Phát triển kinh tế biển trong bối cảnh rủi ro địa - chính trị và biến đổi khí hậu
Trong bối cảnh tăng trưởng toàn cầu chậm lại và các nguồn lực trên đất liền dần cạn kiệt, đại dương trở thành không gian phát triển mới, đầy hứa hẹn cho phục hồi kinh tế. Thế nhưng, những rủi ro địa - chính trị và biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức phức tạp, đòi hỏi tiếp cận toàn diện.

Thế kỷ của đại dương và kinh tế biển
Kinh tế biển, hay còn gọi là “nền kinh tế xanh”, đang trở thành trọng tâm kinh tế và ưu tiên chính sách của nhiều quốc gia có biển trên thế giới.
Theo Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), kinh tế biển gắn liền với việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên đại dương cho tăng trưởng kinh tế, việc làm và hòa nhập xã hội, đồng thời bảo tồn, phục hồi sức khỏe của các hệ sinh thái đại dương.
Do đó, phát triển kinh tế biển không chỉ là khai thác các nguồn tài nguyên, mà còn bảo đảm các hoạt động kinh tế không gây tác hại đối với hệ sinh thái biển.
Kinh tế biển trở thành chiến lược chủ yếu của các quốc gia có biển với các hoạt động kinh tế đa dạng từ du lịch biển, đánh bắt hải sản, khai thác dầu khí, vận tải hàng hải đến phát triển năng lượng biển, xây dựng cảng xanh, khai thác khoáng sản biển sâu và phát triển công nghệ biển.
Đối với các quốc gia có biển, đại dương là nguồn lực cho phục hồi và thịnh vượng kinh tế. Nhận thức về tầm quan trọng của nguồn lực đại dương, Mục tiêu phát triển bền vững 14 được tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc thông qua vào năm 2015 hướng tới “quản lý và bảo vệ hệ sinh thái bờ biển và đại dương một cách bền vững”.
Theo báo cáo Tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai đối với kinh tế biển và sinh kế của Tổ chức Di dân quốc tế (năm 2022), kinh tế biển đóng góp khoảng 3,5 đến 7% tổng GDP toàn cầu và tạo sinh kế cho khoảng 8% tổng dân số toàn cầu. Kinh tế biển và du lịch bờ biển cũng đóng góp khoảng 161 tỷ USD cho nền kinh tế hằng năm.
Bên cạnh đó, báo cáo Kinh tế biển và các giải pháp thuận tự nhiên của UNDP (năm 2023) còn cho biết, đại dương góp phần điều hòa khí hậu thông qua việc hấp thụ khoảng 30% lượng khí thải CO2 do con người tạo ra và 93% nhiệt lượng dư thừa.
Bên cạnh các hoạt động kinh tế truyền thống như đánh bắt hải sản, vận tải đường biển, sự chuyển đổi sang kinh tế biển mở ra nhiều hướng đi mới đầy tiềm năng. Một số ngành kinh tế mới nổi bao gồm phát triển năng lượng tái tạo biển, công nghệ sinh học biển, khai thác khoáng sản biển sâu và khử mặn nước biển.
Năng lượng tái tạo biển là nguồn năng lượng sạch, khai thác gió ngoài khơi, sóng và thủy triều. Na Uy là một trong những quốc gia được coi là hình mẫu toàn cầu về phát triển kinh tế biển, kết hợp giữa khai thác tài nguyên hiệu quả và bảo vệ môi trường nghiêm ngặt. Năm 2006, Na Uy thông qua Kế hoạch Biển Barents nhằm quản lý, bảo vệ hệ sinh thái và khai thác bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại vùng biển quan trọng này.
Mục tiêu cốt lõi của Na Uy là bảo đảm nền tảng cho sự cùng tồn tại và phát triển của các ngành công nghiệp như đánh bắt, dầu khí và bảo tồn trong cùng một khu vực quy hoạch.
Theo đó, mọi quyết định được đưa ra dựa trên hiểu biết, đánh giá toàn diện, sâu sắc về tác động môi trường và kinh tế của các hoạt động trên biển. Na Uy đã thiết lập các khu bảo tồn nghiêm ngặt, nơi không chỉ áp dụng các quy định khắt khe về khai thác mà còn phục vụ cho nghiên cứu, giám sát thay đổi môi trường, từ đó kịp thời điều chỉnh các chính sách quản lý.
Bên cạnh đó, Na Uy còn tận dụng đường bờ biển dài và điều kiện thời tiết thuận lợi để phát triển điện gió ngoài khơi và năng lượng sóng, giúp giảm phát thải khí nhà kính.
Nhận thức được tiềm năng phát triển kinh tế biển, các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu (EU), New Zealand, Singapore,... đều xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển. New Zealand xếp thứ nhất về chỉ số Quản trị ven biển nhờ thực hiện chính sách bao trùm, có sự tham gia của cộng đồng vào quá trình ra quyết định, đồng thời thiết lập các khu vực quản lý nghề cá hiệu quả để bảo đảm các loài cá không bị khai thác quá mức.
New Zealand cũng đa dạng hóa các loại hình kinh tế biển gồm đánh bắt truyền thống, du lịch biển, dịch vụ hàng hải, logistics và nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới từ tài nguyên biển.

Rủi ro địa - chính trị và biến đổi khí hậu
Mặc dù có tiềm năng to lớn, nhưng kinh tế biển đang đứng trước những thách thức địa - chính trị và biến đổi khí hậu chưa từng có. Trước hết, các rủi ro, bất ổn và xung đột địa - chính trị đã và đang biến không gian hàng hải toàn cầu thành một đấu trường cạnh tranh quyền lực, có ảnh hưởng toàn diện và tiêu cực đến nền kinh tế thế giới.
Các bất ổn địa - chính trị đe dọa trực tiếp đến sự ổn định của các tuyến đường vận tải biển, vốn là huyết mạch của thương mại toàn cầu, vận chuyển khoảng 80% khối lượng hàng hóa thế giới. Các khu vực như eo biển Hormuz, eo biển Malacca và kênh đào Suez có thể trở thành các điểm nghẽn thương mại toàn cầu.
Việc Iran đóng cửa eo biển Hormuz trong thời gian vừa qua đã ảnh hưởng trực tiếp đến đường vận chuyển dầu của thế giới là một ví dụ. Xung đột quân sự trong khu vực làm giảm lưu lượng giao thông qua eo biển này, buộc các tàu chở dầu phải đi vòng qua mũi Hảo Vọng, làm tăng thời gian và chi phí vận chuyển.
Nghiên cứu Mô hình trọng lực về ảnh hưởng của căng thẳng địa - chính trị của Costanza Bosone và Giovanni Stamato (năm 2023) ước tính, nếu khoảng cách địa - chính trị tăng 1% thì lưu lượng thương mại song phương sẽ giảm 10%.
Các căng thẳng và xung đột địa - chính trị còn dẫn đến việc gia tăng phí bảo hiểm, giá cước vận tải và làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bên cạnh đó, các tranh chấp, căng thẳng trên biển cản trở hoạt động khai thác tài nguyên hòa bình. Một số quốc gia đã sử dụng chiến thuật vùng xám trên biển để thực hiện các hành vi cưỡng ép, từ đó đạt được các mục tiêu chính trị và an ninh mà không vượt qua ngưỡng kích hoạt xung đột vũ trang chính thức.
Theo đó, triển khai các tàu hải cảnh và dân quân biển để bao vây hoặc cản trở hoạt động kinh tế bình thường của các quốc gia khác trên biển. Các chiến thuật vùng xám này không chỉ gây lo sợ cho ngư dân mà còn ảnh hưởng đến tâm lý của các nhà đầu tư có ý định thực hiện các dự án khai thác dầu khí trên biển.
Nếu như các rủi ro địa - chính trị gây ra tác động tức thời thì biến đổi khí hậu có ảnh hưởng lâu dài đối với kinh tế biển. Biến đổi khí hậu được coi là mối đe dọa trực tiếp và mang tính sinh tồn đối với kinh tế biển toàn cầu.
Tác động này không chỉ làm thay đổi các đặc tính vật lý và hóa học của đại dương mà còn làm gián đoạn sinh kế, đe dọa an ninh lương thực. Báo cáo chính sách Mối quan hệ giữa kinh tế đại dương và biến đổi khí hậu: Trường hợp Bồ Đào Nha của OECD (năm 2025) chỉ ra, do hiện tượng ấm lên toàn cầu, nhiệt độ mặt nước biển đã tăng khoảng 0,90C so với thời kỳ tiền công nghiệp; tốc độ ấm lên đã tăng gấp đôi tính từ năm 1993, từ đó gây ra các đợt nắng nóng biển thường xuyên và gay gắt hơn.
Hiện tượng ấm lên toàn cầu cũng khiến mực nước biển dâng với tốc độ 4,5mm/năm. Tác động của nước biển dâng mang tính đa tầng khi trước hết làm ngập lụt ven biển, xói lở bờ biển và xâm nhập mặn vào các tầng nước ngọt, kế đó ảnh hưởng đến các cơ sở hạ tầng nghỉ dưỡng ven bờ biển.
Báo cáo Động lực kinh tế đại dương: Xác định giá trị, quản trị rủi ro và thúc đẩy đầu tư của Diễn đàn Kinh tế thế giới (năm 2026) phân tích, doanh thu và giá trị bất động sản ven biển giảm khoảng 15,6% ở các khu vực rủi ro cao.
Theo báo cáo Kinh tế đại dương đến năm 2050 của OECD (năm 2025), quy mô kinh tế biển toàn cầu có thể đi theo các quỹ đạo khác nhau tùy thuộc vào nỗ lực ứng phó.
Theo kịch bản thứ nhất, nếu các xu hướng lịch sử được duy trì, kinh tế biển có thể tăng gấp 4 lần quy mô so với năm 1995 vào năm 2050, đạt giá trị khoảng 5,1 nghìn tỷ USD, nhưng kịch bản này được cho là quá lạc quan.
Kịch bản thứ hai là kinh tế biển sẽ tăng trưởng chậm nhưng bền vững, gấp khoảng 2,5 lần quy mô năm 1995, trong đó du lịch biển vẫn chiếm ưu thế.
Kịch bản thứ ba là tồi tệ nhất khi các xung đột địa - chính trị và biến đổi khí hậu không được kiểm soát, khiến kinh tế biển suy giảm, thấp hơn 20% so với mức năm 2020.
Chiến lược phát triển kinh tế biển không chỉ dựa trên không gian và nguồn lực đại dương sẵn có mà còn phụ thuộc vào khả năng quản trị những rủi ro địa - chính trị và biến đổi khí hậu. Việc phát triển kinh tế biển gắn liền với việc khai thác tài nguyên đồng thời bảo vệ hệ sinh thái đại dương.
Việc khai thác quá mức, gây ô nhiễm môi trường biển mà không có chiến lược lâu dài sẽ để lại những di họa không thể khắc phục trong tương lai.
Bài học thành công của các quốc gia như Na Uy hay New Zealand không chỉ nhờ xây dựng chiến lược bài bản, nghiêm ngặt mà còn gắn với việc đào tạo nguồn nhân lực xuất sắc về quản trị kinh tế biển./.
