàn người năm 2024. Tỷ trọng nhân lực khoa học - công nghệ trong tổng lao động Hà Nội cũng tăng nhanh. Hơn 80% nhân lực khoa học - công nghệ có trình độ đại học trở lên, là lực lượng tinh hoa, nòng cốt cho đổi mới sáng tạo của Thủ đô. Hà Nội đã xây dựng Khu công nghệ cao Hòa Lạc, thu hút 94 dự án là hệ sinh thái tốt để đào tạo và phát huy nhân tài khoa học - công nghệ.

Hà Nội là trung tâm giáo dục đào tạo, khoa học kỹ thuật và cũng là trung tâm kinh tế tri thức, có tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ cũng như lao động có trình độ đại học trở lên cao, đứng đầu cả nước. Hà Nội có nhiều lợi thế cho phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ. Hơn 10 năm qua, việc làm trong giáo dục tăng bình quân 3,7%/năm, là ngành có tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật cao nhất, có đến 72,6% lao động ngành giáo dục có trình độ đại học trở lên. Giáo dục Thủ đô vừa mở rộng quy mô vừa bảo đảm chất lượng.

Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên ở Hà Nội lên tới 11,7%, cao gấp 3,65 lần tỷ lệ thất nghiệp chung của thành phố11, báo động tình trạng bất cân xứng cung - cầu lao động trẻ, cần có giải pháp hướng nghiệp, tạo việc làm phù hợp cho thanh niên.

Tình trạng không phù hợp giữa đào tạo và việc làm, thể hiện sự lạc hậu, yếu kém của hệ thống đào tạo và hệ thống cung ứng nhân lực thiếu gắn kết với nhu cầu doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng không phù hợp về kỹ năng12. Có 31,6% lao động trình độ cao đẳng, đại học làm các công việc thấp hơn trình độ được đào tạo, gây ra sự lãng phí đào tạo và làm giảm năng suất lao động xã hội13. Nhóm trình độ trung cấp, sơ cấp, tỷ lệ làm trái nghề là 18,6%, phần nào “an ủi” rằng đào tạo nghề có được cải thiện hơn.

2.3 Đóng góp của nhân lực vào tăng trưởng và phát triển Thủ đô

Hà Nội có mức năng suất lao động thuộc nhóm cao nhất cả nước (sau TP Hồ Chí Minh)14, đạt mức bình quân 291,6 triệu đồng/người/năm, cao hơn vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cao gấp 1,6 lần bình quân cả nước15. Quan sát thấy, năng suất lao động của Hà Nội tăng chủ yếu nhờ dịch chuyển lao động sang ngành có năng suất cao hơn (yếu tố này chiếm 70%), còn tăng năng suất nội ngành đóng góp khoảng 30%. Tuy nhiên, dư địa tăng năng suất lao động nhờ dịch chuyển lao động đang dần thu hẹp. Để thúc đẩy tăng năng suất lao động trong thời gian tới, Hà Nội cần tập trung nâng cao giá trị gia tăng nội ngành, đặc biệt là công nghiệp chế biến chế tạo công nghệ cao và các ngành dịch vụ tri thức, đồng thời cải tiến quản trị, tổ chức sản xuất hiệu quả, nâng cao năng suất lao động vi mô trong doanh nghiệp.

Cùng với năng suất lao động tăng nhanh, nguồn nhân lực đang đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của Thủ đô. Trong 10 năm qua, tăng trưởng GRDP Hà Nội đạt bình quân khoảng 6,83%/năm, trong đó đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) dần tăng, đạt khoảng 45 - 50% cho đến năm 2024. Năm 2025, Hà Nội kỳ vọng TFP đóng góp 50 - 55% tăng trưởng, và ngày càng tăng đạt 55 - 60% vào năm 2030 dựa vào nhân lực chất lượng cao và đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, do dân số già hóa, giảm lượng cung lao động, đòi hỏi phải nâng cao năng suất lao động để bù đắp. Khu vực dịch vụ của Hà Nội có NSLĐ cao nhất và tăng nhanh nhất, sẽ là khu vực tiềm năng, chỗ dựa cho tăng trưởng và tạo việc làm của Thủ đô Hà Nội.

3. Những vấn đề đặt ra đối với phát triển nguồn nhân lực Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới

3.1. Tồn tại, hạn chế của phát triển nguồn nhân lực Thủ đô

Hà Nội đạt được tiến bộ lớn về mở rộng quy mô lao động, hợp lý hóa dần cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đã đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội thành phố. Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực nhìn chung chưa tương xứng với yêu cầu phát triển của Thủ đô Hà Nội. Các hạn chế, yếu kém cụ thể:

Một là, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp so với yêu cầu. Quy mô lực lượng lao động khá lớn, trình độ học vấn và văn hóa của người lao động khá cao, nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo, tay nghề và kỹ năng của lao động còn thấp. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt cao nhất cả nước (trên 50%) nhưng vẫn là thấp so với yêu cầu và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. Giáo dục hướng nghiệp còn hạn chế, tác phong công nghiệp, khả năng làm việc theo nhóm, kỹ năng mềm, văn hóa nghề của người lao động chưa cao.

Hai, cơ cấu lao động còn chưa phù hợp, thất nghiệp thanh niên cao đến mức đáng báo động, thất nghiệp nhóm lao động không có chuyên môn kỹ thuật tiếp tục tăng cao, cho thấy chất lượng nguồn lao động nhóm tuổi trẻ là thấp. Cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật được đào tạo còn bất hợp lý, tỷ trọng lao động có trình độ trung cấp, cao đẳng còn thấp trong lực lượng lao động. Về cơ cấu ngành nghề lĩnh vực đào tạo còn chưa cân xứng, thiếu lao động kỹ thuật công nghệ nhất là các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, ngành công nghiệp mới nổi, công nghệ cao, y tế chăm sóc sức khỏe, năng lượng tái tạo và kinh tế xanh…

Ba là, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao. Thị trường lao động Hà Nội đang đối mặt với tình trạng mất cân đối kép, thiếu hụt nghiêm trọng lao động có kỹ năng cao trong khi dư thừa lao động có trình độ thấp. Hà Nội đang thiếu nhân lực chất lượng cao, nhất là ở các ngành nghề mới nổi, các lĩnh vực công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, và các ngành nghề liên quan đến cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

Bốn là, chất lượng, năng lực hệ thống đào tạo nghề còn hạn chế. Mặc dù Hà Nội có hệ thống đào tạo phát triển, nhưng vẫn còn hạn chế trong việc đáp ứng nhu cầu kỹ năng của thị trường lao động. Chương trình đào tạo của một số cơ sở giáo dục chưa được cập nhật kịp thời với những thay đổi của công nghệ và yêu cầu của doanh nghiệp. Đào tạo chưa gắn với sử dụng gây lãng phí nguồn lực và làm giảm hiệu quả đào tạo. Chất lượng đào tạo nghề, nhất là các ngành nghề kỹ thuật, công nghệ vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng.

Năm là, sử dụng, thu hút nguồn nhân lực của thị trường lao động kém hiệu quả. Hà Nội chưa có chiến lược, chính sách và biện pháp tích cực thu hút và sử dụng lao động trình độ cao, nhân lực và nhân tài, đặc biệt là sự hỗ trợ, khuyến khích khu vực ngoài Nhà nước trong thu hút, tuyển dụng, sử dụng nhân tài. Hoạt động của thị trường lao động, kết nối cung cầu còn nhiều bất cập, công tác dự báo và thông tin thị trường lao động còn kém hiệu quả.

3.2. Thách thức phát triển nguồn nhân lực Thủ đô trong kỷ nguyên mới

Bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Thủ đô Hà Nội vẫn sẽ đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển nguồn nhân lực, trong đó có 5 vấn đề lớn mang tính phổ quát cũng như đặc thù đối với Thủ đô.

Một là, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động hiện hữu, tạo ra những thay đổi căn bản trong cơ cấu việc làm và yêu cầu kỹ năng của người lao động. Sự phát triển vượt bậc của công nghệ số, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, robot, Internet vạn vật đang thay đổi, mất đi nhiều công việc truyền thống nhưng cũng tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới. Theo ước tính, đến 2030 kinh tế số sẽ chiếm 30 - 35% GRDP Hà Nội, nhu cầu nhân lực có kiến thức về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, kỹ thuật số,… rất lớn, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đào tạo và đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho người lao động, đặc biệt là các kỹ năng công nghệ thông tin, kỹ năng mềm và khả năng thích ứng với công nghệ mới. Lao động kỹ năng thấp đứng trước nguy cơ mất việc nếu không được đào tạo lại, một bộ phận lao động tinh hoa tiếp cận được, còn số đông bị tụt hậu kỹ năng16.

Hai là, toàn cầu hóa và hội nhập, cạnh tranh quốc tế. Việt Nam tham gia hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, RCEP...), Hà Nội là trung tâm đầu não của hội nhập, thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ và tạo việc làm chất lượng cao cho lao động Thủ đô. Áp lực cạnh tranh tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu đòi hỏi ngày càng cao các chuẩn mực kỹ năng nghề, ngoại ngữ, tác phong chuyên nghiệp. Lao động có trình độ cao có nhiều cơ hội việc làm với thu nhập tốt hơn, lao động trình độ kỹ năng thấp dễ bị tổn thương trước làn sóng cạnh tranh lao động xuyên biên giới. Do vậy, một mặt phải chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua đào tạo, hợp tác quốc tế và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, mặt khác phải có cơ chế thu hút và giữ chân nhân tài trong bối cảnh thị trường lao động đã mang tính quốc tế, tránh bị cạnh tranh thu hút và chảy máu chất xám trong dòng chảy chuỗi cung ứng nhân lực quốc tế.

Ba là, đô thị hóa và sự thay đổi lối sống của người dân Thủ đô. Toàn cầu hóa không chỉ về kinh tế mà còn văn hóa, xã hội, lối sống,... tác động đến nguồn nhân lực. Lực lượng lao động trẻ Hà Nội ngày càng năng động, thích nghi nhanh với cái mới, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của lối sống đô thị hiện đại (thể lực có cải thiện nhưng nguy cơ bệnh không lây nhiễm tăng, stress công việc...). Mặt khác, đô thị hóa mở rộng vùng ven Hà Nội kéo theo dòng di cư nông thôn, thành thị tiếp tục gia tăng, gây áp lực tạo việc làm đô thị. Dân nhập cư phần lớn là lao động trẻ ít kỹ năng, nếu không được đào tạo kịp thời sẽ làm khu vực phi chính thức với năng suất thấp. Vấn đề an sinh xã hội (nhà ở, trường học, bệnh viện cho người lao động nhập cư) cũng đặt ra gay gắt.

Bốn là, thay đổi nhân khẩu học, già hóa dân số, Hà Nội đang dần bước vào giai đoạn già hóa với tốc độ nhanh hơn mức trung bình cả nước. Thập kỷ qua chứng kiến, tốc độ tăng lao động cao tuổi là 7,5%/năm, gấp hơn 5 lần tốc độ tăng lực lượng lao động, cảnh báo nguy cơ suy giảm sức lao động và thiếu hụt nhân lực trẻ trong tương lai gần17. Một mặt, Hà Nội cần có chính sách phát triển việc làm cho người cao tuổi, mặt khác cần nâng cao năng suất lao động để bù đắp cho tốc độ tăng lực lượng lao động chậm lại. Thành phố cũng cần chủ động thu hút lao động từ ngoài tỉnh (như đã làm) và thậm chí lao động nước ngoài có kỹ năng để bổ sung nguồn nhân lực thiếu hụt trong một số ngành.

Năm là, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, mục tiêu tăng trưởng, phát triển của Thủ đô Hà Nội đang định hướng phát triển theo mô hình kinh tế số, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hòan, kinh tế tri thức.... Các mô hình này đặt ra yêu cầu mới về kỹ năng cho nguồn nhân lực18. Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “chiều rộng” sang “chiều sâu” có nghĩa là thay vì dựa vào tăng vốn và lao động rẻ, Hà Nội sẽ dựa vào năng suất, công nghệ và sáng tạo. Do vậy, nguồn nhân lực phải làm chủ được công nghệ tiên tiến, có tư duy đổi mới và kỹ năng sáng tạo.

Hà Nội đối mặt với một “bài toán nhân lực” khá lưỡng nan, vừa phải tận dụng cơ hội của công nghệ mới, hội nhập để nâng cao kỹ năng lao động, thu hút nhân tài, tăng năng suất, vừa phải hóa giải thách thức tỷ lệ thất nghiệp cao do tác động thay đổi công nghệ, bất bình đẳng kỹ năng, già hóa, cạnh tranh chất xám.

4. Định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới

4.1. Định hướng phát triển nguồn nhân lực Thủ đô trong kỷ nguyên mới

Kỷ nguyên mới của Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa phát triển, là đầu tàu tiên phong và là ‘trái tim của cả nước’, phấn đấu đến năm 2030 trở thành thành phố “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại” và đến năm 2045 là “thành phố kết nối toàn cầu, có mức sống và chất lượng cuộc sống cao”. Những định hướng lớn về phát triển nguồn nhân lực Hà Nội như sau:

- Về nhận thức, cần quán triệt quan điểm: “nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá nhất, coi đầu tư cho con người là đầu tư cho phát triển”; Tập trung đầu tư cho con người, nâng cao chất lượng và khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn lực con người cho phát triển Thủ đô” từ đó cụ thể hóa thành nhiệm vụ trọng tâm trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Hà Nội. Phát triển nhân lực Thủ đô cần phải có chiến lược dài hạn, dự báo nhu cầu tương lai và chủ động đầu tư chuẩn bị, bảo đảm cung cấp nhân lực và nhân lực chất lượng cao đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.

- Định hướng đổi mới giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt, liên thông, hiện đại, hội nhập quốc tế; tăng cường giáo dục khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM); ưu tiên đầu tư đào tạo nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực kỹ thuật - công nghệ, nhân lực phục vụ chuyển đổi số, công nghệ cao, công nghệ mới đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hòan.

- Tập trung đầu tư nâng cao tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong các ngành công nghệ cao, công nghệ mới và hiện đại. Ưu tiên các nhóm lĩnh vực trọng điểm như khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, văn hóa - thể thao, y tế, du lịch, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức. Thu hút nhân lực chất lượng cao là các chuyên gia, kỹ sư, công nhân bậc cao, nghệ nhân, nhà quản lý giỏi trong các lĩnh vực, tạo đột phá về năng suất và sáng tạo.

- Phát triển thị trường lao động theo hướng linh hoạt, hội nhập, hiệu quả, trọng tâm là bảo đảm việc làm bền vững và sinh kế cho người dân; mở rộng cơ hội việc làm cho người sau độ tuổi lao động; từng bước thu hẹp số lao động trong khu vực phi chính thức.

- Đào tạo gắn với sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực đồng thời có chính sách trọng dụng nhân tài, bố trí đúng người đúng việc trong khu vực công lẫn tư nhân để phát huy tối đa năng lực người lao động.

- Huy động, kết hợp nguồn lực từ Nhà nước, doanh nghiệp, xã hội và quốc tế cho phát triển nhân lực Thủ đô. Tăng cường xã hội hóa, khuyến khích khu vực tư nhân, các tổ chức nước ngoài tham gia đào tạo, bồi dưỡng nhân lực.

4.2 Các giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực Thủ đô Hà Nội

Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực của Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 như sau: (i) Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 80 - 85%, trong đó tỷ lệ có bằng cấp chứng chỉ đạt 60%19; Đào tạo lại, đào tạo thường xuyên cho khoảng 50% lực lượng lao động; tỷ lệ lao động có các kỹ năng công nghệ thông tin đạt 90%; (ii) Bình quân mỗi năm đào tạo nghề cho 260 nghìn lượt người, giải quyết việc làm cho khoảng trên 230 nghìn người/năm; tỷ lệ thất nghiệp duy trì dưới 3%; (iii) Chuyển dịch cơ cấu lao động khu vực nông nghiệp còn 5%, công nghiệp - xây dựng khoảng 35%, dịch vụ khoảng 60%; (iv) Năng suất lao động tăng 7,5 - 8%/năm giai đoạn 2026 - 2030.

Các mục tiêu trên đòi hỏi nỗ lực rất lớn trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nhân lực, cùng các cải cách về thị trường lao động. Dưới đây là các giải pháp chủ yếu để hiện thực hóa mục tiêu và định hướng đã đề ra.

4.2.1. Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực Thủ đô

Hà Nội cần có “Chiến lược phát triển nguồn nhân lực Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” tiếp cận hệ thống, toàn diện mục tiêu, giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đã đặt ra trong Nghị Quyết 15 của Bộ Chính trị.

Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đồng thời phải dựa vào cơ sở pháp lý là Luật Thủ đô năm 2024, khai mở các cơ hội mới trong thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nguồn lực đầu tư cho hệ thống giáo dục, đào tạo. Chiến lược cũng cần nhắm tới xây dựng một hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực Thủ đô văn hiến, hiện đại, lấy hệ thống giáo dục, đào tạo làm nòng cốt, mạng lưới và hệ thống đào tạo học tập suốt đời, mô hình liên kết và hợp tác 3 nhà (Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp), 5 nhà (Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp - nhà đầu tư - nhà khoa học) trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để tổ chức thực hiện, cần thành lập Ban phát triển nguồn nhân lực Thủ đô trực thuộc Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội để điều phối liên ngành.

4.2.2. Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo

Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, bảo đảm phân bố các cơ sở đào tạo nghề phù hợp không gian và yêu cầu phát triển kinh tế. Rà soát, sắp xếp lại hệ thống trường dạy nghề công lập thuộc thành phố theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Khuyến khích phát triển cơ sở dạy nghề tư thục, có vốn đầu tư nước ngoài, dạy nghề trong doanh nghiệp để đa dạng loại hình và tăng nguồn lực xã hội đầu tư cho đào tạo nghề. Đầu tư nâng cấp trang thiết bị thực hành tại các trường nghề tiếp cận công nghệ sản xuất mới nhất của doanh nghiệp.

Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề và cán bộ quản lý giáo dục. Đổi mới chương trình đào tạo… Đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp, xây dựng các nền tảng học tập trực tuyến mở, triển khai lớp học ảo, thực tế ảo hỗ trợ đào tạo nghề. Phối hợp doanh nghiệp để xác định chuẩn kỹ năng, tích hợp các kỹ năng tương lai (kỹ năng số, kỹ năng xanh, kỹ năng mềm). Phát triển các ngành/chuyên ngành đào tạo về công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, năng lượng tái tạo...

Phát triển mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, hình thành các khu đại học tập trung (như Quy hoạch đô thị đại học tại Hòa Lạc, Gia Lâm...), phát triển các ngành đào tạo mới phù hợp nhu cầu thị trường (các ngành công nghệ cao, kỹ thuật số, quản trị đô thị thông minh). Đặc biệt các lĩnh vực, ngành công nghiệp mới nổi, công nghiệp có hàm lượng phát thải các-bon thấp, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, công nghệ cao, như: công nghiệp chip bán dẫn; công nghiệp robot; trí tuệ nhân tạo; vật liệu mới; công nghiệp sinh học; công nghiệp công nghệ số; công nghiệp dược phẩm; công nghiệp hỗ trợ…

Phát huy lợi thế của Hà Nội là trung tâm giáo dục đại học lớn nhất cả nước với nhiều trường đại học đạt tiêu chuẩn quốc tế. Quy tụ và tận dụng sức mạnh, lợi thế… của các trường đại học đóng trên địa bàn để đầu tư, nghiên cứu khoa học, công nghệ giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.

4.2.3. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu húttrọng dụng nhân tài

Hướng tới phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng và hòan thiện các tiêu chí xác định nhân lực chất lượng cao theo từng ngành (ví dụ: nhà khoa học có số lượng công bố quốc tế, doanh nhân đổi mới sáng tạo, nghệ nhân được công nhận cấp quốc gia...), để có chính sách đào tạo, phát triển và đãi ngộ phù hợp. Đối với khu vực công, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý xuất sắc - những người không chỉ giỏi chuyên môn mà còn có tư duy chiến lược, kỹ năng quản trị hiện đại. Sử dụng ngân sách thành phố để hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ sở đào tạo ở nước ngoài, cơ sở đào tạo của nước ngoài đặt tại Việt Nam. Đối với doanh nghiệp, hỗ trợ hình thành thế hệ doanh nhân, quản trị chuyên nghiệp.

Đối với khoa học, tạo điều kiện cho các nhà khoa học đầu ngành phát huy, dẫn dắt các nhóm nghiên cứu trọng điểm tại các trường đại học, viện nghiên cứu trên địa bàn. Đối với sản xuất, tập trung phát triển đội ngũ công nhân lành nghề, nghệ nhân ưu tú trong các ngành truyền thống lẫn công nghệ cao. Ưu tiên đầu tư đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành mà Hà Nội có thế mạnh và định hướng phát triển như công nghệ thông tin và viễn thông, tài chính - ngân hàng, du lịch (du lịch văn hóa, du lịch xanh), logistics, y tế chất lượng cao, giáo dục quốc tế.

Thực hiện hiệu quả các quy định của Luật Thủ đô 2024 về thu hút, trọng dụng người có tài năng. Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của các cấp chính quyền và người dân Thủ đô, về vai trò đặc biệt quan trọng của nhân lực, nhân tài và xây dựng các tiêu chí rõ ràng để xác định nhân tài, bao gồm tư cách, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực vượt trội và có sản phẩm hữu ích cho cuộc sống. Cần xây dựng văn hóa tôn vinh nhân tài, trọng dụng và đãi ngộ tốt đối với người tài (Thủ khoa, trí thức, chuyên gia hay thợ giỏi,…) có đóng góp cho thành phố.

Hội đồng nhân dân thành phố cần sớm ban hành các nghị quyết cụ thể về chính sách ưu đãi đối với nhân tài, những chuyên gia, nhà khoa học có đóng góp xuất sắc. Ưu tiên ngân sách cho các đề án phát hiện, bồi dưỡng nhân tài trong từng lĩnh vực mũi nhọn, như đào tạo chuyên gia công nghệ thông tin trình độ quốc tế; đào tạo, bồi dưỡng nghệ sĩ, huấn luyện viên thể thao tài năng của Hà Nội; chương trình gửi bác sĩ giỏi đi đào tạo chuyên sâu ở nước ngoài... Chú trọng từ khâu phát hiện trong nhà trường phổ thông (các lớp chuyên, lớp năng khiếu) đến hỗ trợ phát triển tài năng sau đại học.

4.2.4. Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Triển khai việc thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo Hà Nội để thúc đẩy hình thành phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Trung tâm có chức năng tham mưu, đề xuất chính sách và tổ chức thực hiện các hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp. Kết nối và phát huy lợi thế của hệ thống viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trên địa bàn thành phố.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ nhằm thu hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ đồng thời phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, kết nối cung - cầu công nghệ, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, cung cấp dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và khởi nghiệp sáng tạo, cũng như triển khai thí điểm cơ chế thử nghiệm có kiểm soát nhằm góp phần nâng cao năng lực khoa học, công nghệ và sức cạnh tranh của thành phố trong bối cảnh hội nhập. Tận dụng lợi thế của Khu Công nghệ cao Hòa Lạc để phát triển các ngành công nghệ tiên tiến, hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ 4.0, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh.

4.2.5. Chính sách thu hút, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có và nhân lực, nhân tài ngoại tỉnh, quốc tế

Trong khu vực công, cải cách công tác tuyển dụng và bổ nhiệm, trên nguyên tắc “đúng người, đúng việc, đúng vị trí”; triển khai đánh giá hiệu quả công việc dựa trên KPI (chỉ số kết quả); xây dựng hệ thống thi tuyển cạnh tranh các chức danh quản lý, mở rộng cơ hội cho người trẻ có năng lực; xóa bỏ các rào cản để nhân tài trẻ được trọng dụng. Hà Nội có thể quan tâm ưu đãi về tiền lương, thu nhập và chính sách phúc lợi về nhà ở, giáo dục và chăm sóc sức khỏe và tạo môi trường sống tốt để thu hút nhân lực, nhân tài, có thể chủ động xây dựng chính sách đặc thù và đãi ngộ nguồn nhân lực khu vực công.

Trong khu vực tư, khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng quản trị nhân sự hiện đại, trả lương thưởng theo hiệu suất, có lộ trình thăng tiến minh bạch để giữ chân người giỏi. Khuyến khích doanh nghiệp, người sử dụng lao động thực hiện tốt chính sách tiền lương, thu nhập, bảo hiểm, bảo đảm người lao động được thụ hưởng tương xứng với cống hiến, tạo động lực nâng cao kỹ năng. Thành phố có thể hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đào tạo quản trị nhân sự, để biết cách dùng người và thu hút nhân tài tốt hơn.

Hà Nội cần có chính sách thu hút nhân tài đặc thù đối với một số ngành, lĩnh vực công nghệ cao, ngành nghề mới nổi (trí tuệ nhân tạo, tài chính quốc tế...), mạnh dạn tuyển dụng chuyên gia, nhà khoa học hoặc lao động kỹ thuật với các chính sách ưu đãi đặc biệt cho chuyên gia giỏi, chuyên gia nước ngoài, Việt kiều về làm việc về hỗ trợ nhà ở, đi lại, thủ tục visa, trường học cho con em… Tạo môi trường làm việc cởi mở, trọng dụng thực tài, để người tài phát huy. Đồng thời, xây dựng cơ sở dữ liệu về chuyên gia, trí thức người Hà Nội ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài trong các ngành trọng điểm; thiết lập kênh liên lạc thường xuyên để mời họ hợp tác giảng dạy, nghiên cứu, tư vấn cho thành phố.

4.2.6. Tăng cường gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, đào tạo nghề với việc làm và thị trường lao động

Phần lớn các địa phương hiện nay đang áp dụng mô hình liên kết 3 nhà (Nhà nước, nhà trường, nhà tuyển dụng) trong phát triển nguồn nhân lực. Cần tiếp tục phát huy điểm mạnh của mô hình liên kết 3 nhà để xóa bỏ tình trạng “đào tạo một đằng - sử dụng một nẻo”, cần thiết lập cơ chế “doanh nghiệp đặt hàng - nhà trường đáp ứng” với vai trò định hướng, dẫn dắt và hỗ trợ của chính quyền.

Các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động cần có trách nhiệm đầu tư lại vào công tác đào tạo, đào tạo lại và đào tạo tại chỗ, như một phần của chiến lược nhân sự. Bên cạnh đó, phát triển mạnh chương trình học nghề linh hoạt, ngắn hạn, liên ngành và đào tạo kỹ năng mềm, kỹ năng số, kỹ năng đổi mới sáng tạo để người lao động có thể nhanh chóng chuyển đổi nghề nghiệp và thích ứng với biến động thị trường.

Để phù hợp với xu thế và thể chế hóa và tổ chức thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, yêu cầu phát triển hệ sinh thái đào tạo cùng với phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, Hà Nội nên nghiên cứu và phát triển mô hình hợp tác phát triển nguồn nhân lực giữa 5 “NHÀ” (Nhà nước, nhà trường, nhà khoa học, nhà tuyển dụng, nhà đầu tư) trong phát triển nguồn nhân lực.

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng thể chế, tạo ra môi trường pháp lý và cơ chế chính sách thuận lợi cho các “nhà” hợp tác và hoạt động hiệu quả; Nhà nước cũng có thể hỗ trợ tài chính, ưu đãi thuế và hỗ trợ kỹ thuật, từ đó tạo điều kiện cho việc nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực được thực hiện một cách hiệu quả. Nhà trường là nơi cung cấp nền tảng giáo dục và đào tạo nghề nghiệp cho học viên, sinh viên, gắn đào tạo lý thuyết với thực hành, bảo đảm mục tiêu đào tạo theo nhu cầu thị trường; việc phối hợp chặt chẽ với nhà khoa học, nhà tuyển dụng và nhà đầu tư nhằm huy động nguồn lực góp phần tạo môi trường giáo dục, đào tạo hiệu quả, sinh viên không chỉ được học kiến thức mà còn có cơ hội phát triển các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết để đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của xã hội và thị trường lao động hiện đại.

Nhà khoa học, bao gồm các nhà nghiên cứu và chuyên gia, đóng vai trò trong việc hỗ trợ nhà trường nghiên cứu khoa học và phát triển kiến thức mới, ứng dụng công nghệ và kỹ thuật hiện đại vào quá trình đào tạo, cập nhật và nâng cao chất lượng chương trình giảng dạy, định hướng đào tạo để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, nâng cao năng lực giảng viên.

Nhà tuyển dụng sẽ đóng vai trò là những nhà cung cấp cấp thông tin về nhu cầu kỹ năng nguồn nhân lực trên thị trường lao động, tham gia vào quá trình đào tạo, tiếp nhận sinh viên thực tập và tạo cơ hội việc làm cho sinh viên. Nhà đầu tư, bao gồm các tổ chức tài chính, doanh nghiệp và cá nhân, cung cấp nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, công nghệ giáo dục cho các dự án đào tạo và nghiên cứu.

4.2.7. Tăng cường kết nối cung cầu lao động

Cần phát triển mạnh, nâng cấp Trung tâm Dự báo và Phát triển thị trường lao động Thành phố, ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) để phân tích xu thế, dự báo nhu cầu nhân lực theo ngành, trình độ và khu vực. Trung tâm này sẽ là cơ sở dữ liệu đầu mối, kết nối cung - cầu nhân lực giữa cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và chính quyền một cách kịp thời và hiệu quả.

Xây dựng cổng thông tin thị trường lao động Thủ đô, có cơ sở dữ liệu lao động việc làm đồng bộ, kết nối cung - cầu lao động từ cấp phường/xã đến thành phố và cung cấp dịch vụ tư vấn, giới thiệu việc làm, dự báo nghề nghiệp trực tuyến. Các xã/phường chủ động công tác dự báo, nắm bắt nhu cầu lao động của tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã, làng nghề trên địa bàn.

4.2.8. Huy động và đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho phát triển nhân lực

Ưu tiên chi ngân sách thành phố cho giáo dục - đào tạo ở mức cao (trên 20%). Đầu tư có trọng điểm cho các trường chất lượng cao, các trung tâm đào tạo kỹ nghệ cao. Xã hội hóa giáo dục đào tạo mạnh mẽ hơn nữa. Khuyến khích các doanh nghiệp, quỹ tư nhân thành lập cơ sở đào tạo nghề, trường phổ thông tư thục chất lượng cao, trường đại học tư thục theo mô hình tiên tiến.

Xây dựng chính sách ưu đãi thuế, tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư thành lập các trung tâm đào tạo nội bộ. Hợp tác công - tư (PPP) trong đào tạo nghề cũng là hướng cần thúc đẩy, thành phố góp vốn hoặc hỗ trợ mặt bằng, doanh nghiệp góp thiết bị và chuyên gia để cùng vận hành trường nghề theo đơn đặt hàng.

Các trường đại học, cao đẳng công lập sớm tiến tới tự chủ toàn diện, có thể huy động vốn từ nghiên cứu, từ hợp tác doanh nghiệp và học phí, giảm dần bao cấp. Phần ngân sách nhà nước để ưu tiên hỗ trợ cho người học dưới dạng học bổng, tín dụng, thay vì cấp kinh phí dàn trải cho cơ sở đào tạo. Với trường nghề công lập, tăng cường liên doanh liên kết đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp.

4.2.9. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Mở rộng liên kết với các cơ sở đào tạo uy tín nước ngoài, các chuyên gia quốc tế (UNESCO, JICA, EU...) về tư vấn xây dựng chương trình đào tạo nghề. Khuyến khích các trường đại học Hà Nội liên doanh với đại học nước ngoài mở chương trình đào tạo ngay tại Hà Nội (như các chương trình liên kết của Đại học Quốc gia Hà Nội với ĐH của Pháp, Đức, Nhật...). Từ đó, học sinh, sinh viên Hà Nội có thể tiếp cận chuẩn quốc tế về giáo dục mà không phải ra nước ngoài quá nhiều.

Thúc đẩy các chương trình trao đổi chuyên gia, học tập kinh nghiệm giữa Hà Nội và các thành phố kết nghĩa, các nước phát triển. Tăng cường tham gia mạng lưới thành phố thông minh, thành phố sáng tạo UNESCO để trao đổi kinh nghiệm về phát triển nhân lực văn hóa, công nghệ... Đồng thời, hỗ trợ người lao động Hà Nội tham gia các chương trình di cư lao động hợp pháp (lao động kỹ năng sang Nhật, Đức học tập làm việc vài năm) để tích lũy tay nghề, sau đó trở về phục vụ Thủ đô.

Nghiên cứu áp dụng một số mô hình tiên tiến trong phát triển nhân lực, như “Thành phố học tập” (learning city) theo mô hình của Seoul hay Đài Loan, nơi mọi công dân đều có cơ hội học tập nâng cao kỹ năng suốt đời; mô hình “Trung tâm khởi nghiệp - đổi mới sáng tạo” (innovation hub) như Singapore để hội tụ nhân tài khởi nghiệp; hay mô hình “Hệ sinh thái nhân lực thông minh” sử dụng dữ liệu lớn để dự báo kỹ năng (như cách Singapore đang xây dựng cơ sở dữ liệu kỹ năng quốc gia). Việc học hỏi này thông qua hội thảo quốc tế, tham quan khảo sát và hợp tác với các tổ chức như OECD, ILO, Ngân hàng Thế giới.

5. Kết luận

Phát triển nguồn nhân lực là yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài đối với Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới. Phát triển nguồn nhân lực Hà Nội thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực, quy mô lao động mở rộng, trình độ chuyên môn kỹ thuật nâng cao rõ rệt, cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực, năng suất lao động và thu nhập tăng cao. Bên cạnh đó vẫn tồn tại những hạn chế như chất lượng việc làm chưa cao, mất cân đối cung - cầu kỹ năng ở một số phân khúc, thất nghiệp thanh niên và lãng phí chất xám, cùng áp lực lớn từ già hóa dân số và cạnh tranh nhân lực trong hội nhập.

Bước vào kỷ nguyên mới, với khát vọng lớn đưa Thủ đô Hà Nội trở thành đô thị hiện đại ngang tầm khu vực vào năm 2030 và xa hơn nữa là một thành phố toàn cầu vào năm 2045, cùng với niềm tin và quyết tâm, Hà Nội sẽ thành công trong phát triển nguồn nhân lực dồi dào, cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, thật sự trở thành nguồn lực ưu việt đóng góp cho tăng trưởng và phát triển Thủ đô ngàn năm văn hiến./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Hoàng Thị Ngân (2024). Phát triển nguồn nhân lực thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Tạp chí Lý luận Chính trị, 12/01/2024.
  2. Trịnh Thị Thu Hiền (2024). Để Hà Nội đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực toàn diện trong thời gian tới. Tạp chí Cộng sản, 20/09/2024.
  3. Sở LĐ-TB&XH Hà Nội (2023). Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình 06-CTr/TU về phát triển nhân lực 2021 - 2025. Trích dẫn trên báo Kinh tế & Đô thị.
  4. Viện NCKT-XH Hà Nội (2023). Báo cáo hiện trạng phát triển và thu hút nguồn nhân lực Thủ đô 2011 - 2022, định hướng 2021 - 2030. (Tài liệu nội bộ).
  5. World Economic Forum (2025). How Singapore’s data-driven approach is building a skills-first economy. (Bài viết của Gog Soon Joo, 10/01/2025).
  6. World Economic Forum (2024). How companies are addressing workforce shortages through senior employment in Japan. (Bài viết của Naoko Tochibayashi, 15/08/2024).

1 Năm 2022, có khoảng 243,9 nghìn lao động nhập cư, chiếm 6,08% LLLĐ Hà Nội. Tỷ lệ lao động nhập cư tăng từ 4,7% (2015) lên 7,7% (2021), trong khi tỷ lệ xuất cư giảm mạnh từ 4,1% xuống 1,7%. Khoảng gần 60% lao động nhập cư làm việc trong khu vực phi chính thức với thu nhập thấp và thiếu ổn định.

2 Tỷ lệ lao động trong nông, lâm, ngư nghiệp giảm rất nhanh từ khoảng 24 - 26% (2011) xuống còn 5,5% (2024); Lao động lĩnh vực dịch vụ tăng từ khoảng 46% (năm 2011) lên 61,87% năm 2024; Lĩnh vực công nghiệp-xây dựng cũng nhích lên khoảng 33% năm 2024.

3 Việc làm không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật giảm nhanh. Năm 2011, khoảng 28,3% đến nay chỉ còn khoảng dưới 10%.

4 Bốn nhóm nghề thu hút lao động nhiều nhất thời gian qua đều là lao động kỹ năng thấp như bán hàng/dịch vụ cá nhân (23,7%), thợ thủ công kỹ thuật (18,6%), thợ lắp ráp/vận hành (11,5%) và lao động giản đơn (12,4%).

5 Tăng từ 21,3% năm 2012, chỉ lên 26% năm 2024.

6 Bốn nhóm nghề thu hút lao động nhiều nhất năm 2022 đều là lao động kỹ năng thấp: bán hàng/dịch vụ cá nhân (23,7%), thợ thủ công kỹ thuật (18,6%), thợ lắp ráp/vận hành (11,5%) và lao động giản đơn (12,4%).

7 Thành phố có 2.913 trường mầm non, phổ thông; 29 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên và 01 Trường Bồi dưỡng cán bộ giáo dục Hà Nội với 70,2 nghìn phòng học; hơn 2,2 triệu học sinh; 130 nghìn giáo viên. Thành phố có 105 cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài; 09 văn phòng đại diện nước ngoài; 1.051 trung tâm các loại, trong đó: 946 trung tâm ngoại ngữ, tin học; 105 trung tâm bồi dưỡng kỹ năng.

8 So với năm 2017 mới chỉ có 228 cơ sở GDNN.

9 Nếu tính từ năm 2008 đến nay đã tăng khoảng 45 điểm phần trăm, từ 27,5%

10 đứng đầu về chất lượng giảng dạy tại Việt Nam trong bảng xếp hạng Times Higher Education 2024

11 Thủ đô các nước khác tỷ lệ thất nghiệp thanh niên cũng không quá cao như vậy (VD: Tokyo: 3,5%, Singapore: 6,1%).

12 Chênh lệch hay sự không phù hợp về kỹ năng (skill mismatch) là khái niệm được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) sử dụng để mô tả sự không phù hợp giữa kỹ năng mà người lao động sở hữu và kỹ năng mà công việc yêu cầu.

13 Không những thế, tỷ lệ này đang tăng lên so với 10 năm trước đây chỉ ở mức 14,7%, năm 2012.

14 NSLĐ Hà Nội thấp hơn TP. HCM khoảng 48 triệu đồng mỗi lao động.

15 Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt 5,8%/năm, cao hơn giai đoạn 2011 - 2015 (4,9%/năm).

16 Theo dự báo của Tổ chức Lao động Quốc tế, trong 10 năm tới, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ 70% số việc làm ở mức rủi ro cao bị thay thế bởi công nghệ số.

17 Dự báo đến 2030, dân số Hà Nội trên 65 tuổi sẽ chiếm khoảng 14% (ngưỡng xã hội già), lực lượng lao động có thể bắt đầu giảm về số tuyệt đối sau 2035. Kinh nghiệm Nhật Bản, Hàn Quốc cho thấy già hóa làm chi phí an sinh tăng và tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm nếu không tận dụng được lao động cao tuổi.

18 Thí dụ, kinh tế xanh và chuyển dịch năng lượng đòi hỏi lao động có hiểu biết về phát triển bền vững, kỹ thuật năng lượng tái tạo, quản lý môi trường. Kinh tế tuần hoàn cần kỹ năng về tái chế, thiết kế sản phẩm thân thiện môi trường. Kinh tế tri thức tất nhiên cần tỷ lệ lao động trình độ cao rất lớn. Muốn phát triển các lĩnh vực mới như nông nghiệp công nghệ cao, du lịch xanh, đô thị thông minh, Hà Nội phải chuẩn bị nhân lực tương ứng (chuyên gia nông nghiệp đô thị, nhân viên du lịch có kiến thức văn hóa - lịch sử sâu, kỹ sư quản lý đô thị thông minh...).

19 Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội ban hành Kế hoạch số 181-KH/TU về thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 04-5-2023 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô trong kỷ nguyên mới: Thực trạng, vấn đề và giải pháp
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO