Phát triển kinh tế số trong bối cảnh Thủ đô Hà Nội bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc - nhìn từ thực tiễn ngành công nghiệp văn hóa
Thực tế, trong nền kinh tế hiện đại với sự sáng tạo, nhiều nguồn lực bền vững định hướng tập trung cho phát triển và di sản văn hóa chính là một động lực quan trọng cho quá trình chuyển mình phát triển của nhiều quốc gia. Bài viết này nhóm tác giả sẽ tập trung phân tích hướng phát triển kinh tế số với thực tiễn ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh mới của Thủ đô Hà Nội. Trên cơ sở đó, nghiên cứu tập trung nhóm giải pháp phát triển ngành công nghiệp này theo cách tiếp cận sáng tạo trong thời gian tới.

Xu hướng phát triển công nghiệp văn hóa trong nền kinh tế số
Trong bối cảnh chuyển đổi số ngày càng mạnh mẽ, các quốc gia đã dần nhận thấy sức mạnh kỳ diệu của kinh tế số. CNVH chính là minh chứng thành công với sự phát triển nhiều sản phẩm mới hấp dẫn thị trường nhờ cộng hưởng của nền tảng văn hóa, tri thức, sáng tạo, cùng với nhân lực chất lượng cao và công nghệ tạo nên sự phát triển của kinh tế số dựa trên sự sáng tạo cùng với công nghệ trong kỷ nguyên cách mạng.
Thực tiễn đã minh chứng sự phát triển năng động của nền kinh tế số tại nhiều quốc gia châu Á bằng những cách thức sáng tạo đã tạo động lực tăng trưởng mạnh mẽ. Đặc biệt, trong 5 năm trở lại đây, khu vực này chính là điển hình cho sự thành công trong phát triển CNVH với nhiều sản phẩm sáng tạo. Nhật Bản vẫn thể hiện được cảm hứng mạnh mẽ thông qua tính cách đẹp của chú mèo “Kitty”, Hàn Quốc với nhiều sản phẩm hấp dẫn trong công nghiệp điện ảnh, giải trí.
Trung Quốc thu hút khách du lịch, trong đó nổi bật là bảo tàng với những sản phẩm văn hóa sáng tạo thể hiện yếu tố di sản hấp dẫn trong nền kinh tế số. Tại mỗi quốc gia cũng có những điểm nhấn với những điểm đến thu hút khách trong nước và quốc tế đi cùng những chính sách phát triển, các thành phố thủ đô với những nét đặc sắc mang dấu ấn giá trị văn hóa của đời sống hiện đại.
Chính trong nền kinh tế số, cùng với công nghệ hiện đại, CNVH đã phát triển những không gian mới theo hướng ngày càng sáng tạo. Đây là động lực nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa hoặc dịch vụ, không chỉ mở rộng thị phần cho các quốc gia, mà còn tăng vị thế, tầm ảnh hưởng, quyền lực mềm và danh tiếng quốc gia.
Thành công trong phát triển CNVH của mỗi quốc gia cũng tạo sự gắn kết giữa các giá trị của vùng, quốc gia, khu vực trong một hệ sinh thái sáng tạo toàn cầu. Chính sự phát triển này tạo dựng nên nhiều ngành/lĩnh vực mới như nghệ thuật số, công nghệ nghệ thuật, thiết kế đồ họa, kỹ thuật số, fashion marketing, thiết kế đồ họa,… và cùng với đó là sự phát triển của nhiều công nghệ hỗ trợ.
Một số xu hướng phát triển công nghiệp văn hóa trong nền kinh tế số
Tích hợp công nghệ: Xu hướng tích hợp công nghệ được thể hiện ở: (i) sử dụng công nghệ trong sản xuất/phát triển sản phẩm/dịch vụ sáng tạo và (ii) sử dụng công nghệ trong phân phối sản phẩm/dịch vụ sáng tạo. Ở Trung Quốc, nền tảng TikTok đã tích hợp AI và công nghệ dữ liệu lớn để gợi ý nội dung phù hợp với từng người dùng, từ đó đẩy mạnh sự lan tỏa của các sản phẩm sáng tạo văn hóa. Ngoài ra, các kênh thương mại điện tử cũng ra tăng đáng kể doanh thu cho các dịch vụ và hàng hóa sáng tạo (UNCTAD1, 2024).
Toàn cầu hóa và hội nhập văn hóa: Xu hướng này được nhận thấy rõ nét trong quá trình tích hợp những yếu tố văn hóa của quốc gia vào thị trường quốc tế. Những phân tích về thực tiễn thành tựu trong phát triển kinh tế tại các quốc gia châu Á cho thấy thành công của mô hình xuất khẩu văn hóa Hàn Quốc, mô hình kết hợp truyền thống và toàn cầu hóa qua anime và trò chơi điện tử của Nhật Bản, ngành CNVH do chính phủ dẫn dắt và mở rộng quyền lực mềm của Trung Quốc.
Bền vững và đạo đức: Xu hướng bền vững và đạo đức cụ thể trong CNVH được thể hiện thông qua: (i) sử dụng những vật liệu thân thiện với môi trường và (ii) nâng cao trách nhiệm xã hội trong các sản phẩm. Ngoài ra, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khi các doanh nghiệp phát triển các sản phẩm hướng đến trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh có thể nâng cao hình ảnh thương hiệu và tạo lòng tin từ khách hàng, đặc biệt là thế hệ trẻ (McDonagh & Prothero2, 2014). Xu hướng bền vững không chỉ là một mục tiêu đạo đức mà còn trở thành một chiến lược cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp trên thị trường.
Hỗ trợ chính sách từ chính phủ: Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong tạo ra hệ sinh thái thúc đẩy phát triển các lĩnh vực trong nền kinh tế, đặc biệt là những ngành công nghiệp theo hướng sáng tạo. Điển hình là Singapore khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp theo hướng sáng tạo thông qua các chính sách hỗ trợ tài chính, đặc biệt là chương trình Create Singapore 2025.
Theo Quỹ Nghiên cứu Quốc gia Singapore (NRF), chương trình này bao gồm các sáng kiến đào tạo, quỹ hỗ trợ startup và cơ sở hạ tầng kỹ thuật số, giúp ngành kinh tế sáng tạo của Singapore phát triển mạnh mẽ và cạnh tranh toàn cầu. Trung Quốc cũng đã hỗ trợ mạnh mẽ cho nền kinh tế trong những ngành định hướng sáng tạo qua các chính sách phát triển công nghệ và hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa trong nền kinh tế số
Trong nền kinh tế hiện đại, CNVH phản ánh văn hóa được sản xuất và phân phối thông qua sự sáng tạo của các cá nhân và cộng đồng. Đồng thời, để tạo ra các sản phẩm văn hóa, cần có sự kết hợp giữa sự sáng tạo, công nghệ sản xuất hiện đại và cơ sở hạ tầng kết nối. Cho nên, phát triển ngành công nghiệp này chính là phát triển các ngành sản xuất sản phẩm trải nghiệm với những nhân tố sáng tạo và tập trung vào phân phối thị trường tiêu dùng rộng lớn.
Ở mỗi sản phẩm trong CNVH hàm chứa giá trị của di sản, vẻ đẹp của thời đại, sự sáng tạo, được bồi đắp và phát triển qua các thế hệ. Ngành CNVH cần thể hiện tính sáng tạo, có khả năng sản xuất, thương mại hóa sản phẩm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Để phát triển CNVH, các nhà quản lý, các doanh nghiệp và các nhà sáng tạo cần am hiểu lĩnh vực này, tập trung phát triển những không gian sáng tạo phối hợp với công nghệ số và khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân đầu tư các sản phẩm mới.
Đặc trưng của các sản phẩm trong ngành công nghiệp này cần bảo đảm tính độc đáo, giá trị văn hóa, tính thẩm mỹ và vẫn thể hiện tính kinh tế. Đây là cơ sở để các sản phẩm có thể tiếp cận với thị trường tiêu dùng. Như vậy, ngành công nghiệp này chính là bước tiếp nối của sự phát triển sáng tạo nền kinh tế phù hợp với bối cảnh mới của nền kinh tế toàn cầu.
Hà Nội đang dần hiện thực hóa trở thành một trong những trung tâm sáng tạo tại Việt Nam. Năm 2025, Thủ đô đã nằm trong 20 địa điểm văn hóa nổi bật nhất trên thế giới, đứng thứ 9 toàn cầu và đứng đầu châu Á (Tạp chí Time Out bình chọn). Đây là một vùng đất hội nhập và hội tụ những giá trị văn hóa và dần định hình trở thành một trung tâm tạo nên liên kết vùng.
Về chủ trương, chính sách, có thể nhận thấy Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22-02-2022 của thành phố Hà Nội về phát triển CNVH trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2045; Quyết định số 3777/QĐ-UBND ngày 25-7-2023 của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt đề cương Nhiệm vụ “Nghiên cứu, xác định một số sản phẩm, dịch vụ CNVH Thủ đô trong tình hình mới” chính là những nỗ lực thực tiễn của địa phương nhằm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 05-5-2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đây cũng là cơ sở tạo khung pháp lý nhằm đẩy mạnh quá trình marketing địa phương trong bối cảnh phát triển nền kinh tế số với các nhóm chính sách liên quan như phát triển các nhóm dịch vụ, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư cơ sở hạ tầng, công nghệ. Có thể thấy, việc áp dụng công nghệ hiện đại trong bối cảnh phát triển nèn kinh tế số đã, đang và sẽ tiếp tục thúc đẩy phát triển các sản phẩm văn hóa trong tương lai, thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế, góp phần bảo tồn giữ gìn nét văn hóa truyền thống của Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung.
Về lĩnh vực phát triển, các ngành sáng tạo đem lại giá trị gia tăng cao và Hà Nội đang có tiềm năng lớn trở thành đô thị sáng tạo với hệ thống các di sản rất hấp dẫn. Từ sự phát triển CNVH trên thế giới và phân bố trong nước có thể thấy được tiềm năng ở một số nhóm ngành có thể phát triển tại Hà Nội trong bối cảnh hiện nay.
Một là, du lịch văn hóa: Ngành du lịch Hà Nội đã triển khai xây dựng hoạt động trải nghiệm du lịch ảo bằng công nghệ tham quan trực tuyến 3D tour nhằm hỗ trợ du khách tiếp cận và hiểu thêm về các giá trị tự nhiên - văn hóa của Thủ đô Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung; Tour đêm Văn Miếu - Quốc Tử Giám “Tinh hoa đạo học”, Di tích Nhà tù Hoả Lò, Chuyến tàu “Hành trình Di sản”, cùng với các không gian số tại một số bảo tàng. Tại Hà Nội đã tổ chức mô hình với rất nhiều sản phẩm đêm khác, thể hiện sự sáng tạo không ngừng nhằm dần tạo nên hệ sinh thái sáng tạo tuyệt vời. Ngành du lịch Hà Nội đã triển khai xây dựng hoạt động trải nghiệm.
Hai là, thủ công mỹ nghệ với nhiều làng nghề: Làng cổ Bát Tràng (huyện Gia Lâm) ứng dụng công nghệ VR 3D cùng lễ hội làng với đầy đủ các phong tục, nghi lễ truyền thống thông qua trải nghiệm không gian ảo 3D,... Hội đồng thủ công thế giới đã công nhận làng nghề Thủ công Bát Tràng và làng nghề lụa Vạn Phúc tháng 2-2025. Đây là hai làng nghề đầu tiên tại Việt Nam đã gia nhập mạng lưới thủ công làng nghề sáng tạo thủ công thế giới và đã đáp ứng 4 tiêu chí về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, đặc biệt là các làng nghề này có một hệ sinh thái hỗ trợ phát triển các sản phẩm thủ công.
Ba là, nghệ thuật biểu diễn với sự xuất hiện của những màn hình Led cùng với những hiệu ứng công nghệ sáng tạo hấp dẫn tại nhiều sân khấu đáp ứng được ý tưởng nghệ thuật của đạo diễn, các chương trình, những không gian bảo tàng ứng dụng công nghệ sáng tạo.
Bốn là, điện ảnh với hơn 40 rạp chiếu phim, trong đó có 31 rạp tư nhân được đầu tư cơ sở vật chất hiện đại.
Năm là, nghệ thuật ẩm thực Hà thành cũng có triển vọng phát triển với nhiều thực đơn đặc trưng kết hợp với các sản phẩm du lịch hấp dẫn.
Một số giải pháp phát triển nền kinh tế số của Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh mới
Một là, tư duy chiến lược phát triển các ngành, các sản phẩm trong kinh tế số tại địa phương
Hà Nội hướng đến phát triển trở thành thủ đô sáng tạo. Các cơ quan quản lý phát triển văn hóa của địa phương cần có cách tiếp cận mới về sự phối hợp với các cơ quan ban ngành, tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng để có kế hoạch hành động hiệu quả. Có thể nhận thấy, tư duy chiến lược phát triển sản phẩm văn hóa liên vùng trong bối cảnh mới tại Vùng Đồng bằng sông Hồng với trọng tâm là vùng Thủ đô chính là một cách tiếp cận sáng tạo.
Các giá trị văn hóa cần được coi là nguồn lực đầu vào cho quá trình phát triển kinh tế đất nước tạo sự vươn mình mạnh mẽ của dân tộc trong kỷ nguyên sáng tạo của các quốc gia trên thế giới. Các sản phẩm sáng tạo số chính là điểm nhấn cho phát triển CNVH theo hướng bền vững.
Hai là, hoàn thiện khung chính sách để phát triển kinh tế số. Chính sách quản lý cùng với tư duy đổi mới sáng tạo là cần thiết nhằm quản lý sáng tạo trong nền kinh tế số
Hiện nay, cần hoàn thiện khung chính sách và pháp lý đối với kinh tế số, quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, phát triển các cơ chế khuyến khích hợp tác doanh nghiệp và tổ chức kinh tế, tăng cường thu hút đầu tư công nghệ và dịch vụ sáng tạo.
Thực tiễn, các chính sách quản lý CNVH trong nền kinh tế số tại Hà Nội cần tiếp tục đổi mới thông qua phối hợp của các cơ quan tổ chức: đơn vị chỉ đạo, đơn vị tổ chức, đơn vị phối hợp. Hơn nữa, quản lý trong các ngành CNVH không chỉ tập trung sản xuất các sản phẩm hiệu quả mà sáng tạo và duy trì cách thức tổ chức để sản xuất và phân phối hiệu quả sản phẩm.
Do đó, các nhà quản lý cần giải quyết việc tạo lập hình thức tổ chức sáng tạo, trong đó không phải là tăng cường tài chính hay tăng cường kiến thức cho các tổ chức mà tăng cường biểu tượng cho tổ chức; cần quản lý quá trình tạo ra biểu tượng và tiếp tục đổi mới sáng tạo kết hợp với sản xuất, từ đó tạo ra những ảnh hưởng quan trọng trong thực tiễn quản lý và triển khai những mô hình của tổ chức.
Tăng cường điều phối giữa chính phủ và các bên liên quan: cần phát triển mô hình trung tâm quốc gia và quỹ quốc gia để kết nối giữa nhà nước, giới chuyên môn, và các đối tác trong từng lĩnh vực văn hóa - sáng tạo. Để đẩy mạnh sự liên kết này, chính phủ và doanh nghiệp cũng cần xây dựng mạng lưới và cụm công nghiệp sáng tạo để tăng cường tương tác giữa các đối tác. Vai trò điều phối của Thủ đô sáng tạo nhằm phát triển CNVH trong nền kinh tế số thực sự có ý nghĩa.
Phát triển năng lực và chuyển đổi số: Chính phủ, địa phương và doanh nghiệp cần ưu tiên nâng cao năng lực công nghệ và chuyển đổi số trong các ngành CNVH sáng tạo; cũng như thiết kế các chương trình đào tạo và giáo dục nâng cao chuyên môn cho ngành công nghiệp sáng tạo, cần tập trung đầu tư hạ tầng công nghệ và phát triển các nền tảng số cho ngành công nghiệp sáng tạo, bao gồm xây dựng hệ thống dữ liệu và công cụ hỗ trợ nghệ sĩ, nhà sáng tạo, cùng doanh nghiệp văn hóa.
Chính sách quản lý theo hướng sáng tạo trong kinh tế số tại địa phương có nhiều hướng triển vọng. Các lĩnh vực như phim ảnh, âm nhạc, xuất bản, trò chơi điện tử và thiết kế thời trang có tiềm năng lớn trong ứng dụng công nghệ số để nâng cao hiệu quả sản xuất và phân phối. Hợp tác giữa các trường đại học, trung tâm nghiên cứu, các doanh nghiệp, địa phương cũng là giải pháp hiệu quả để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường lao động trong CNVH.
Thành phố cần chuyên nghiệp hóa quản lý sản phẩm văn hóa nhằm phát triển những nhóm sản phẩm mới; Tăng cường kết nối: giao lưu, hợp tác quốc tế, liên doanh, liên kết, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và học tập chuyên sâu kinh nghiệm các nước về phát triển các CNVH của địa phương; Liên kết vùng trong phát triển CNVH nhằm phát triển cơ sở hạ tầng kết nối; thống nhất quảng bá xúc tiến phát triển các sản phẩm trong ngành công nghiệp này; sáng tạo những sản phẩm có tính liên vùng.
Thứ ba, thu hút nguồn lực đầu tư phát triển các sản phẩm sáng tạo trong CNVH.
Thành phố cần chủ động triển khai các chính sách thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế phát triển CNVH. Về đầu tư công, đây là nguồn lực quan trọng định hướng tạo nền tảng hệ sinh thái sáng tạo, định hướng không gian sáng tạo và thu hút các nguồn lực giá trị. Đặc biệt, Thủ đô cần có chính sách xúc tiến thương mại và đầu tư để các doanh nghiệp tư nhân đầu tư và cộng đồng tham gia vào các dự án phát triển các sản phẩm văn hóa, tạo động lực phát triển cho Thủ đô trong giai đoạn tới.
Tập trung sáng tạo nhóm sản phẩm văn hóa triển vọng: Ngành CNVH của một quốc gia phát triển thể hiện ở sự sáng tạo, hấp dẫn của các sản phẩm trên thị trường. Hà Nội có khả năng phát triển rất nhiều các sản phẩm văn hóa dựa trên sự đa dạng về địa lý, văn hóa, xã hội ở mỗi vùng miền, đặc biệt là sự đa dạng của nhiều di sản văn hóa thế giới, di sản văn hóa quốc gia và sự kết hợp với sự sáng tạo và công nghệ hiện đại.
Chất lượng sản phẩm văn hóa tại các địa phương cần tập trung phát triển các sản phẩm văn hóa tuyệt vời: đầu tư cho các nghiên cứu nhằm phát triển các sản phẩm văn hóa mới có tính sáng tạo, có thể triển khai và có khả năng thương mại hóa. Cụ thể một cách tiếp cận phát triển sản phẩm địa phương liên vùng với vai trò điều phối của Hà Nội.
Phát triển mô hình sản phẩm văn hóa tại đồng bằng sông Hồng đi cùng với tư duy đổi mới sáng tạo và quản lý sáng tạo. Tư duy tầm nhìn chiến lược phát triển các sản phẩm cần gắn liền với phát triển thương hiệu quốc gia. Đầu tư cho nghiên cứu bài bản để tạo ra những sản phẩm văn hóa với những dấu ấn riêng và điều đó phụ thuộc vào hoạch định chính sách.
Phát triển nhóm sản phẩm văn hóa triển vọng với từng địa phương và gắn với giá trị chung của vùng: chất lượng sản phẩm văn hóa cần tập trung phát triển các sản phẩm văn hóa: đầu tư cho các nghiên cứu nhằm phát triển các sản phẩm văn hóa mới có tính sáng tạo, có thể triển khai và có khả năng thương mại hóa tại các địa phương trong vùng đồng bằng sông Hồng.
Từ bối cảnh chung có thể nhận thấy được tiềm năng ở một số nhóm sản phẩm văn hóa có triển vọng phát triển trong quá trình liên kết vùng: (i) Sản phẩm thủ công mỹ nghệ và làng nghề truyền thống với nhiều nguồn nguyên liệu; (ii) Sản phẩm văn hóa số và đa phương tiện. tạo nên sự tích hợp các nhóm sản phẩm; (iii) Sản phẩm văn hóa gắn liền với du lịch tạo một hành trình du lịch kết nối giữa các địa phương; (iv) Sản phẩm nghệ thuật đương đại và sáng tạo với điểm nhấn là một số không gian sáng tạo; (v) Sản phẩm văn học và xuất bản.
Một hướng phát triển mới đó là Hà Nội có vai trò điều phối phát triển các sản phẩm văn hóa liên vùng tại đồng bằng sông Hồng có triển vọng trong bối cảnh CNVH ngày càng có những động lực mới. Điều phối quản lý giữa các địa phương trong vùng và tổng thể quốc gia chính là cách thức triển khai hiệu quả để tạo dựng hệ sinh thái, không gian sáng tạo mới bằng nhiều dự án sáng tạo.
Mô hình quản lý sáng tạo của các địa phương cũng thể hiện cách tiếp cận mở, thể hiện ở sự điều phối liên ngành giữa các nhà quản lý, các tổ chức, các doanh nghiệp, cộng đồng, từng người dân và thu hút những nguồn lực sáng tạo trong hệ sinh thái sáng tạo, từ đó sẽ tạo được sự lan toả của những giá trị văn hóa qua những sản phẩm CNVH đặc sắc trong nền kinh tế số.
Thứ tư, phát triển hạ tầng và không gian sáng tạo
Địa phương đầu tư chuyên nghiệp về hạ tầng và các không gian sáng tạo phát triển CNVH tạo nên những giá trị và sự hấp dẫn cho các sản phẩm.. Chúng ta cần (i) tập trung tiềm năng vốn có về văn hóa và lịch sử, (ii) tích hợp những ý tưởng sáng tạo trong các di sản văn hóa của đất nước, (iii) tích hợp công nghệ hiện đại trong những sản phẩm, điểm đến di sản của Thủ đô.
Tích hợp công nghệ hiện đại là một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng và trải nghiệm của các sản phẩm, dịch vụ liên quan đến di sản. Các công nghệ như số hóa dữ liệu di sản, phát triển những ứng dụng sáng tạo trong các sản phẩm, quản lý thông tin di sản qua nền tảng kỹ thuật số và tạo các ứng dụng số để khách hàng tiếp cận đầy đủ các thông tin.
Về những không gian sáng tạo, các sản phẩm văn hóa chỉ thực sự phát triển và tiếp cận với khách hàng khi được thể hiện thông qua các không gian sáng tạo. Mô hình “cụm CNVH” nên được thử nghiệm như một số quốc gia đã thực hiện thành công. Hình thành những tổ chức, trung tâm quốc gia kể trên chính là bước đầu tiên để hình thành cụm công nghiệp sáng tạo.
Chính phủ và doanh nghiệp cần phối hợp xây dựng các cụm công nghiệp sáng tạo tại các thành phố lớn, như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, nhằm phát triển một môi trường thuận lợi cho các hoạt động sáng tạo, qua đó thu hút đầu tư và nhân tài. Tiếp đến, không gian sáng tạo cũng có thể là những xưởng sáng tạo chuyên sâu các sản phẩm văn hóa trong một hoặc một số lĩnh vực thiết kế, thời trang, hội hoạ, hậu kỳ phim ảnh, phát triển sản phẩm sáng tạo...
Đây chính là không gian có sự tương tác rất mở của các chủ thể là những nhà sáng tạo như các nghệ sĩ, giới trẻ, các startup văn hóa,... Trong bối cảnh phát triển công nghệ hiện đại, chính không gian thực và không gian ảo này trong tổng thể sẽ tạo nên mạng lưới tri thức sáng tạo nhằm phát triển các sản phẩm sáng tạo trong CNVH.
Thứ năm, phát triển nhân lực tài năng số.
Trước hết, để phát triển kinh tế số, địa phương cần triển khai đào tạo bài bản, tuyển chọn, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nhân lực trong các ngành CNVH và đây chính là giải pháp chiến lược. Xây dựng các chương trình đào tạo sinh viên, nhân tài của thành phố đi học tập, tu nghiệp, huấn luyện nâng cao ở nước ngoài trong một số lĩnh vực văn hóa mà thành phố còn thiếu hoặc tư nhân không tham gia.
Một điểm khác biệt nữa đòi hỏi để có thể tham gia hiệu quả là nguồn nhân lực cần có hiểu biết, cảm thụ về nghệ thuật và năng lực sáng tạo về thẩm mỹ ở các cấp độ từ các nhà quản lý chiến lược, quản lý cấp trung đến những nhân sự tác nghiệp. Hơn nữa, thực hiện chế độ đãi ngộ đặc biệt để thu hút nhân lực chất lượng cao, được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm chuyên môn từ các nước, từ các lĩnh vực, địa phương khác nhau ở Việt Nam liên quan đến CNVH.
Bên cạnh đó, tổ chức các chương trình kết nối các bên liên quan trong ngành để thúc đẩy trao đổi kiến thức và nâng cao năng lực chuyên môn, qua đó xây dựng được một cộng đồng chuyên nghiệp liên ngành cho các ngành CNVH... Đồng thời, nâng cao năng lực và cải thiện kỹ năng quản lý và kỹ năng kinh doanh của các nhà quản lý văn hóa thông qua các chương trình phát triển chuyên môn cùng với các chứng chỉ đào tạo.
Để phát triển nguồn nhân lực và đẩy mạnh hợp tác quốc tế, Việt Nam cần tạo ra chính sách ưu đãi và môi trường làm việc thuận lợi để thu hút các nhân tài sáng tạo trong và ngoài nước. Các chương trình học bổng, cuộc thi sáng tạo và chương trình hỗ trợ khởi nghiệp có thể được tổ chức để phát hiện và nuôi dưỡng tài năng trẻ.
Ngoài ra, thành phố cũng cần tăng cường hợp tác quốc tế để tiếp thu và công nhận lẫn nhau, đồng thời thúc đẩy sự đa dạng trong sáng tạo và văn hóa, cùng với phát triển các mạng lưới thương mại quốc tế để tăng cường nhu cầu đối với các sản phẩm sáng tạo. Ngoài ra, tăng cường công nhận lẫn nhau về các sản phẩm sáng tạo giữa Việt Nam và các quốc gia đối tác không chỉ tạo điều kiện xuất khẩu văn hóa mà còn thúc đẩy bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực sáng tạo. Điều này giúp bảo đảm các sản phẩm sáng tạo của Việt Nam được bảo vệ và tôn trọng trên thị trường quốc tế, đồng thời nâng cao giá trị và uy tín của các thương hiệu sáng tạo của Thủ đô.
Nền kinh tế thế giới đang đứng trước những xu thế mới với quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, trong đó châu Á trỗi dậy và những đặc trưng văn hóa ngày càng thu hút thị trường tiêu dùng hiện đại. Hà Nội đang trở thành một điểm đến thu hút du lịch toàn cầu gắn với phát triển bền vững trong nền kinh tế số.
Công nghệ nền tảng của cuộc cách mạng này với những ứng dụng cần triển khai trong mọi lĩnh vực, thể hiện sự tiến bộ, bùng nổ sự sáng tạo, cùng với vai trò của chính quyền địa phương trong thúc đẩy phát triển nền kinh tế ở tầm quản trị chiến lược. Chính kinh tế số tạo nên những thay đổi mang tính cách mạng, chuyển đổi sâu sắc và những dấu ấn của CNVH là minh chứng đầy thuyết phục cho sự chuyển mình đầy sáng tạo, những thành công bước đầu và trở thành động lực mới cho phát triển của Thủ đô.
Tài liệu tham khảo
1) Nye, J. S. (1990). Bound to lead: The changing nature of American power. Basic Books.
2) Rothman, S. B. (2011). Revising the soft power concept: What are the means and mechanisms of soft power? Journal of Political Power, 4(1), 49–64. https://doi.org/10.1080/2158379X.2011.556346
3) Bùi Hoài Sơn, & Phạm Thu Hương (2024). Tiêu dùng văn hóa trong bối cảnh mới và một số vấn đề đặt ra. Phát triển thị trường văn hóa Việt Nam trong bối cảnh mới (tr. 178–179). Hội thảo khoa học quốc tế tổ chức ngày 26 tháng 11 năm 2024, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
4) UNESCO (2009). Framework for Cultural Statistics (FCS). UNESCO Institute for Statistics.
5) Đỗ Thị Kim Hiên (2022). Ứng dụng sáng tạo hoa văn trống đồng Đông Sơn trong thiết kế áo dài. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội
6) Trần Thúy Quỳnh, Võ Thị Ngọc Anh, Lê Hồng Ngọc, Phùng Thị Hiền, & Nguyễn Thị Thu Hường (2022). Nghiên cứu họa tiết thổ cẩm dân tộc Hà Nhì đen ứng dụng trong thiết kế áo dài Việt Nam hiện đại. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội
7) Trương Tiến Dũng. (2016). Biểu hiện của văn hóa Huế và Việt Nam qua một số sản phẩm lưu niệm ở Huế. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, 3(129), 115–125.
8) Hsu, C. H., & Tsai, W. C. (2015). A design strategy of cultural and creative products on the global market. In P.L.P. Rau (Ed.), CCD 2015, Part I, LNCS 9180, 36-48. Springer International Publishing. https://doi.org/10.1007/978-3-319-20907-4_4
9) Song, Y. Q., & Xu, J. W. (2024). Nghiên cứu và thực hành chiến lược thiết kế sản phẩm văn hóa sáng tạo của cầu ở Vũ Hán [武汉桥梁文化文创产品设计策略研究与实践]. Tạp chí Thiết Kế, 37(4), 14-17. https://doi.org/10.20055/j.cnki.1003-0069.001523
10) Wang, Y.-C., & Wang, B.-J. (2024). Nghiên cứu thiết kế sáng tạo trong sản phẩm văn hóa trang trí hoa văn trên bánh ở Sơn Tây [山西花馍文化在文创产品中的创新设计研究]. Green Packaging Research & Design, 18(2), 160-163. https://doi.org/10.19362/j.cnki.cn10-1400/tb.2024.02.036
11) Clarke, J. (2013). Experiential aspects of tourism gift consumption. Journal of Vacation Marketing, 19(1), 75–87. https://doi.org/10.1177/1356766712461406
12) Liu, L., & Zhao, H. (2024). Research on consumers’ purchase intention of cultural and creative products—Metaphor design based on traditional cultural symbols. PLOS ONE, 19(5), e0301678. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0301678
13) Guo, L., Hang, Y., & Wu, J. (2023). A study on the differences of consumers’ emotional experience of cultural creative products in the Palace Museum of Beijing. In P.-L. P. Rau (Ed.), HCII 2023, LNCS 14024, 141–151. Springer Nature Switzerland AG. https://doi.org/10.1007/978-3-031-35946-0_12
14) UNCTAD. (2024). Business e‑commerce sales and the role of online platforms (UNCTAD Technical Note No. 1). United Nations Conference on Trade and Development.
15) McDonagh, P., & Prothero, A. (2014). Sustainability marketing research: Past, present and future. Journal of Marketing Management, 30(11–12), 1186–1219. https://doi.org/10.1080/0267257X.2014.943263
1 UNCTAD. (2024). Business e‑commerce sales and the role of online platforms (UNCTAD Technical Note No. 1). United Nations Conference on Trade and Development.
2 McDonagh, P., & Prothero, A. (2014). Sustainability marketing research: Past, present and future. Journal of Marketing Management, 30(11–12), 1186–1219. https://doi.org/10.1080/0267257X.2014.943263
