Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0 ở tỉnh Quảng Ninh
Sau hơn một thập niên chuyển dịch từ “nâu” sang “xanh” trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, tỉnh Quảng Ninh - “Việt Nam thu nhỏ” đang lựa chọn con đường phát triển không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng. Bài tham luận làm rõ tư duy phát triển bền vững của tỉnh Quảng Ninh: bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển kinh tế rừng và kinh tế biển, xây dựng du lịch bền vững với hạt nhân Vịnh Hạ Long, “xanh hóa” ngành than và công nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số và quan trắc môi trường tự động. Từ thực tiễn chính sách và kết quả bước đầu (chỉ số xanh, chất lượng môi trường biển, đồng thuận xã hội), tham luận đề xuất nhóm giải pháp thể chế - công nghệ - quản trị nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, nâng cao chất lượng sống của người dân, phấn đấu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030.

Tỉnh Quảng Ninh được ví như “nước Việt Nam thu nhỏ”, có cơ hội để phát triển hiện đại, đa dạng và phong phú. Với hơn 600 danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử được xếp hạng, trong đó, Vịnh Hạ Long 3 lần được UNESCO công nhận là “Di sản thiên nhiên thế giới” về giá trị cảnh quan và địa chất. Thêm vào đó, nơi đây có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, thuận lợi để phát triển trung tâm khai khoáng, trung tâm nhiệt điện, vật liệu xây dựng của cả nước…
Tuy nhiên, hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đang đứng trước những thách thức về phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0, tỉnh Quảng Ninh phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường thông qua chiến lược chuyển dịch kinh tế từ “nâu” sang “xanh”, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng nóng, mà hướng đến phát triển bền vững, hài hòa lợi ích kinh tế và môi trường.
Tỉnh đầu tư vào các giải pháp kiểm soát ô nhiễm, xây dựng hệ thống quan trắc môi trường, chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học, ưu tiên “xanh hóa” các ngành kinh tế, đặc biệt là ngành than và du lịch, bằng cách đầu tư công nghệ mới, cải tạo môi trường, phục hồi hệ sinh thái biển và phát triển du lịch bền vững dựa trên nguyên tắc kinh tế tuần hoàn và nâng cao chất lượng sống cho người dân.
1.Đa dạng sinh học gắn với bảo vệ môi trường
Tỉnh Quảng Ninh có chiều dài bờ biển là 250km, vùng biển rộng hơn 6.000km2, vì vậy, việc xác định bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học là nhiệm vụ mang tính chiến lược gắn với phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Với quyết tâm bảo vệ nguồn lợi thủy sản, chống đánh bắt tận diệt, góp phần tái tạo các loài thủy sản tự nhiên, ngày 1-9-2017, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị số 18 về tăng cường công tác quản lý khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; ban hành Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 nhằm bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, các loài và nguồn gen nguy cấp, quý hiếm; Nghị quyết số 12, ngày 12-3-2018 về bảo vệ môi trường tỉnh giai đoạn 2018 - 2022; Nghị quyết số 10 ngày, 26-9-2022 về tăng cường sự lãnh đạo đối với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh nguồn nước giai đoạn 2022 - 2030.
Trên cơ sở pháp lý này, tỉnh Quảng Ninh không có tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài bị lực lượng nước ngoài bắt giữ, xử lý. Toàn bộ 100% tàu cá có chiều dài từ 6m trở lên (4.574 tàu) được cập nhật thông tin vào phần mềm cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia Vnfishbase. 100% tàu cá có chiều dài từ 15m trở lên (233 tàu) đều lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS). Các hộ nuôi trồng thủy sản ở Vân Đồn chuyển đổi phao xốp sang phao nhựa HDPE.
Tỉnh Quảng Ninh cũng luôn quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường với nhiều dự án được triển khai đồng bộ và hiệu quả. Thông qua những dự án này, đã giúp cho tỉnh Quảng Ninh có thêm những dữ liệu về sinh vật, sinh thái quan trọng để nhận định và phát triển, bảo vệ bền vững, qua đó giúp cho công tác quản lý tốt hơn.
Cùng với đó, để cụ thể hóa các nghị quyết, quy hoạch, tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chức năng thành lập Khu rừng đặc dụng bảo vệ cảnh quan Vịnh Hạ Long và hướng tới nâng cấp thành Vườn Quốc gia; đề xuất công nhận Khu bảo tồn đất ngập nước Đồng Rui là khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (Khu Ramsar); phê duyệt quy hoạch chi tiết khu bảo tồn biển Cô Tô, Đảo Trần; thông qua đề án thành lập Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Quảng Nam Châu…
Bước vào giai đoạn phát triển mới, tỉnh tiếp tục rà soát, tăng cường đầu tư mở rộng hệ thống quan trắc tự động đến tất cả các nguồn phát thải; đẩy nhanh xã hội hóa đầu tư các nhà máy xử lý rác thải, nước thải ứng dụng công nghệ hiện đại; kiên quyết thu hồi giấy phép với các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm kéo dài; đẩy mạnh chương trình kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi xanh, ứng dụng năng lượng tái tạo.
Với cách làm bài bản, quyết liệt, kiên định mục tiêu tăng trưởng xanh, tỉnh Quảng Ninh đang tạo dựng hình ảnh là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư công nghệ cao, thân thiện môi trường; trở thành hình mẫu địa phương phát triển nhanh nhưng vẫn giữ vững môi trường sống trong lành cho nhân dân.
2. Phát triển kinh tế rừng gắn với bảo vệ môi trường
Xác định lâm nghiệp là ngành kinh tế - kỹ thuật đặc thù với chu kỳ sản xuất dài, tỉnh Quảng Ninh đã tăng cường công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch ba loại rừng theo Quyết định số 646/QĐ-UBND, ngày 5-3-2025, của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt kết quả theo dõi diễn biến rừng và công bố hiện trạng rừng tỉnh Quảng Ninh năm 2024.
Để phát triển kinh tế rừng bền vững, gắn với bảo vệ môi trường, tỉnh đang thực hiện các giải pháp phát triển lâm nghiệp bền vững theo chiến lược, quy hoạch, đề án đã và đang thực hiện, đồng thời tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phục hồi, tái thiết và phát triển lâm nghiệp bền vững trên cơ sở quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên rừng; hài hòa các mục tiêu về kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường; đưa lâm nghiệp thực sự trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, liên kết theo chuỗi từ phát triển rừng, bảo vệ rừng, sử dụng rừng đến chế biến và thương mại lâm sản để nâng cao giá trị rừng, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, phát huy tiềm năng về khí hậu, đất đai và lợi thế so sánh của các vùng, miền, bảo đảm hài hòa lợi ích quốc gia, địa phương và lợi ích của người dân.
Tỉnh Quảng Ninh tập trung nâng cao chất lượng, giá trị đa dụng của rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên nhằm phát huy tốt chức năng của từng loại rừng, bảo tồn hệ sinh thái rừng, đa dạng sinh học, tăng cường trữ lượng các-bon của rừng và phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường.
Cùng với đó, tỉnh Quảng Ninh đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ cao, hiện đại trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, phát hiện sớm mất rừng, cháy rừng hiệu quả, duy trì chế độ thường trực công tác phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định.
Để phát triển rừng bền vững gắn với bảo vệ môi trường, ngày 26-9-2022, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TU về tăng cường sự lãnh đạo đối với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh nguồn nước giai đoạn 2022 - 2030.
Năm 2025, toàn tỉnh phấn đấu trồng rừng tập trung đạt 31.847 ha, gồm 2.724 ha rừng phòng hộ và 29.123 ha rừng sản xuất, gấp 2,4 lần so với chỉ tiêu trồng rừng năm 2024, thể hiện sự quyết tâm cao của tỉnh trong công tác phát triển, khôi phục sản xuất lĩnh vực lâm nghiệp.
Đến hết quý I-2025, toàn tỉnh đã trồng 15.332,9 ha rừng tập trung, tăng 410% so với cùng kỳ, bằng 97,9% so với kế hoạch Ủy ban nhân dân tỉnh giao trong quý I-2025 và bằng 48,1% kế hoạch năm 2025, trong đó diện tích trồng rừng lim, giổi, lát đạt 63,04 ha.
Rừng của tỉnh Quảng Ninh không chỉ có vị trí đặc biệt quan trọng trong phòng hộ, bảo vệ đầu nguồn, vùng ven biển, bảo tồn đa dạng sinh học, tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm chiến lược an ninh nguồn nước, mà còn đóng vai trò quan trọng gắn với chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”; cân bằng hài hòa giữa phát triển công nghiệp, khai khoáng và bảo vệ môi trường.
Đặc biệt, Đề án thành lập Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Quảng Nam Châu được thực hiện theo Quyết định số 2633/QĐ-UBND, ngày 31-7-2020, của Ủy ban nhân dân tỉnh do Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp với Trung tâm Viễn thám và Công nghệ thông tin (Viện Điều tra, quy hoạch rừng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường) triển khai, quy mô gần 17.000 ha trên địa bàn 7 xã thuộc 3 huyện cũ (Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà), với mục tiêu nhằm đánh giá các hệ sinh thái rừng tự nhiên, các giá trị cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học và khắc phục những khó khăn, hạn chế trong công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, tăng cường bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn.
Qua đó góp phần tạo điều kiện cho các địa phương phát triển lâm nghiệp bền vững. Song song với đó, tỉnh Quảng Ninh tập trung cho công tác phát triển rừng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, bảo đảm an ninh nguồn nước.
3.Phát triển kinh tế du lịch gắn với bảo vệ môi trường
Tỉnh Quảng Ninh có nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, nổi bật là Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới đã được UNESCO công nhận 3 lần; khu di tích danh thắng Yên Tử, một trong những khu du lịch tâm linh nổi tiếng của miền Bắc, cùng hơn 600 di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh khác…
Tất cả đã làm nền tảng để tỉnh Quảng Ninh xây dựng gần 100 khu, điểm du lịch, gồm 1 khu du lịch quốc gia Trà Cổ - Móng Cái, 5 khu du lịch cấp tỉnh và 91 điểm du lịch đã được công nhận theo Luật Du lịch. Trong đó nhiều khu, điểm du lịch đã trở thành điểm đến hấp dẫn, đón hàng triệu du khách trong nước và quốc tế mỗi năm. Du lịch quá mức, suy thoái môi trường và việc biến các hoạt động văn hóa thành hàng hóa có thể làm suy yếu chính các nguồn tài nguyên mà ngành du lịch muốn thúc đẩy. Ví dụ, Vịnh Hạ Long phải đối mặt với các mối đe dọa ô nhiễm môi trường do các hoạt động du lịch...
Để giải quyết những thách thức này, cần phải cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, cũng như bảo đảm rằng di sản du lịch vẫn bền vững cho các thế hệ tương lai. Sự cấp thiết cần phải giải quyết những vấn đề này yêu cầu nền kinh tế cần phải định hướng với tầm nhìn bền vững, bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp. Câu chuyện phát triển của Vịnh Hạ Long, là một trong những ví dụ trực quan nhất về bài toán kinh tế bền vững.
Là một địa danh du lịch với lượng khách du lịch lên đến hàng triệu lượt hằng năm, Vịnh Hạ Long đã đóng góp nguồn thu đáng kể cho tỉnh Quảng Ninh, nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với vấn đề rác thải, ô nhiễm nước, phá hủy môi trường sống của sinh vật và tình trạng quá tải du lịch.
Trong thời kỳ Cách mạng Công nghiệp 4.0, du lịch tỉnh Quảng Ninh ngày càng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đồng bộ, hiện đại đã tạo đòn bẩy để du lịch phát triển mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, tỉnh đã đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về du lịch, từ việc xây dựng, quản lý và triển khai thực hiện quy hoạch du lịch đến hoạt động thanh tra, kiểm tra bảo đảm môi trường kinh doanh du lịch lành mạnh.
Với mục tiêu phục hồi nhanh và đẩy mạnh phát triển du lịch, xây dựng tỉnh Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch kết nối với khu vực và quốc tế, địa bàn trọng điểm du lịch hàng đầu quốc gia, trung tâm nghỉ dưỡng, giải trí cao cấp…, ngày 8-8-2023, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 2256/QĐ-UBND phê duyệt Đề án Phục hồi và phát triển bền vững ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Trong đó, phấn đấu đến năm 2030 phát triển ngành du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và bền vững, khẳng định vai trò là một trung tâm du lịch kết nối khu vực và quốc tế, một trọng điểm du lịch hàng đầu của quốc gia, phấn đấu đón được ít nhất 25,5 triệu - 26 triệu lượt khách du lịch, trong đó có ít nhất 8,6 - 9 triệu lượt khách du lịch quốc tế; tốc độ tăng trưởng bình quân về khách du lịch giai đoạn 2025 - 2030 đạt 10% - 11%/năm; đóng góp trực tiếp 15% vào GRDP, tạo việc làm cho khoảng 410.000 lao động, trong đó có 130.000-140.000 lao động trực tiếp.
Việc duy trì sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là một thách thức lớn, nhất là khi du lịch trở thành một ngành kinh tế quan trọng. Sự phát triển nhanh chóng, đặc biệt là ngành du lịch, đã gia tăng áp lực lên môi trường và đặt ra vấn đề quản lý rác thải, nước thải.
Tỉnh Quảng Ninh hiện đang chịu áp lực từ sự phụ thuộc quá mức vào ngành du lịch mà sự phụ thuộc này sẽ dần tạo ra sự không ổn định cho nền kinh tế tỉnh. Đối diện với những vấn đề hiện tại, việc đa dạng hóa kinh tế để tạo ra nguồn thu nhập bền vững là một thách thức cần được ưu tiên. Tỉnh Quảng Ninh cần xây dựng một nền kinh tế đa dạng, không chỉ tập trung vào du lịch.
Trước thách thức của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, ngành du lịch đã có những giải pháp để phát triển bền vững. Việc phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ mới sẽ giúp tạo ra nhiều công việc và nguồn thu nhập mới. Yêu cầu trong giai đoạn mới đòi hỏi phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh, bền vững, gắn với bảo vệ môi trường; đa dạng các loại hình, sản phẩm, hình thành nhiều sản phẩm du lịch đẳng cấp.
Thách thức của việc duy trì, phát triển du lịch nhưng không gây hại cho môi trường, tỉnh có thể vượt qua thông qua việc phát triển các hình thức du lịch bền vững, như du lịch sinh thái và văn hóa. Phát triển du lịch bền vững trên nền tảng tăng trưởng xanh là yêu cầu xuyên suốt trong các chính sách, chiến lược, quy hoạch của tỉnh Quảng Ninh.
Theo đó, phải phát huy tối đa tiềm năng sẵn có, tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo; gắn phát triển du lịch với bảo tồn, phát huy các giá trị, bản sắc văn hóa dân tộc; quản lý, khai thác bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học. Phát triển hình thức du lịch bền vững và tăng cường giáo dục văn hóa cho du khách có thể giúp bảo vệ nguồn lực và giữ gìn bản sắc văn hóa của địa phương….
Theo đó, quảng bá và phát triển các hình thức du lịch có thể tạo ra lợi ích lâu dài cho cả quần thể địa phương và du lịch. Phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn khi kết hợp chặt chẽ với công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp và phát triển kinh tế biển…
4. Phát triển công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường
Trong quá trình phát triển kinh tế, tỉnh Quảng Ninh xác định công nghiệp là một trong những ngành kinh tế trụ cột, đóng vai trò then chốt trong chuyển dịch cơ cấu và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế địa phương. Tỉnh Quảng Ninh có tiềm năng tài nguyên thiên nhiên đa dạng bậc nhất cả nước, đặc biệt là về khoáng sản, biển và rừng.
Nguồn lực này phục vụ phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm, như khai thác - chế biến than, năng lượng, vật liệu xây dựng, công nghiệp ven biển… Đó là:
(i) Khoáng sản than - lợi thế độc tôn với trữ lượng lớn, tập trung tại Hạ Long, Cẩm Phả, Đông Triều, Uông Bí... Than đá không chỉ phục vụ sản xuất điện mà còn là đầu vào quan trọng cho các ngành công nghiệp chế biến sâu, luyện kim, hóa chất;
(ii) Tài nguyên biển và ven biển thuận lợi phát triển các ngành công nghiệp chế biến thủy sản, đóng tàu, logistics cảng biển và công nghiệp ven biển. Vùng biển Hải Hà, Móng Cái, Vân Đồn... được quy hoạch phát triển thành trung tâm công nghiệp - dịch vụ cảng và đô thị ven biển;
(iii) Tài nguyên đất và nguyên liệu cho vật liệu xây dựng là nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp xi măng, gốm sứ, vật liệu xây dựng mới;
(iv) Tiềm năng năng lượng tái tạo là tiền đề để tỉnh Quảng Ninh phát triển các khu công nghiệp sử dụng năng lượng sạch, giảm phát thải các-bon.
Do yêu cầu phát triển bền vững, tỉnh Quảng Ninh đã và đang thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc chuyển dịch mô hình tăng trưởng công nghiệp từ “nâu” sang “xanh”. Đây là bước đi chiến lược để bảo đảm phát triển công nghiệp hiệu quả, phù hợp với xu thế toàn cầu, như:
(i) Chủ trương đóng cửa mỏ than lộ thiên, hạn chế công nghiệp ô nhiễm;
(ii) Ưu tiên thu hút công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch;
(iii) Yêu cầu cao về đánh giá môi trường trong quy hoạch và đầu tư;
(iv) Ứng dụng chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn trong sản xuất.
Tuy nhiên, việc phát triển công nghiệp nhanh chóng đã gây áp lực lớn lên môi trường, như ô nhiễm không khí, nước ở các khu vực khai thác than và ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ sinh thái nhạy cảm như rừng ngập mặn và các khu vực biển ven bờ.
Cụ thể: Một số doanh nghiệp và cơ quan quản lý chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của kinh tế xanh, dẫn đến việc triển khai các chính sách và dự án liên quan chưa hiệu quả. Việc thiếu kinh nghiệm và kiến thức về kinh tế xanh cũng gây khó khăn trong việc áp dụng các mô hình phát triển bền vững.
Thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh đã tăng dần sản lượng khai thác than hầm lò và hiện đại hóa công nghệ khai thác; các đơn vị sản xuất xi măng, nhiệt điện đã triển khai lắp đặt công tơ điện tử đo điện năng tiêu thụ độc lập của hệ thống lọc bụi tĩnh điện ở các vị trí thuận lợi giúp cơ quan quản lý và người dân dễ dàng giám sát.
Một số đơn vị còn đầu tư lắp đặt hoàn thiện hệ thống quan trắc môi trường tự động; đầu tư, nâng cấp hệ thống xử lý khí bụi; tận dụng tro, xỉ thải nhiệt điện làm nguyên liệu sản xuất gạch không nung..., góp phần giảm thiểu phát thải ô nhiễm môi trường, tiết kiệm tài nguyên.
Nhờ được đầu tư nguồn lực tài chính một cách thỏa đáng, môi trường ngày càng được cải thiện, mức độ ô nhiễm môi trường ở nhiều khu vực được kiểm soát, việc thu gom xử lý rác thải, nước thải tập trung tại các trung tâm đô thị có nhiều chuyển biến tích cực. Ô nhiễm môi trường không khí đã được kiểm soát chặt chẽ hơn thông qua hệ thống quan trắc môi trường tự động.
Ngoài việc chủ động yêu cầu các đơn vị sản xuất công nghiệp thực hiện nghiêm túc Luật Bảo vệ môi trường, tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành, các địa phương thường xuyên tuyên truyền, yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các nội dung đã cam kết tại báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt.
Cùng với đó, tỉnh cũng yêu cầu các cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn chủ động, tích cực đổi mới công nghệ khai thác, triển khai nhiều giải pháp bảo vệ môi trường. Tích cực chủ động trong chỉ đạo, phối hợp, tạo điều kiện để các doanh nghiệp ngành than hoàn thiện xây dựng và vận hành các trạm xử lý nước thải tập trung; đầu tư hệ thống ép bùn, lắng lọc và sử dụng tuần hoàn nước, cơ bản không thải ra môi trường.
Đồng thời, tỉnh cũng chủ động giám sát, theo dõi các doanh nghiệp trong việc thực hiện lộ trình cải tạo phục hồi môi trường cho các khu vực khai trường, bãi thải cũ đã ngừng hoạt động; thực hiện thay đổi công nghệ đổ thải, có đê chắn chân bãi thải để bảo vệ khu dân cư và các công trình hạ tầng xung quanh; có công trình thu gom nước chảy tràn bề mặt đưa về khu vực xử lý…
Nhờ vào việc tăng cường các giải pháp hạn chế ô nhiễm môi trường từ các đơn vị sản xuất công nghiệp, đã có nhiều tín hiệu tích cực từ các đơn vị sản xuất trong nỗ lực bảo vệ môi trường của tỉnh. Một số đơn vị sản xuất xi măng đã nghiên cứu, thử nghiệm xử lý chất thải công nghiệp thông thường tại nhà máy; tận dụng tro, xỉ thải nhiệt điện làm nguyên liệu sản xuất gạch không nung..., góp phần giảm thiểu phát thải ô nhiễm môi trường, tiết kiệm tài nguyên trên địa bàn.
Các chủ nguồn thải thuộc đối tượng phải thực hiện lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường tự động theo quy định tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và Nghị định số 08/2022/NĐ-CP của Chính phủ đều hầu hết đều lắp đặt, vận hành và truyền số liệu về Sở Tài nguyên và Môi trường (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường) để theo dõi, giám sát.
Thực hiện Nghị quyết số 12-NQ/TU, ngày 12-3-2018, của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh; Chương trình hành động số 68/CTr-UBND, ngày 12-4-2018, của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh về bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2018 - 2022; Quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Đảng ủy Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (viết tắt là Tập đoàn) và Đảng ủy Than Quảng Ninh đã ban hành Nghị quyết liên tịch số 33-NQLT/ĐUTKVĐUTQN, ngày 18-4-2018 về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng trong thực hiện công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2018 - 2020; Đảng ủy Tập đoàn ban hành Nghị quyết số 27/NQ-ĐU, ngày 13-4-2022 về tăng cường lãnh đạo thực hiện công tác bảo vệ môi trường giai đoạn đến năm 2025 định hướng tới năm 2030 để chỉ đạo thực hiện trong toàn Tập đoàn, nhất là trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Trên cơ sở định hướng trọng tâm đó, Tập đoàn đã chủ động và tích cực tham gia vào quá trình chuyển đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính sang mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa phát thải ròng về “0” (Net zero) vào năm 2050.
Thời gian qua, Tập đoàn đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, thực hiện chuyển đổi mô hình kinh tế từ “nâu” sang “xanh” theo chủ trương của tỉnh Quảng Ninh, hướng tới phát triển bền vững, giảm phát thải ròng theo đúng các cam kết của Chính phủ tại COP 26, COP 28.
Cụ thể như:
(i) Chuyển dịch đầu tư đổi mới công nghệ khai thác theo hướng cơ giới hóa, thông minh hóa trong khai thác hầm lò (cột chống thủy lực, dàn chống thủy lực, máy khấu...), đầu tư đồng bộ thiết bị công suất lớn trong khai thác lộ thiên (máy xúc dung tích gầu xúc lớn 10 - 12m3, ô tô tải trọng 90 - 100 tấn...) góp phần giảm tiêu hao gỗ chống lò, giảm tổn thất than, giảm phát sinh bụi, khí thải...
Khâu sàng tuyển, chế biến than được đầu tư thiết bị lọc ép bùn công suất lớn để tăng tỷ lệ thu hồi, toàn bộ nước công nghệ được tuần hoàn tái sử dụng, không phát thải ra môi trường; đầu tư hệ thống băng tải vận chuyển than ra cảng thay thế ô tô, hạn chế tối đa sự phát sinh bụi, tiếng ồn, khí thải; sử dụng hệ thống biến tần điều khiển cho các thiết bị điện có công suất lớn để tiết kiệm điện; tận thu, sử dụng hiệu quả tài nguyên thông qua chế biến sâu, triệt để các loại than chất lượng xấu ngoài tiêu chuẩn.
Tập đoàn đã dừng hoạt động nhà máy tuyển than Nam Cầu Trắng để bảo đảm môi trường sinh thái cho phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Hạ Long;
(ii) Tro xỉ, bùn thải được thu gom và quản lý theo đúng quy định, đồng thời thực hiện nghiêm quy trình phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường đối với chất thải.
Hệ thống xử lý khí thải, lọc bụi tĩnh điện được đầu tư đồng bộ cùng dây truyền sản xuất, kiểm soát tự động, liên tục bảo đảm tiêu chuẩn trước khi xả thải ra môi trường và được các cơ quan quản lý xác nhận trước khi đưa vào vận hành.
Triển khai áp dụng Tiêu chuẩn ISO 14001 về Hệ thống quản lý môi trường cho các nhà máy để nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm soát ô nhiễm môi trường;
(iii) Vận hành đồng bộ và hiệu quả 54 trạm xử lý nước thải mỏ với khối lượng xử lý hằng năm đạt trên 150 triệu m3, các trạm xử lý đều được lắp đặt hệ thống điều khiển liên động cùng với hệ thống quan trắc tự động liên tục để giám sát chất lượng nước thải được xử lý, bảo đảm toàn bộ nước thải mỏ được xử lý triệt để và đáp ứng tiêu chuẩn xả thải trước khi xả thải ra môi trường;
(iv) Duy trì tốt hoạt động của Nhà máy xử lý chất thải nguy hại công nghiệp của Tập đoàn tại Quảng Ninh, hằng năm xử lý trên 3.600 tấn chất thải nguy hại của các đơn vị thành viên, loại trừ nguy cơ sự cố môi trường do vận chuyển chất thải liên tỉnh, trong đó trên 50% sản phẩm sau xử lý được tái sử dụng cho sản xuất; tro xỉ nhiệt điện được tái sử dụng trên 27% tương ứng trên 600.000 m3/năm làm vật liệu xây dựng và san lấp nền, phần còn lại được quản lý, đổ thải theo đúng quy định; các loại chất thải khác phát sinh trong sản xuất đều được thu gom, xử lý theo đúng quy định; thường xuyên tăng cường phun tưới nước dập bụi, vệ sinh môi trường; vận hành hiệu quả trên 118 thiết bị phun sương dập bụi cao áp cùng các loại xe tưới đường và hệ thống dập bụi khác, giảm thiểu tối đa sự phát thải của bụi ra môi trường xung quanh; chú trọng các giải pháp trồng cây phủ xanh, cải tạo, phục hồi môi trường và cảnh quanh.
Tính đến hết năm 2023, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Tập đoàn đã trồng trên 1.800 ha, tổ chức có hiệu quả công tác chăm sóc và duy trì sự phát triển, tăng trưởng của cây trồng.
Cùng với đó, hằng năm tiến hành trồng mới từ 200 - 250ha (tương ứng trên 1 triệu cây xanh/năm), thúc đẩy cải thiện cảnh quan môi trường nơi sản xuất và làm việc, từng bước hiện thực hóa mục tiêu “Xanh hóa môi trường khai thác mỏ” và định kỳ củng cố đê đập, nạo vét thường xuyên hố lắng trước đập để bảo đảm hiệu quả tích chứa đất đá trôi, ngăn chặn hiện tượng bồi lấp.
Triển khai mạnh mẽ và hoàn chỉnh việc chuyển đổi số doanh nghiệp để tăng hiệu quả quản lý và giám sát các công đoạn sản xuất, qua đó giúp tiết kiệm nguyên, nhiêu liệu và sử dụng năng lượng hiệu quả…
5. Giải pháp
Với những thành quả nổi bật, như: (i) Chỉ số xanh cao: tỉnh Quảng Ninh đạt Chỉ số xanh cấp tỉnh (PGI) cao nhất cả nước vào năm 2023, thể hiện cam kết mạnh mẽ với phát triển bền vững; (ii) Môi trường biển được cải thiện: Sự phục hồi của hệ sinh thái biển với sự xuất hiện của các loài thủy hải sản quý, như rùa biển, cá voi, cá heo, cho thấy môi trường biển đang ngày càng tốt hơn; (iii) Ghi nhận từ cộng đồng: tỉnh Quảng Ninh được nhiều chuyên gia và nhà đầu tư đánh giá cao về khả năng hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, hạn chế tối đa xung đột giữa hai yếu tố này.
Trên cơ sở này, bài viết đưa ra giải pháp chung và cụ thể nhằm hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh Quảng Ninh như sau:
5.1. Giải pháp chung
Đẩy mạnh chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng truyền thống, phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, sang mô hình tăng trưởng xanh, gắn chặt lợi ích kinh tế với bảo vệ môi trường (Chuyển đổi mô hình tăng trưởng). Chú trọng phát triển kinh tế rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và phục hồi hệ sinh thái (Bảo vệ rừng và đa dạng sinh học).
Tiến hành các giải pháp bao gồm quản lý chặt chẽ hành lang bảo vệ bờ biển, phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững và xử lý nghiêm các vi phạm về môi trường biển (Bảo vệ môi trường biển). Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đầu tư mạnh vào các giải pháp bảo vệ môi trường, như kết thúc đổ thải, cải tạo và trồng cây phủ xanh các bãi thải.
Đầu tư hệ thống thiết bị chống bụi hiệu quả và xây dựng hệ thống giám sát môi trường được kết nối thống nhất (Xanh hóa ngành than). Đầu tư kết cấu hạ tầng du lịch hiện đại để tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn, mang bản sắc riêng. Thúc đẩy việc giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo đảm Vịnh Hạ Long luôn xanh - sạch - đẹp (Phát triển du lịch bền vững). Chú trọng công tác bảo vệ môi trường biển, xử lý chất thải rắn ở các khu vực đảo và ven biển.
Đẩy mạnh bảo tồn đa dạng sinh học, với nhiều loài thủy hải sản phục hồi (Bảo vệ môi trường biển và đa dạng sinh học). Thay đổi quy hoạch khu công nghiệp truyền thống sang mô hình “hệ sinh thái công nghiệp”, kết hợp công nghiệp hóa, dịch vụ hóa, đô thị hóa và bảo vệ môi trường theo nguyên tắc kinh tế tuần hoàn (Phát triển hệ sinh thái công nghiệp).
Tăng cường thanh, kiểm tra định kỳ và đột xuất, giám sát các hoạt động du lịch và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm để bảo đảm sự tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường (Tăng cường giám sát và quản lý).
5.2. Giải pháp cụ thể
Thứ nhất, tạo điều kiện tiếp cận các chương trình tư vấn và chuyển giao công nghệ xanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các cơ quan chức năng cần thiết lập hệ thống giám sát môi trường chặt chẽ tại các khu vực nhạy cảm, như Vịnh Hạ Long, rừng ngập mặn Đồng Rui và các khu công nghiệp. Việc áp dụng công nghệ số (IoT, big data) để theo dõi chất lượng nước, không khí và xử lý chất thải sẽ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực từ các hoạt động kinh tế truyền thống. Việc quy hoạch các khu vực bảo tồn, phát triển du lịch và khu công nghiệp cần bảo đảm không chồng chéo.
Thúc đẩy phát triển các tour du lịch sinh thái tại các khu vực, như Vườn quốc gia Bái Tử Long, rừng ngập mặn Đồng Rui và các làng chài ven biển. Các tour này cần kết hợp giữa khám phá thiên nhiên và giáo dục bảo tồn, đồng thời hạn chế số lượng du khách để giảm áp lực lên môi trường. Cần xây dựng các nền tảng số để quảng bá và quản lý du lịch.
Ví dụ, du khách có thể sử dụng ứng dụng để đặt vé tham quan, kiểm tra thông tin về chất lượng không khí hoặc nước tại các điểm đến như Vịnh Hạ Long. Điều này không chỉ giúp nâng cao trải nghiệm mà còn giảm thiểu tác động lên môi trường.
Thứ hai, tỉnh cần thu hút đầu tư vào các dự án, như điện mặt trời, điện gió và năng lượng từ sinh khối. Chẳng hạn, các đảo du lịch, như Cô Tô hoặc Quan Lạn có thể phát triển mô hình điện mặt trời phục vụ nhu cầu năng lượng tại chỗ, giảm phụ thuộc vào điện từ đất liền.
Còn các doanh nghiệp trong lĩnh vực khai thác và chế biến cần đầu tư vào công nghệ xử lý chất thải và tái chế. Ví dụ, ngành than có thể triển khai công nghệ tái sử dụng nước thải mỏ hoặc thu hồi khí mê tan từ mỏ than để sản xuất năng lượng.
Thứ ba, ban hành Bộ tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, ưu tiên các dự án công nghiệp xanh, công nghệ cao, sử dụng nhiều lao động kỹ thuật. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa công nghiệp phụ trợ tiếp cận tín dụng, mặt bằng, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực.
Giảm dần tỷ trọng khai thác tài nguyên - nhất là than - để chuyển sang công nghiệp chế biến - chế tạo, năng lượng tái tạo, vật liệu mới. Hình thành mô hình khu công nghiệp thông minh, khu công nghiệp sinh thái, tích hợp đô thị - dịch vụ - sản xuất tuần hoàn.
Kết luận
Với vị trí địa lý chiến lược, hệ thống hạ tầng hiện đại, quỹ đất công nghiệp dồi dào và môi trường đầu tư cải cách mạnh mẽ, tỉnh Quảng Ninh đang từng bước khẳng định vai trò là một trong những trung tâm công nghiệp năng động và tiềm năng nhất vùng Đông Bắc và cả nước.
Tuy nhiên, quá trình phát triển công nghiệp cũng đang đối mặt với nhiều thách thức, như cơ cấu ngành chưa cân đối, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, công nghiệp phụ trợ chưa phát triển và áp lực chuyển đổi mô hình tăng trưởng xanh.
Trong bối cảnh đó, việc triển khai đồng bộ các giải pháp, như hoàn thiện hạ tầng khu công nghiệp, nâng cao chất lượng thể chế - thủ tục, phát triển nhân lực, tái cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng bền vững và đẩy mạnh xúc tiến đầu tư là nền tảng quan trọng để tỉnh Quảng Ninh phát triển công nghiệp theo chiều sâu, nâng cao năng suất - giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh dài hạn.
Việc chuyển đổi sang nguồn năng lượng sạch và tái tạo sẽ giúp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và bảo đảm nguồn cung ổn định cho sự phát triển kinh tế, nhằm giảm sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng hóa thạch.
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đem lại những tác động to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường. Nó tác động với tất cả các cấp độ trên toàn cầu, từng khu vực trong từng quốc gia. Các tác động này rất tích cực trong dài hạn, song cũng tạo ra nhiều thách thức điều chỉnh trong ngắn đến trung hạn.
Cuộc cách mạng này đã mở ra cơ hội cho từng cá nhân, tổ chức và từng dân tộc. Quốc gia nào tận dụng được, phát triển đúng trọng tâm, trọng điểm sẽ vượt lên, nếu không sẽ bị tụt lại. Đây là một thách thức không nhỏ cho nước ta nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng, không chỉ trong phát triển kinh tế mà cả trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Chính vì vậy, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2025 - 2030 đã đề ta mục tiêu phấn đấu xây dựng tỉnh Quảng Ninh giàu mạnh, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030, là vùng đô thị lớn mang tầm khu vực, quốc tế vào năm 2045 với phương châm: “Phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng”10)./.
