Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, khoa học, công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST) đã trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh cũng như tốc độ phát triển của mỗi địa phương, mỗi quốc gia.
Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị “Về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” nhấn mạnh, nhân lực là một trong những nội dung trọng tâm, cốt lõi nhằm tạo đột phá phát triển KHCN, ĐMST và chuyển đổi số (CĐS), trong đó đòi hỏi có chính sách đặc biệt để thu hút, trọng dụng nhân tài bằng các cơ chế đột phá.
Tỉnh Quảng Ninh hiện đang chuyển đổi phát triển từ “nâu” sang “xanh”, KHCN và ĐMST được xác định là động lực chính cho phát triển và tạo đà bứt phá mạnh mẽ của kinh tế địa phương. Bởi vậy, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho KHCN và ĐMST của tỉnh trong giai đoạn hiện nay là yêu cầu cấp thiết.
1. Thực trạng xây dựng, phát triển nguồn nhân lực KHCN của tỉnh Quảng Ninh
Trong những năm qua, tỉnh Quảng Ninh luôn dành sự quan tâm lớn cho phát triển nguồn nhân lực KHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong đó, tỉnh xác định đầu tư cho giáo dục, đào tạo làm nền tảng cho phát triển bền vững, đồng thời với việc ban hành các cơ chế, chính sách thu hút nhân tài, từng bước xây dựng, phát triển nguồn nhân lực KHCN chất lượng cao cho tỉnh, thể hiện ở một số kết quả nổi bật sau:
Đầu tư vào giáo dục, đào tạo, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Xác định nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt phục vụ yêu cầu CĐS và phát triển kinh tế tri thức, tỉnh Quảng Ninh đặc biệt chú trọng phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục, coi đây là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng học tập và đào tạo trên địa bàn. Chất lượng dạy học các cấp, bậc học không ngừng được nâng cao, từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo thường xuyên được quan tâm đầu tư đồng bộ, hiện đại.
Hệ thống giáo dục của tỉnh không ngừng được củng cố và mở rộng, đa dạng về loại hình, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Các cơ sở giáo dục được sắp xếp tinh gọn, sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư. Tỉnh đã tập trung nâng cấp, đưa vào sử dụng 17 trường học đạt chuẩn quốc gia. Chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý của các cơ sở giáo dục, đào tạo không ngừng được bồi dưỡng, nâng cao. Việc liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp tiếp tục được đẩy mạnh, giúp nâng cao tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm.
Nhằm tạo nền tảng vững chắc cho phát triển lâu dài, tỉnh Quảng Ninh chú trọng phát triển giáo dục, đào tạo theo hướng hội nhập quốc tế, gắn với nhu cầu thực tiễn, trong đó tập trung vào các cơ sở đào tạo nghề và đại học chất lượng cao. Tỉnh chú trọng phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, ĐMST với việc xây dựng trung tâm ươm tạo, hỗ trợ doanh nghiệp KHCN, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới, thương mại hóa sản phẩm khoa học.
Tỉnh Quảng Ninh cũng chú trọng thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và ĐMST tại các cơ sở đào tạo, bởi vậy các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh đóng vai trò quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực KHCN. Năm 2021, Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 35/2021/NQ-HĐND, về thu hút, đào tạo nhân lực cho Đại học Hạ Long, Cao đẳng Việt - Hàn, Cao đẳng Y tế. Nghị quyết đã mở ra cơ hội để các trường bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao chất lượng giảng dạy, nhất là trong đào tạo KHCN. Theo đó, Trường Đại học Hạ Long đã thu hút được 21 trường hợp (14 tiến sĩ, 7 thạc sĩ), góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của trường.
Những năm qua, Trường Đại học Hạ Long được coi là một trong những đơn vị có nguồn nhân lực KHCN hàng đầu của tỉnh Quảng Ninh. Trường đã triển khai kế hoạch nghiên cứu khoa học cho sinh viên và giảng viên, tạo diễn đàn, môi trường trao đổi về chuyên môn, học thuật đáp ứng yêu cầu thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Từ năm 2015 - 2024, Trường Đại học Hạ Long có hơn 1.000 công bố khoa học trong nước và quốc tế, nghiệm thu và triển khai ứng dụng vào thực tế 635 nhiệm vụ KHCN các cấp. Hằng năm, nhà trường dành chi phí từ 4-5% chi cho hoạt động KHCN[1].
Sự phát triển mạnh mẽ của các cơ sở giáo dục chính là nền tảng vững chắc để tạo dựng đội ngũ nhân lực KHCN có kiến thức chuyên sâu, kỹ năng thực hành thành thạo và khả năng thích ứng với những yêu cầu khắt khe của thị trường lao động hiện đại.
Các cơ sở giáo dục, đào tạo nghề cũng đã được nâng cấp với mạng lưới giáo dục nghề nghiệp đông đảo, nhiều ngành, nghề trọng điểm cấp quốc gia, khu vực và quốc tế đáp ứng được nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân. Tính đến hết năm 2024, tỉnh Quảng Ninh có 39 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, được đầu tư nâng cấp về cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo.
Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2025, 80% giảng viên và cán bộ quản lý được đào tạo nâng cao năng lực số, kỹ năng sư phạm phù hợp với môi trường số, tiến tới 100% vào năm 2030, bảo đảm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cho thị trường lao động. Quá trình triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho lao động đã mang lại kết quả rõ rệt, giúp giảm bớt tình trạng thiếu hụt nhân lực có tay nghề, đồng thời đáp ứng được nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt là trong các ngành có yêu cầu kỹ thuật cao.
Các chương trình đào tạo và bồi dưỡng chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cũng như lao động trong các ngành kinh tế trọng điểm đã được triển khai hiệu quả. Theo Sở Nội vụ tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh đã triển khai tổ chức 371 lớp đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước cho hơn 28.644 lượt học viên, với tổng kinh phí bố trí để thực hiện là hơn 80 tỷ đồng.
Trong năm 2025, tỉnh đã mở 1 lớp đào tạo bậc thạc sĩ cho 50 học viên ngành công nghệ thông tin; 2 lớp bồi dưỡng trí tuệ nhân tạo và bảo mật an toàn thông tin mạng cho 100 học viên là cán bộ, công chức chuyên ngành công nghệ thông tin của tỉnh; 5 lớp chuyên đề về công nghệ thông tin, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác tuyên giáo, quy trình quản lý đầu tư công ứng dụng công nghệ thông tin trong sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Ngoài ra, các cơ quan, đơn vị cũng chủ động mở các lớp tập huấn riêng cho cán bộ, công chức, viên chức trong việc sử dụng trí tuệ nhân tạo phục vụ công việc chuyên môn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ khi triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Với nhiều biện pháp quyết liệt, chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Ninh được nâng lên rõ rệt, với tỷ lệ lao động qua đào tạo hết năm 2024 đạt khoảng 87%, trong đó hơn 50% có bằng cấp, chứng chỉ. Năng suất lao động xã hội bình quân của tỉnh luôn trong top đầu cả nước. Tỷ lệ thất nghiệp liên tục giảm từ 3,29% (năm 2020) xuống còn 2,16% (năm 2024), thấp hơn bình quân chung cả nước.
Chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài phát huy hiệu quả
Xác định KHCN, ĐMST và CĐS là trụ cột quan trọng, động lực “then chốt” nâng cao năng lực điều hành, cải cách bộ máy và tạo đột phá trong quản trị địa phương, tỉnh Quảng Ninh đặc biệt chú trọng ban hành chính sách thu hút, hỗ trợ đội ngũ nhân lực KHCN chất lượng cao trong hệ thống chính trị của tỉnh. Từ năm 2014, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU về đẩy mạnh cải cách hành chính và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Từ việc triển khai, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 15-NQ/TU, chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh không ngừng nâng lên, nhiều chỉ tiêu, kế hoạch đề ra đã đạt và vượt. Tỉnh ban hành Đề án Phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó đề xuất nhiều nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách, nâng cao năng lực cơ sở đào tạo và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nhân lực.
Cụ thể hóa chủ trương của Tỉnh ủy, các cấp ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân ban hành các nghị quyết, chương trình, đề án về công tác cán bộ, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, thu hút nhân tài, như: Nghị quyết số 05/2022/NQ-HĐND, ngày 9-10-2022, của Hội đồng nhân dân tỉnh, về thu hút sinh viên xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ và hỗ trợ đào tạo sau đại học cho viên chức ngành y tế, giáo dục; Nghị quyết số 28/2023/NQ-HĐND, ngày 8-12-2023, của Hội đồng nhân dân tỉnh, quy định về chính sách thu hút bác sĩ về làm việc tại một số đơn vị thuộc tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025; Đề án phát triển nguồn nhân lực tỉnh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030; Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2024 - 2030; Đề án CĐS trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo...
Đây là những cơ sở để các sở, ban, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện nhằm phát triển nguồn nhân lực trong từng ngành, lĩnh vực và trên địa bàn địa phương quản lý, trong đó có nguồn nhân lực KHCN phục vụ phát triển doanh nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo tại các đơn vị, địa phương.
Đặc biệt, tỉnh Quảng Ninh đã ban hành nhiều nghị quyết, cơ chế, chính sách, chương trình, đề án nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia; trong đó, nổi bật là Nghị quyết số 57/2025/NQ-HĐND, ngày 17-7-2025, của Hội đồng nhân dân tỉnh, quy định về chính sách thu hút, hỗ trợ nhân lực về KHCN, ĐMST và CĐS trong các cơ quan của hệ thống chính trị thuộc tỉnh giai đoạn 2025 - 2030 (gọi tắt là Nghị quyết số 57).
Đây là một trong những chính sách đầu tiên ở cấp tỉnh trên cả nước thể chế hóa đầy đủ quan điểm của Trung ương về phát triển nhân lực chất lượng cao gắn với CĐS, có tính bao trùm, đồng bộ và hướng đến hiệu quả thực tiễn. Nghị quyết số 57 được xem là “cú hích” mạnh mẽ giúp Quảng Ninh tạo nền tảng nhân lực chất lượng cao, phục vụ phát triển bền vững.
Nghị quyết số 57 thực hiện đồng bộ 4 nhóm chính sách gồm: Chính sách thu hút; chính sách hỗ trợ; chính sách đào tạo sau đại học; chính sách hỗ trợ sử dụng công cụ trí tuệ nhân tạo (AI). Đối tượng áp dụng bao gồm đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đang làm việc, giảng viên, nhà khoa học và sinh viên giỏi được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh.
Điểm nhấn quan trọng nhất của Nghị quyết số 57 là mức hỗ trợ tài chính một lần rất lớn dành cho các đối tượng chất lượng cao khi về công tác tại các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh. Cụ thể, mức hỗ trợ thu hút 1 lần với người có bằng tiến sĩ là 1 tỷ đồng, thạc sĩ là 700 triệu đồng, cử nhân xuất sắc hoặc loại giỏi là 300-500 triệu đồng, người tốt nghiệp đại học hệ chính quy là 200 triệu đồng. Ngoài ra, người được tuyển dụng còn được hỗ trợ thuê nhà 4-5 triệu đồng/tháng và phụ cấp hằng tháng bằng 1 lần mức lương hiện hưởng trong vòng 5 năm.
Ngoài ra, nghị quyết còn quy định ưu tiên quy hoạch, bổ nhiệm chức danh quản lý, tạo điều kiện học tập, nâng cao trình độ cho các cá nhân được thu hút. Đây là điểm thể hiện rõ cách làm thực chất của Quảng Ninh, thu hút người tài không chỉ về thu nhập, mà còn yếu tố môi trường làm việc, cơ hội phát triển.
Nghị quyết số 57 cũng quy định hỗ trợ mạnh mẽ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được cử đi học sau đại học trong lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, an toàn mạng, dữ liệu lớn. Đối với đội ngũ đang công tác, những người trực tiếp tham mưu, triển khai các nhiệm vụ về KHCN, CĐS được hỗ trợ từ 2-9 triệu đồng/người/tháng. Riêng cán bộ, công chức trực tiếp phụ trách về công nghệ thông tin tại cấp xã được hỗ trợ 6 triệu đồng/người/tháng.
Đặc biệt, Quảng Ninh tiên phong đưa vào chính sách hỗ trợ tài chính cho việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công vụ, với mức hỗ trợ tối đa 1 triệu đồng/tháng cho mỗi đơn vị, cá nhân triển khai các phần mềm AI phục vụ công tác chuyên môn. Dự kiến tổng kinh phí thực hiện các chính sách nói trên trong giai đoạn 2025 - 2030 là trên 330 tỷ đồng, được bố trí từ ngân sách địa phương theo phân cấp hiện hành. Đây là khoản đầu tư có tính chiến lược, thể hiện tầm nhìn xa và trách nhiệm của Quảng Ninh đối với sự phát triển bền vững của tỉnh trong tương lai, nhất là trong lĩnh vực KHCN.
Không chỉ đơn thuần là chính sách đãi ngộ, việc ban hành Nghị quyết số 57 của Hội đồng nhân dân tỉnh còn là bước đi chiến lược nhằm từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị, nhất là trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Nguồn nhân lực chất lượng cao được đào tạo, bồi dưỡng bài bản là nền tảng cho một chính quyền số vận hành linh hoạt, minh bạch, hướng tới phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng hiệu quả.
2. Yêu cầu đặt ra và một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho khoa học, công nghệ tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn mới
Sau nhiều năm thực hiện chủ trương phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đến nay số lượng và quy mô nguồn nhân lực nói chung, nhân lực KHCN nói riêng của tỉnh Ninh ngày càng tăng. Năm 2015, nguồn nhân lực KHCN của tỉnh Quảng Ninh có khoảng 800 người, đến năm 2024, con số này đã tăng lên 5.800 người (tăng 7,2 lần so với năm 2015)[2].
Hiện trên địa bàn tỉnh có 33 tổ chức KHCN, trong đó 8 tổ chức công lập được đầu tư bài bản về cơ sở vật chất, nhân lực, đáp ứng nhiệm vụ chuyên môn, cung cấp dịch vụ KHCN, nghiên cứu khoa học, ứng dụng, thực nghiệm và phát triển công nghệ[3].
Nguồn nhân lực tăng về số lượng và chất lượng đã góp phần hiện thực hóa nhiều mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2020 - 2025 đề ra. Tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao, 5 năm 2021 - 2025 ước bình quân tăng 10,4%/năm (đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra), gấp 1,7 lần so với bình quân chung cả nước.
Quy mô kinh tế tăng nhanh, năm 2025 ước đạt 395.000 tỷ đồng, gấp 1,9 lần so với năm 2020; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực bền vững, tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực dịch vụ, thuế sản phẩm tăng từ 93,4% năm 2020 lên ước 95,9% năm 2025. GRDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt trên 11.000 USD, gấp 2,23 lần bình quân chung cả nước, gấp 1,7 lần năm 2020.
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn luôn nằm trong nhóm địa phương đứng đầu cả nước, giai đoạn 2021 - 2025 ước đạt trên 274.000 tỷ đồng, gấp 1,3 lần giai đoạn 2016 - 2020, tăng 3,1%/năm. Năng suất lao động xã hội năm 2025 ước đạt 580 triệu đồng/người, gấp 1,87 lần năm 2020, tăng 13,4%/năm; chỉ số phát triển bền vững cấp tỉnh (PSDI) và chỉ số xanh cấp tỉnh (PGI) luôn nằm trong nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước[4].
Tuy nhiên, Quảng Ninh cũng thẳng thắn nhìn nhận, nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh hiện còn thiếu và cả về số lượng và chất lượng. So với yêu cầu phát triển trong bối cảnh hội nhập và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nguồn nhân lực KHCN của Quảng Ninh vẫn còn hạn chế, đội ngũ tuy đông nhưng thiếu chuyên gia đầu ngành, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao.
Bên cạnh đó, nhân lực KHCN tập trung chủ yếu ở khu vực nhà nước, các thành phố lớn, còn khan hiếm ở doanh nghiệp và vùng nông thôn. Các tổ chức KHCN công lập còn nặng tính hành chính, thiếu cơ chế tự chủ, cơ sở vật chất lạc hậu. Hệ thống đào tạo của tỉnh còn tồn tại một số bất cập, cơ sở vật chất chưa đáp ứng với yêu cầu đào tạo, phương thức đào tạo vẫn theo kiểu cũ, thiếu tính tương tác, sự gắn kết với thực tiễn, học chưa đi đôi với hành, dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo chưa đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
Cơ chế đãi ngộ chưa thực sự hấp dẫn, chưa đủ sức giữ chân và tạo động lực cho cán bộ cống hiến lâu dài. Một số nội dung trong các chính sách chưa quy định rõ ràng, cụ thể về nhóm ngành, lĩnh vực trọng tâm cần ưu tiên thu hút theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện thu hút còn tương đối cao dẫn đến số lượng cá nhân đủ điều kiện thụ hưởng chưa nhiều. Phần lớn nhân lực đang đảm nhiệm các vị trí liên quan phải kiêm nhiệm nhiều công việc, trong khi tính chất công việc đòi hỏi chuyên môn sâu, thường xuyên cập nhật kiến thức, kỹ năng mới.
Thực tế cho thấy, một số cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế về năng lực quản lý và kiến thức pháp lý, năng lực kiến tạo, chuyên môn, CĐS. Cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống dịch vụ công trực tuyến còn bất cập, dữ liệu thiếu đồng bộ. Ở cấp xã, khối lượng công việc liên quan đến CĐS, xử lý dữ liệu, dịch vụ công trực tuyến ngày càng lớn, trong khi cán bộ có chuyên môn về công nghệ thông tin lại rất ít.
Bối cảnh mới đang đặt ra yêu cầu mới đối với phát triển nguồn nhân lực KHCN của tỉnh Quảng Ninh. Đó là việc thích ứng với toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng sự phát triển vượt bậc của KHCN trên thế giới. Bên cạnh đó, cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang đặt ra những yêu cầu mới với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là đội ngũ nhân lực KHCN.
Nghị quyết số 13-NQ/TU, ngày 28-4-2023, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, về phát triển khoa học, công nghệ và ĐMST đến năm 2030, đặt ra mục tiêu: Đến năm 2030 Quảng Ninh thuộc nhóm các địa phương đi đầu cả nước về ứng dụng, chuyển giao KHCN và ĐMST, với tiềm lực, trình độ KHCN và ĐMST đạt mức tiên tiến ở một số lĩnh vực quan trọng; trình độ, năng lực công nghệ, ĐMST của doanh nghiệp và ở một số ngành, lĩnh vực đạt trình độ khu vực, quốc gia, quốc tế; KHCN và ĐMST phát triển vững chắc, thực sự trở thành động lực tăng trưởng kinh tế, góp phần xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh kiểu mẫu, giàu đẹp, văn minh, hiện đại.
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 - 2030 xác định, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong 3 đột phá chiến lược, là yếu tố quan trọng, nền tảng vững chắc tạo đà cho sự phát triển bền vững.
Để tạo đột phá trong phát triển nguồn nhân lực KHCN, các cấp ủy, tổ chức đảng phải nâng cao nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của Đảng về vai trò, vị trí công tác phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới. Tập trung chỉ đạo triển khai đổi mới chế độ tuyển dụng, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước. Chú trọng xây dựng chiến lược dài hạn về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực KHCN chất lượng cao, gắn với định hướng phát triển kinh tế - xã hội.
Đặc biệt, quan tâm chỉ đạo ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo. Xây dựng các nền tảng giáo dục thông minh, sách giáo khoa, giáo trình thông minh. Phát triển hệ thống thông tin giáo dục và nhân lực quốc gia kết nối liên thông với hệ thống thông tin thị trường lao động, việc làm và tích hợp thông tin KHCN, ĐMST của các cơ sở giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia và Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bên cạnh đó, coi trọng mở rộng hợp tác nghiên cứu, trao đổi học thuật với các nhà khoa học trong và ngoài nước, nhằm cập nhật công nghệ hiện đại và xu hướng nghiên cứu tiên tiến. Huy động mạnh mẽ các nguồn lực ngoài ngân sách để đầu tư phát triển tiềm lực KHCN, hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiên cứu, cải thiện điều kiện làm việc.
Hoàn thiện công tác quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng phát triển nhân lực KHCN. Việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ vững chính trị, giỏi chuyên môn, dám nghĩ, dám làm sẽ là nền tảng để tỉnh hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong thời kỳ CĐS và hội nhập quốc tế. Khi công tác cán bộ được thực hiện một cách minh bạch, dân chủ, đổi mới mạnh mẽ, đội ngũ cán bộ sẽ thực sự trở thành nguồn lực chiến lược, động lực thúc đẩy sự phát triển của tỉnh.
Tỉnh Quảng Ninh hướng tới mục tiêu trở thành “điểm sáng trong đào tạo và thu hút nhân lực chất lượng cao”, “điểm đến phát triển bền vững”, “cầu nối hội nhập quốc tế”, do vậy đội ngũ cán bộ trong giai đoạn mới không chỉ vững vàng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, mà còn phải mạnh về năng lực quản trị, tầm nhìn chiến lược, làm chủ công nghệ, biết khai thác dữ liệu và tiên phong thực hiện những cách làm sáng tạo.
Để thu hút và giữ chân nhân tài, cần có chiến lược cả về cơ chế tuyển dụng, đầu tư kết cấu hạ tầng, chương trình đào tạo đến chính sách đãi ngộ và xây dựng môi trường làm việc năng động, sáng tạo. Điều kiện làm việc tốt, môi trường nghiên cứu hiện đại, thu nhập và đãi ngộ tương xứng sẽ là những yếu tố giữ chân nhân tài, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển công nghệ cao, nâng sức cạnh tranh nền kinh tế.
Khuyến khích hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ; hình thành các quỹ hỗ trợ ĐMST, quỹ tài năng trẻ để hỗ trợ khởi nghiệp, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Chú trọng khơi dậy tinh thần “dám nghĩ, dám làm”, lan tỏa văn hóa ĐMST trong cộng đồng, biến KHCN và ĐMST không chỉ là nhiệm vụ của chính quyền, mà trở thành khát vọng chung của toàn xã hội.
Bên cạnh đó, cần tăng cường thu hút đa dạng các nguồn lực cho KHCN và ĐMST, nhất là khối tư nhân, doanh nghiệp FDI trong đầu tư phát triển KHCN và ĐMST. Xây dựng các chính sách đặc thù, cho phép thử nghiệm cơ chế, chính sách với công nghệ và mô hình kinh doanh mới nhằm tháo gỡ rào cản và tạo không gian đổi mới. Song song với đó là đầu tư mạnh cho hạ tầng KHCN, thúc đẩy liên kết giữa nhà trường - viện nghiên cứu - doanh nghiệp để đào tạo nhân lực chất lượng cao.
Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao đổi mới KHCN vào các lĩnh vực trọng tâm, như công nghiệp chế biến chế tạo, du lịch - dịch vụ, kinh tế biển, CĐS, y tế, giáo dục, giao thông, an ninh trật tự và phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ; gắn việc nghiên cứu cơ bản về KHCN với thực tiễn địa phương, ứng dụng hiệu quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn và công tác đào tạo cán bộ.
Tỉnh Quảng Ninh đặt mục tiêu đến năm 2045, KHCN, ĐMST và CĐS phát triển vững chắc, góp phần đưa Quảng Ninh trở thành tỉnh phát triển, có thu nhập cao; có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GRDP; thuộc nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước về ĐMST, CĐS. Với thành tựu đã đạt được, cùng định hướng rõ ràng, Quảng Ninh đang hội tụ đủ điều kiện để trở thành điểm sáng về phát triển KHCN và ĐMST của cả nước. Khi KHCN thực sự được đặt ở vị trí trung tâm, cùng các giải pháp đồng bộ về thể chế, hạ tầng, nhân lực và văn hóa ĐMST, tỉnh Quảng Ninh hoàn toàn có thể hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới./.
[1]Thu Phương: “Trường Đại học Hạ Long kỷ niệm 10 năm thành lập (13/10/2014 - 13/10/2024)”, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, ngày 13-10-2024, https://www.quangninh.gov.vn/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=144653
[2]Thu Chung: “Nuôi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ”, Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, ngày 19-3-2025, https://quangninh.gov.vn/chuyen-de/carnaval2019/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=152259
[3]Song Hà: “Hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số”, Báo Quảng Ninh điện tử, ngày 26-8-2025,https://baoquangninh.vn/ho-tro-doanh-nghiep-ung-dung-khoa-hoc-cong-nghe-va-chuyen-doi-so-3373232.html
[4]Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 - 2030